Biliran
| Biliran | |
| — Tỉnh — | |
| Vị trí Biliran tại Philippines | |
| Tọa độ: 11°29′B 124°29′Đ / 11,483°B 124,483°ĐTọa độ: 11°29′B 124°29′Đ / 11,483°B 124,483°Đ | |
|---|---|
| Quốc gia | |
| Vùng | Đông Visayas (Vùng VIII) |
| Thành lập | 11/05/1992 |
| Thủ phủ | Naval |
| Chính quyền | |
| - Kiểu | Tỉnh của Philippines |
| - Tỉnh trưởng | Gerardo Espina |
| - Phó Tỉnh trưởng | Manuel Montejo |
| Diện tích | |
| - Tổng cộng | 536,01 km² (207 mi²) |
| Dân số (2007) | |
| - Tổng cộng | 150,031 |
| Múi giờ | PHT (UTC+8) |
| ZIP Code | |
| Ngôn ngữ | Tiếng Waray-Waray, Tiếng Anh |
Biliran là một trong những tỉnh nhỏ nhất ở Philippines nằm ở khu vực Đông Visayas .Là một tỉnh đảo, Biliran chỉ cách một vài km về phía bắc của đảo Leyte . Biliran vốn là một phần của tỉnh Leyte cho đến khi được tách ra vào năm 1992. Thủ phủ là Naval.
Mục lục |
Hành chính[sửa]
Biliran được chia thành 8 đô thị . Các đô thị được chia tiếp thành 132 barangay . Tất cả các đô thị ngoại trừ Maripipi đều nằm trên đảo Biliran , Maripipi là một đô thị duy nất nằm ở một hòn đảo khác phía tây bắc. Lớn nhất trong số các đô thị là thủ phủ Naval của tỉnh, trong khi nhỏ nhất là Maripipi.
Đô thị[sửa]
Nhân khẩu[sửa]
Theo điều tra dân số năm 2000 , Biliran có tổng dân số 140.274, một trong những tỉnh ít dân nhất cả nước, và nhỏ nhất trong khu vực. Có 27.907 hộ gia đình trên địa bàn tỉnh , trung bình là 5,02 người/hộ, hơi cao hơn mức trung bình toàn quốc là 4,99.
Ngôn ngữ[sửa]
Các cư dân của Biliran chủ yếu nói tiếng Waray . Tiếng Waray-Waray được nói bởi 57,80% người trên các khu vực phía đông và phía tây. Đa số dân chúng cũng nói và hiểu tiếng Tagalog và tiếng Anh .