Binh Bộ Tỉnh (Nhật Bản)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phong kiến Nhật Bản
Imperial Seal of Japan.svg

Chính trị và chính phủ
Thời kỳ phong kiến Nhật Bản


Daijō-kan
Thái Chính Quan

Tám Bộ

Thời kỳ Minh Trị,1868–1912 1868–1871
1871–1875

1875–1881
1881–1885

1885–1889
Thời kỳ Đại Chính, 1912–1926 Thời kỳ Chiêu Hòa, 1926–1989 1947

Thời kỳ Bình Thành, 1989–nay

Binh Bộ Tỉnh (Nhật: 兵部省 Hyōbu-shō?) là một bộ trong Triều đình Nhật Bản thời phong kiến. Nó được hình thành trong cải cách Taika và hệ thống Luật lệnh (Ritsuryō), xác lập trong thời kỳ Asuka và được chính thức hóa trong thời kỳ Heian.

Bộ này được thành lập nhằm lo các sự vụ liên quan tới quân sự và binh lính, tương ứng với Bộ chiến tranh hay Bộ quân sự.[1][2]

Nhìn chung[sửa | sửa mã nguồn]

Người đứng đầu Binh Bộ Tỉnh, Binh Bộ khanh (Nhật: 兵部卿, Hyōbu-kyō?) phải là con hay người họ hàng gần gũi của Thiên hoàng. Người này sẽ lo toàn bộ các sự vụ về quân sự của quốc gia, và kể từ thế kỷ thứ 12 trở đi người này sẽ thay mặt Thiên hoàng làm việc với các Mạc phủ.[1]

Nhiệm vụ của Binh Bộ Tỉnh là:

  • Duy trì bảng phân công của các tướng lĩnh chỉ huy và các lần kiểm tra, bổ nhiệm và cấp bậc.
  • Điều động quân đội.
  • Theo dõi tình trạng vũ khí, quân lính, thành trì và trạm tín hiệu lửa báo động.
  • Theo dõi tình trạng bãi cỏ cho ngựa, ngựa chiến, gia súc, ngựa công và tư.
  • Trạm bưu điện.
  • Sản xuất vũ khí và duy trì danh sách các thợ thủ công nhà nước.
  • Huấn luyện đánh trống và thổi kèn trận.
  • Vận chuyện công và tư theo đường thủy.
  • Huấn luyện chim ưng và chó.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Edo, các chức vị liên quan đến Binh Bộ Tỉnh chỉ còn mang tính nghi thức.[3]

Trong thời kỳ Minh Trị, Binh Bộ tỉnh được tái tổ chức thành Bộ Chiến tranh Nhật BảnBộ Hải quân Nhật Bản.[3]

Cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Asuka, Nara, Heian Triều đình Nhật Bản đã hoàn thiện một cơ quan lo việc quân sự.[2]

Trong thế kỷ thứ 18, danh sách các chức vụ đứng đầu Binh Bộ Tỉnh là:

  • Binh Bộ khanh (Nhật: 兵部卿 Hyōbu-kyō?), thường là con trai hay là một người bà con gần gũi của Thiên hoàng.[4]
  • Binh Bộ Đại phụ (Nhật: 兵部大輔 Hyōbu-taifu?).[1]
  • Binh Bộ Thiếu phụ (Nhật: 兵部少輔 Hyōbu-shōfu?).[1]
  • Binh Bộ Đại thừa (Nhật: 兵部大丞 Hyōbu no dai-jō?).[1]
  • Binh Bộ Thiếu thừa (Nhật: 兵部少丞 Hyōbu no shō-jō?), hai vị trí.[1]
  • Chuẩn Nhân chính (Nhật: 隼人正 Hayato no kami?), một vị trí cấp thấp.[1]
  • Chuẩn Nhân hữu (Nhật: 隼人佑 Hayato no jō?).[1]
  • Chuẩn Nhân Lệnh hữu (Nhật: 隼人令史 Hayato no sakan?).[1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, p. 431.
  2. ^ a ă Ministry of War, Sheffield.
  3. ^ a ă â Kawakami, Karl Kiyoshi. (1903). The Political Ideas of Modern Japan, p. 37.
  4. ^ Varley, Paul. (1980). Jinnō Shōtōki, p. 272; Titsingh, p. 431.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]