Bir Tawil

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bir Tawil
بيرطويل
Konfliktregion Sudan.png
Bir Tawil trên bản đồ Ai Cập
Bir Tawil
Bir Tawil
Nằm giữa Ai Cập và Sudan
Tọa độ: 21°52′14″B 33°44′14″Đ / 21,87056°B 33,73722°Đ / 21.87056; 33.73722Tọa độ: 21°52′14″B 33°44′14″Đ / 21,87056°B 33,73722°Đ / 21.87056; 33.73722
Quốc gia Không có
Diện tích
 - Tổng cộng 2.060 km² (795,4 mi²)
Dân số
 - Tổng cộng 0
 - Mật độ 0/km² (0/mi²)
Múi giờ Giờ chuẩn Ai Cập (UTC+2)
 - Mùa hè (DST) +3 (UTC)

Bir Tawil hay Bi'r Tawīl (tiếng Ả Rập: بيرطويل; Bi'r hay بير có nghĩa là "giếng nước cao") là một vùng đất nằm giữa biên giới Ai CậpSudan song không có quốc gia nào tuyên bố chủ quyền. Vùng này đôi khi cũng được gọi là Tam giác Bir Tawil mặc dù có dạng một tứ giác.

Dù Ai Cập vẫn quản lí vùng lãnh thổ này nhưng nó không xuất hiện trong bất cứ bản đồ nào của Chính phủ Ai Cập.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1899, khi Anh Quốc kiểm soát Ai CậpSudan, đường biên giới giữa hai nước này được thiết lập dọc theo vĩ độ 22. Tuy nhiên, năm 1902, một đường biên giới khác được thiết lập, đặt vùng này dưới sự kiểm soát của Ai Cập, trong khi vùng Hala'ib được giao cho Sudan, dựa trên đặc điểm của cư dân trong vùng.

Khi Ai Cập và Sudan được độc lập, Ai Cập khẳng định đường biên giới năm 1899, còn Sudan khẳng định lãnh thổ của mình theo đường biên giới năm 1902. Tam giác Hala'ib (hiện được kiểm soát bởi Ai Cập) là vùng đất có nhiều giá trị hơn, tiếp giáp với Biển Đỏ và lớn gấp 10 lần Bir Tawil được cả hai nước khẳng định chủ quyền. Điều này đã khiến Bir Tawil bị cả hai nước từ chối và trở thành vùng đất duy nhất trên thế giới ngoài vùng đất Marie ByrdNam Cực không được khẳng định chủ quyền bởi bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

Tự tuyên bố chủ quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2014, một người đàn ông người Mỹ tên Jeremiah Heaton (đến từ Abingdon, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ) đã tới Bir Tawil và cắm một lá cờ tự chế. Người này tuyên bố vùng đất từ nay là lãnh thổ vương quốc của riêng ông, gọi nó là "Vương quốc Bắc Sudan".[2][3] Heaton làm như vậy để giữ lời hứa với con gái 7 tuổi của mình, bởi cô này muốn làm công chúa thực sự.[2][3] Ông cho các đại diện báo giới biết rằng ông có dự định vận động Ai Cập, Sudan và Liên minh châu Phi công nhận chính thức.[2][3]

Địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Bir Tawil có chiều dài 46 km (đông sang tây) ở phía nam, 95 km ở phía bắc, rộng khoảng 26-31 km (bắc xuống nam), có diện tích 2.060 km². Phía bắc của vùng có núi Jabal Tawil (tiếng Ả Rập: جبل طويل) ở tọa độ 21°57′56″B 33°48′5″Đ / 21,96556°B 33,80139°Đ / 21.96556; 33.80139 (Núi Jabal Tawil) cao 459 m. Phía đông của vùng có ngọn Jabal Ḩajar az Zarqā' cao 662 m. Phía nam của vùng là wadi (thung lũng) Tawil (tiếng Ả Rập: وادي طويل) hay Khawr Abū Bard, nằm tại tọa độ 21°49′25″B 33°43′42″Đ / 21,82361°B 33,72833°Đ / 21.82361; 33.72833 (wadi Tawil).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Egypt”. CIA World Factbook 2010. CIA. 2010. 
  2. ^ a ă â Gibson, Allie Robinson (10 tháng 7 năm 2014). “Abingdon man claims African land to make good on promise to daughter”. Bristol Herald Courier (Berkshire Hathaway). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ a ă â Najarro, Ileana (12 tháng 7 năm 2014). “Va. man plants flag, claims African country, calling it ‘Kingdom of North Sudan’”. Washington Post. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]