Black Holes and Revelations

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Black Holes and Revelations
Album phòng thu của Muse
Phát hành 3 tháng 7, 2006 (2006-07-03)
Thu âm Tháng 8 – tháng 12 năm 2005 tại Miraval Studios, miền nam nước Pháp; Avatar Studios Electric Lady Studios, New York; Officine Meccaniche, Milan; Townhouse Studios, London
Thể loại Alternative rock, new prog, space rock, progressive metal[1]
Thời lượng 45:28
Hãng đĩa Helium 3, Warner Bros.
Sản xuất Rich Costey
Thứ tự album của Muse
Absolution
(2003)
Black Holes and Revelations
(2006)
HAARP
(2008)
Đĩa đơn từ Black Holes and Revelations
  1. "Supermassive Black Hole"
    Phát hành: 19 tháng 6 năm 2006
  2. "Starlight"
    Phát hành: 4 tháng 9 năm 2006
  3. "Knights of Cydonia"
    Phát hành: 27 tháng 11 năm 2006
  4. "Invincible"
    Phát hành: 9 tháng 4 năm 2007
  5. "Map of the Problematique"
    Phát hành: 18 tháng 5 năm 2007

Black Holes and Revelationsalbum phòng thu thứ 4 của ban nhạc rock người Anh, Muse, được phát hành vào ngày 3 tháng 6 năm 2006. Tiêu đề của album lấy cảm hứng theo ca khúc "Starlight", cũng là ca khúc số 2 trong album này. Quá trình thu âm được thực hiện xen kẽ giữa Pháp và New York, và đây cũng là lần đầu tiên Muse có nhiều hoạt động ngoài trong quá trình sản xuất album. Phong cách âm nhạc lần này của Muse đã hoàn toàn khác với tất cả những album trước đó khi họ đã mang ảnh hưởng nhiều từ Depeche Mode, Millionaire, Lightning Bolt, Sly and the Family Stone và cả âm nhạc phía nam Italia[2].

Black Holes and Revelations được tạp chí Q xếp hạng số 34 trong danh sách 100 album của Anh vĩ đại nhất vào tháng 2 năm 2008.

Cũng giống như 2 album trước, chủ đề chính của Black Holes and Revelations vẫn là chính trị và khoa học viễn tưởng, với ca từ bao gồm cả sự tha hóa chính trị, sự xâm lăng của người ngoài hành tinh, khởi nghĩa và cả trật tự thế giới mới xen lẫn những bản tình ca. Có tới 6 trong số 11 ca khúc của album này được họ hát live cho album tiếp theo HAARP.

Quá trình sáng tác và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Album trước của Muse được phát hành vào năm 2003, Absolution, đã đón nhận được nhiều sự khen ngợi. Absolution đã mang đến danh tiếng rất lớn cho band ở thị trường Mĩ.[3]

Cả nhóm đã đến một tòa lâu đài cũ ở Pháp để viết album mới.[2] Matt Bellamy nói rằng lí do là vì cả nhóm không muốn bị phân tâm để có thể tập trung dành thời gian để chìm đắm trong những thể loại âm nhạc khác nhau.[2] Một phần của album được thu âm trong một phòng thu ở Pháp, cùng nơi với album The Wall của Pink Floyd. Chris nói rằng đó là "một cảm giác thật tuyệt khi biết rằng một thứ thật to lớn đã được tạo ra ở nơi đó".[4] Tuy nhiên, band thấy rằng việc thu âm ở đây rất chậm đồng thời họ cũng gặp khó khăn trong việc chọn bài hát để cho vào album nên họ đã trở về New York để hoàn tất việc thu âm.[2]

Tay bass Christopher Wolstenholme cho rằng việc sáng tác và thu âm cho Black Holes and Revelations có phần thoải mái hơn album trước vì cả nhóm không bị đặt hạn chót.[4] Đó là lần đầu tiên họ được học về công nghệ trong phòng thu, thứ mà trước đây họ để cho các kĩ sư âm thanh làm.[4] Matt nói rằng đó là lần đầu tiên Muse thực hiên một album mà không lo nghĩ về việc sẽ chơi live như thế nào.[5]

"Soldier's Poem" là một bài hát "không giống với những gì mà họ đã làm trước đây".[6] Dominic cho biết ban đầu thì cả nhóm có ý định đó sẽ là một bài hát hùng tráng, mạnh mẽ nhưng sau đó họ quyết định hạ nó xuống và thu âm trong một phòng thu nhỏ với những thiết bị cổ điển và một vài cái micro.[6] Cả nhóm rất hài lòng với kết quả sau cùng và Dom miêu tả nó như là một "điểm sáng thực sự", và giọng hát là "tuyệt nhất mà anh từng nghe Matt trình diễn".[6]

Nội dung lời bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Black Holes and Revelations theo như một số nhà phê bình thì nó mang theo một thông điệp chính trị. Album mở đầu bằng "Take A Bow", là một "cuộc tấn công vào một nhà lãnh đạo chính trị không được nêu tên", kết hợp với lời bài hát như: "Ngươi tha hóa và mang lại sự sụp đổ cho tất cả những gì ngươi chạm vào" (Corrupt, you corrupt and bring corruption to all that you touch). Những chủ đề này được mang đi xuyên suốt album trong những bài như "Exo-Politics" và "Assassin". Album hay nói đến những chủ đề gây tranh cãi ví dụ như Âm mưu về Trật tự thế giới mới, chiến tranh vô nghĩa, lạm dụng quyền lực và những việc làm bí ẩn"[7] và bị ảnh hưởng bởi học thuyết âm mưu mà band rất hứng thú.[6] Album cũng mang theo những chủ đề về sự hối hận, tham vọng và tình yêu.[8]

Tựa đề album, lấy theo lời bài hát của "Starlight", được Matthew Bellamy giải thích trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 9 năm 2006 rằng: "Những hố đen và sự lộ diện - đó là hai lĩnh vực chính của chủ đề album này. Sự lộ diện của bản thân bạn, một thứ gì đó tự nhiên, một thứ gì đó rất thật mà có lẽ mọi người đều tự nhìn thấy chính mình trong đó. Và những hố đen là từ những vùng đất bí ẩn của sự tưởng tượng."[9]

Việc phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Album được ra mắt vào ngày 3 tháng 7 năm 2006 ở Anh, sau đó là ở Mỹ, Úc, Đài Loan và Nhật Bản. Album cũng có bản kết hợp CD/DVD với số lượng có hạn, trong đó có thêm những đoạn phim band biểu diễn "Supermassive Black Hole", "Knights of Cydonia" và "Starlight". Thêm vào đó, album được ra mắt lại ở Mỹ dưới dạng đĩa vinyl vào 18 tháng 8 năm 2009. Album nhận được 2 chứng nhận bạch kim ở Anh vào 22 tháng 12 năm 2006 và 3 chứng nhận bạch kim vào 6 tháng 12 năm 2010. Các đĩa đơn cùng được phát hành ở Anh và Mỹ, mặc dù thứ tự ra mắt khác nhau ở mỗi nơi. Tất cả các đĩa đơn trừ "Map of the Problematique" đều được phát hành dưới dạng CD, vinyl, DVD (kèm theo video ca nhạc), và dạng nhạc số để tải về.

Ở Anh, đĩa đơn đầu tiên là "Supermassive Black Hole" và được ra mắt trước album, vào ngày 19 tháng 6 năm 2006. Single đạt được vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng đĩa đơn của Anh, trở thành đĩa đơn đạt được thứ hạng cao nhất của band vào thời điểm đó. Tiếp theo đó là "Starlight", "Knights of Cydonia", "Invincible" và "Map of the Problematique" và trong số đó, chỉ có "Knights of Cydonia" lọt vào top 10 và ở vị trí số 10.[10] Album đứng ở vị trí đầu bảng trong bảng xếp hạng album của Anh trong 2 tuần liền với doanh số lớn nhất của band tính đến thời điểm ấy.

Đĩa đơn đầu tiên được phát hành ở Mỹ là "Knights of Cydonia" vào 13 tháng 6 năm 2006, nhảy lên vị trí thứ 10 trong Bảng xếp hạng Billboard Rock hiện đại. Theo sau đó là "Starlight" và "Supermassive Black Hole". "Starlight" là đĩa đơn nổi tiếng nhất của họ ở Mỹ vào lúc đó, đạt vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng Billboard Rock hiện đại.[11] Đây là album đầu tiên của Muse đạt được vị trí trong top 10 trong tuần đầu ra mắt với vị trí thứ 9.

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các ca khúc được soạn và sáng tác bởi Matthew Bellamy.

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Take a Bow"   4:35
2. "Starlight"   3:59
3. "Supermassive Black Hole"   3:29
4. "Map of the Problematique"   4:18
5. "Soldier's Poem"   2:03
6. "Invincible"   5:00
7. "Assassin"   3:31
8. "Exo-Politics"   3:53
9. "City of Delusion"   4:48
10. "Hoodoo"   3:43
11. "Knights of Cydonia"   6:06
Bản DVD Limited Edition
  • "Supermassive Black Hole" (video)
  • "Starlight" (video)
  • "Knights of Cydonia" (video)
  • "Supermassive Black Hole" (Live from Paris)
  • "Starlight" (Live from Copenhagen tại MTV Awards)
  • "Knights of Cydonia" (Live from London)

Bản dài và dữ dội hơn của ca khúc "Assassin", gộp cùng với ca khúc "Grand Omega Bosses Version" được ghi trong album Knights of Cydonia EP.

Phát hành và đón nhận của công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic 75/100
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Allmusic 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[12]
Alternative Press 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg
Drowned in Sound 9/10[13]
Entertainment Weekly B+[14]
The Guardian 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[1]
IGN 9.2/10.0[15]
NME 9/10[16]
Q 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg
Spin 4/10[17]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày phát hành UK Singles
Chart
Billboard Modern
Rock Tracks
Billboard
Hot
100
"Supermassive Black Hole" 19 tháng 6 năm 2006 (UK) #4 #6
"Starlight" 4 tháng 9 năm 2006 (UK) #13 #2 #101
"Knights of Cydonia" 27 tháng 11 năm 2006 (UK) #10 #10
"Invincible" 9 tháng 4 năm 2007 (UK) #21
"Map of the Problematique" 18 tháng 6 năm 2007 (UK) #18

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2006) Vị trí
cao nhất
Chứng chỉ Doanh thu
Australian Albums Chart[18] 1 Bạch kim 70,000+
Austrian Albums Chart[19] 4
Belgian Albums Chart[20] 2
US Billboard 200[21] 9 Vàng 750,000+
European Albums Chart[22] 1 2x Bạch kim [23] 2,000,000+
French Albums Chart[24] 2 Bạch kim 350,000+
German Albums Chart[25] 4 Vàng [26] 100,000+
Italian Albums Chart[27] 2 Bạch kim 80,000+
Finnish Albums Chart[28] 3 Vàng[29] 15,000+
Dutch Albums Chart[30] 2
New Zealand Albums Chart[31] 6 Bạch kim 15,000+
Norwegian Albums Chart[32] 6 Vàng 15,000+
Portuguese Albums Chart[33] 17
Swiss Albums Chart[34] 1 Bạch kim 30,000+
UK Albums Chart 1 3× Bạch kim 900,000+
Irish Albums Chart[35] 1 Bạch kim 15,000+
Bảng xếp hạng cuối năm
Bảng xếp hạng Năm Vị trí
UK Albums Chart[36] 2006 26
2007 117
2008 165
2009 151
2010 149

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Simpson, Dave (30 tháng 6 2006). “Muse, Black Holes and Revelations”. The Guardian (London). ISSN 0261-3077. OCLC 60623878. Truy cập 23 tháng 9 2011. 
  2. ^ a ă â b Talia Soghomonian. “Muse – Intergalacticists Stride Our World”. musicOMH. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007. 
  3. ^ Drew Beringer (18 tháng 7 năm 2006). “Muse – Black Holes and Revelations”. AbsolutePunk.net. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2008. 
  4. ^ a ă â “Interview with Muse”. TNT Down Under. 9 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2008. 
  5. ^ Jacqui Swift (23 tháng 6 năm 2006). “Muse: Close encounters”. The Sun. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2006. [[]][liên kết hỏng]
  6. ^ a ă â b James Hurley. “Interview – Muse”. MSN. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2007. 
  7. ^ Neil McCormick (6 tháng 7 năm 2006). “Messages from Mars”. London: The Daily Telegraph. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007. 
  8. ^ Mike Diver. “Black Holes and Revelations”. Drowned in Sound. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  9. ^ Mitchell, Ben (September năm 2006). “The Q Interview”. Q (242): 56–60. 
  10. ^ “Everyhit”. everyhit. 
  11. ^ “Billboard Chart Database”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2008. 
  12. ^ Wilson, MacKenzie. "Muse: Black Holes and Revelations > Review" trên AllMusic. Truy cập 23 tháng 9 2011.
  13. ^ Diver, Mike (30 tháng 6 2006). “Muse: Black Holes and Revelations. Drowned in Sound. Truy cập 23 tháng 9 2011. 
  14. ^ Hermes, Will (14 tháng 7 2006). “Music Review: Black Holes and Revelations (2006)”. Entertainment Weekly (886). Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011. 
  15. ^ “Muse - Black Holes And Revelations”. IGN. 19 tháng 7 2006. Truy cập 23 tháng 9 2011. 
  16. ^ Thornton, Anthony (30 tháng 6 2006). “Muse: Black Holes & Revelations”. NME (United Kingdom: IPC Media). ISSN 0028-6362. Truy cập 23 tháng 9 2011. 
  17. ^ Raftery, Brian (tháng 8 năm 2006). “Muse: Black Holes and Relevations”. Spin 22 (8): 81. 
  18. ^ “Australian Album Charts”. australian-charts.com. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  19. ^ “Austrian Album Charts”. austriancharts.at. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  20. ^ “Belgium Album Charts”. ultratop.be. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  21. ^ “Billboard Album Chart”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  22. ^ “European Albums: Week of July 22, 2006”. Billboard.com. Truy cập 23 tháng 9 2011. 
  23. ^ “IFPI Platinum Europe Awards - 2011”. Ifpi.com. 1 tháng 9 2005. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  24. ^ “lescharts.com - Muse - Black Holes & Revelations”. lescharts.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  25. ^ “Die ganze Musik im Internet: Charts, News, Neuerscheinungen, Tickets, Genres, Genresuche, Genrelexikon, Künstler-Suche, Musik-Suche, Track-Suche, Ticket-Suche”. musicline.de. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  26. ^ “Gold-/Platin-Datenbank ('Black Holes And Relevations')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  27. ^ “Italy Album Chart”. italiancharts.com. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  28. ^ “Finland Album Chart”. finnishcharts.com. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  29. ^ “Musiikkituottajat - Tilastot - Kulta- ja platinalevyt”. Ifpi.fi. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  30. ^ “Netherlands Album Chart”. dutchcharts.nl. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  31. ^ “New Zealand Albums Chart”. charts.org.nz. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  32. ^ “Norway Album Chart”. norwegiancharts.com. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  33. ^ “Portugal Album Chart”. portuguesecharts.com. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  34. ^ “Switzerland Album Chart”. swisscharts.com. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  35. ^ “Top 75 Artist Album, Week Ending 6 July 2006”. chart-track.com. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  36. ^ “End Of Year Charts: 2010”. UKChartsPlus. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Liberation Transmission của Lostprophets
'UK number one album'
9 – 22 tháng 7 năm 2006
Kế nhiệm:
Razorlight của Razorlight