Blow Me (One Last Kiss)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Blow Me (One Last Kiss)"
Đĩa đơn của Pink
từ album The Truth About Love
Mặt B "The King Is Dead But the Queen Is Alive"
Phát hành 3 tháng 7, 2012 (2012-07-03)
Định dạng
  • CD
  • Tải nhạc kỹ thuật số
Thu âm 2012
Thể loại Electropop, dance-pop
Thời lượng 4:16 (phiên bản album)
3:49 (phiên bản radio)
Hãng đĩa RCA
Sáng tác
Sản xuất Greg Kurstin
Thứ tự đĩa đơn của Pink
  • "Blow Me (One Last Kiss)"
  • (2012)
Video âm nhạc
Nuvola apps kaboodle.svg "Blow Me (One Last Kiss)" trên YouTube

"Blow Me (One Last Kiss)" là một bài hát của ca sĩ - nhạc sĩ thu âm người Mỹ Pink, được phát hành như là đĩa đơn mở đường cho album phòng thu thứ 6 của cô, The Truth About Love. Bài hát được lên kế hoạch phát hành vào ngày 9 tháng 7 năm 2012 nhưng sau đó bài hát được dời lịch phát hành lên trước một tuần vì một phiên bản bị rò rỉ trực tuyến trên mạng. Được sản xuất bởi Greg Kurstin, bài hát được đánh giá cao và được gọi là "Pink cổ điển" ("classic Pink"). Cùng với "Blow Me (One Last Kiss)", Pink đã trở thành nữ nghệ sĩ thứ ba có nhiều bài hát lọt top 10 nhất tính từ năm 2000, chỉ sau RihannaBeyonce, với 12 bài hát lọt top 10 tại Hoa Kỳ. Nó cũng đã có một bước nhảy lớn tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100 khi nhảy từ vị trí 58 lên vị trí 9 chỉ trong hai tuần sau khi được quảng bá và phát hành trên iTunes Store.[1] Video âm nhạc cho "Blow Me (One Last Kiss)" với hai màu đen trắng và được đạo diễn bởi Dave Meyers, người đã cộng tác lâu năm với Pink và làm đạo diễn cho hơn một nửa số video trên tổng số 33 video trong sự nghiệp của cô. Nó được công chiếu chính thức vào ngày 26 tháng 7 năm 2012 trên MTV và Vevo.

Vào tháng 3 năm 2013, trong một cuộc thăm dò trực tuyến của tạp chí Billboard cho danh hiệu "Bài hát của tháng 3" ("March Madness") thì "Blow Me" về hạng 3, đứng sau "Scream & Shout" của Will.i.am & Britney Spears và "Stronger (What Doesn't Kill You)" của Kelly Clarkson.[2] Bài hát cũng trở thành bài hát mở đầu cho series chương trình truyền hình tại Mỹ, Now That's What I Call Music! lần thứ 44.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 10 năm 2011, RCA Music Group thông báo rằng hãng đĩa Jive Records sẽ tan rã cùng với Arista và J Records. Cùng với sự tan rã này, Pink cùng những nghệ sĩ thu âm khác đã ký hợp đồng với các hãng thu âm, trong tương lai sẽ phát hành mọi sản phẩm âm nhạc thông qua RCA Records. Năm 2011, Joe Riccitelli, giám đốc của hãng đĩa, đã thông báo rằng Pink đang chuẩn bị bước vào phòng thu để bắt tay thực hiện album thứ 6 của cô ấy và nó sẽ được phát hành vào tháng 9 năm 2012. Ngày 29 tháng 2 năm 2012, trên trang cá nhân Twitter của mình, Pink khẳng định rằng hiện cô đang trong quá trình viết lời cho những bản thu âm mới.[3] Ngày 19 tháng 6 năm 2012, Pink công bố thông qua một đoạn video trên Twitter rằng đĩa đơn đầu tiên sắp phát hành của cô mang tên "Blow Me (One Last Kiss)" và rằng nó sẽ được phát hành chình thức vào ngày 9 tháng 7 năm 2012.[4][5] Cô nói thêm: "Tôi nghĩ bạn sẽ thích nó bởi vì tôi thực sự thích nó và tôi nghĩ nó đủ cho tất cả chúng ta".[6] Tuy nhiên, phiên bản nghe thử của bài hát bị rò rỉ trực tuyến vào ngày 1 tháng 7 năm 2012, trước một tuần so với ngày phát hành dự kiến.[6][7] Ngày hôm sau, 2 tháng 7 năm 2012, bài hát được phát hành chính thức trên trang web của Pink và tài khoản Youtube của cô ấy.[6] Ngày 4 tháng 7 năm 2012, Pink thông báo album phòng thu thứ 6 của cô sẽ mang tên The Truth About Love.[8][9]

Trong cuộc phỏng vấn với tạp chí Billboard vào tháng 8 năm 2012, Greg Kurstin đã tiết lộ rằng anh và ca sĩ đã gắp một vài rắc rối về việc đặt tên cho các bài hát trong album. Nhà sản xuất làm việc với Pink đã làm việc với cường độ cao trong vòng 9 ngày và kết quả thu được là 6 bài hát. Trong đó một bài hát với chủ đề chia tay, nó như là sự trao quyền trong phong cách của "So What"; bài hát đã được sáng tác và thu âm trong vòng một ngày nhưng nó cần một tiêu đề. "Cô ấy không ngừng nhắc tới cụm từ "Hãy ném vào trong chiếc khăn" và đó là một trong những điều chúng tôi trao đổi, "Đó có phải thật sự là lời bài hát?". Kurstin nhớ lại: "Và thế là tôi trở lại với cái tên Blow Me...One Last Kiss và chúng tôi thật sự vui mừng. Hầu hết thời gian làm việc với Pink, cô ấy có một cá tính mạnh mẽ và sự mạnh mẽ ấy đươc cô ấy đưa vào trong lời bài hát và tôi thực sự không muốn ảnh hưởng đến cô ấy. Tôi để cô ấy làm những gì cô ấy muốn. Và đó có thể là lần duy nhất tôi làm như vậy".[10]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

"Blow Me (One Last Kiss) là một bài hát nhạc electropop và dance-pop với nhịp tempo nhanh.[11][12][13] Bài hát mang âm hưởng của thể loại nhạc dance và có độ dài 4 phút 16 giây, được sản xuất bởi Greg Kurstin.[6] Bài hát bắt đầu bằng giai điệu nhạc điện tử trước khi chuyển sang pop rock; về cơ bản giai điệu bài hát được lấy mẫu từ bài hát "Float On" của ban nhạc indie rock người Mỹ, Modest Mouse. Jessica Sager nhận xét: "từ sự hòa âm,phong cách tiếng trống rock đến giọng hát mang đậm chất 'Raise Your Glass' xuyên suốt chiều dài bài hát thật sự là một thứ rượu gây nghiện" và nói rằng bài hát là "sự đặc sắc của Pink"[14]. Bài hát cũng được gọi là "Pink cổ điển" với một "điệp khúc swear-jar-worthy" và một sự thay đổi đột ngột tông mà chỉ có những ca sĩ như cô ấy mới làm được". Tuy nhiên, về nhạc lý, bài hát không đổi khóa; nó vẫn giữ nguyên khóa chính là khóa sol (G) trong suốt bài nhạc.[15] "Blow Me (One Last Kiss)" được viết bằng khóa chính là khóa sol với một nhịp độ vừa phải là 114 nhịp trên phút (BPM). Giọng hát của Pink kéo dài trong khoảng từ E3 đến G5, và bài hát theo sau là một dãy nốt G6–G–Bm–Em–C.[16]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

"Blow Me (One Last Kiss)" nhận được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình âm nhạc và một số người đã so sánh sự tương đồng của nó với bài hát "Stronger (What Doesn't Kill You)" của Kelly Clarkson cũng được sản xuất bởi Greg Kurstin.[17][18] Andrew Hampp từ tạp chí Billboard đã đưa ra đánh giá tích cực cho bài hát khi cho nó số điểm 85 trên 100 và nói rằng: "bài hát như là sự trao quyền trong phong cách của "So What" và coi đó là "lời chào đón sự quay trở lại hình mẫu của Pink trong thời gian mà mọi người từ Adam Lambert đến Clarkson đang lựa chọn thể loại nhạc của cô".[15] Danielle Levy đến từ một ấn phẩm âm nhạc đã viết: "Năng động và đầy hận thù hơn bao giờ hết, "Blow Me (One Last Kiss)" thật sự là một nụ hôn đầy năng lượng mạnh mẽ đến từ một ngôi sao nhạc pop kỳ cựu".[6] Jessica Sager đến từ PopCrush cũng đã đưa ra nhiều nhận xét tích cực cho bài hát, đánh giá bài hát 4.5/5 sao và nói rằng "một ca khúc lý tưởng cho danh sách bài hát với chủ đề chia tay và nó làm cho những trái tim tan vỡ cảm thấy tốt hơn".[14].

Kathy McCabe từ tờ Herald Sun đưa ra nhiều ý kiến tích cực cho bài hát: "Nếu Pink cần bất kỳ bằng chứng nào chứng minh cô ấy là một ngôi sao nhạc pop quốc tế thì cô ấy đã có được nó khi đĩa đơn mới nhất của cô bị rò rỉ trên phạm vi toàn cầu một tuần trước khi được phát hành".[7] Tanner Stransky từ tờ Entertainment Weekly thì xem bài hát như "một cái gì đó mà Kelly Clarkson có thể sử dụng trong album của cô ấy" và với "những chấn động, những góc cạnh trên khuôn mặt" là những "đặc điểm riêng của Pink".[19] Contessa Gayles của AOL Music cũng nhận xét bài hát một cách tích cực, viết rằng giọng hát của Pink như "dấu ấn trên một đĩa nhạc gây nghiện, một viên thuốc gây nghiện thực sự".[20] Robbie Daw từ trang web Idolator nhận xét rằng Pink "luôn luôn ở trong một trạng thái tuyệt nhất, hoàn hảo nhất khi cô kết hợp giọng hát mạnh mẽ của mình với lời của bài hát.[21] Ông ấy hoàn thành những đánh giá của mình bằng cách ghi nhận bài hát "là sản phẩm được sản xuất bởi Max Martin - nhà sản xuất âm nhạc của Pink".[21]

Diễn biến xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

"Blow Me (One Last Kiss)" xuất hiện đầu tiên tại Australian Singles Chart trong ngày 16 tháng 7 năm 2012 ngay tại vị trí quán quân.[22] Bài hát đạt hạng 8 tại bảng xếp hạng New Zealand Top 40.[22] Nó xuất hiện lần đầu tại Canadian Hot 100 ở vị trí thứ 13.[22] Tại Ireland, bài hát xuất hiện ở vị trí 23 trong tuần đầu tiên tại bảng xếp hạng Irish Singles Chart[22]. Tại Vương Quốc Anh, vào ngày 9 tháng 9 năm 2012, bài hát có mặt tại vị trí thứ 3 ngay trong tuần đầu tiên nhờ vào lượng tiêu thụ hơn 70.000 bản, đứng sau "Let Me Love You (Until You Learn to Love Yourself)" của Ne-Yo và "Hall of Fame" của ban nhạc The Script. Mặc dù không dành được quán quân tại thị trường Anh quốc nhưng tại thị trường Scotland bài hát đã dành vị trí quán quân ngay tuần đầu tiên.

Tại Hoa Kỳ, bài hát xuất hiện đầu tiên tại vị trí 58 tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và vươn lên cao nhất tại vị trí thứ 5. Tính đến tháng 7 năm 2012, Pink trở thành nữ nghệ sĩ thứ ba có nhiều đĩa đơn top 10 nhất tại Mỹ tính từ sau năm 2000, cô chỉ đứng sau Rihanna (24 đĩa đơn) và Beyonce (14 đĩa đơn). Bài hát vươn lên ngôi đầu tại German Airplay Chart và trở thành đĩa đơn liên tiếp thứ 10 của Pink quán quân và đã phá vỡ kỷ lục cho nghệ sĩ có nhiều No.1 nhất tại Đức.[23]Nam Phi, bài hát cũng xuất hiện tại South African Airplay Chart với vị trí á quân.[24] Tại Billboard's Dance/Mix Show Airplay, bài hát đã mang về cho Pink quán quân thứ 4 tại bảng xếp hạng này.[25] Tính đến tháng 7 năm 2013, bài hát đã tiêu thụ 2.164.000 bản nếu chỉ tính riêng tại thị trường Mỹ.[26]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc cho "Blow Me (One Last Kiss)" được ra mắt vào lúc 19h50' ngày 26 tháng 7 năm 2012 thông qua MTV và Vevo.[27][28] Video được đạo diễn bởi Dave Meyers, người từng cộng tác lâu năm với Pink trong hầu hết các sản phẩm âm nhạc của cô.[28] Phiên bản có màu chính thức của video bị rò rỉ trực tuyến vào ngày 31 tháng 8[29] và nó chính thức được đăng trên kênh Vevo của Pink vào ngày 5 tháng 9 năm 2012. Video được hoàn thành chỉ với hai màu đen trắng và những dòng chữ dùng trong video được viết bằng tiếng Pháp.

Video bắt đầu với hình ảnh Pink cùng người yêu của mình (Sebastian de la Forza) đang tận hưởng một chuyến picnic bên nhau. Khi họ chuẩn bị hôn nhau thì bất ngờ bị gián đoạn khi chàng trai nghe máy điện thoại của một cô gái khác. Pink hất ly rượu vang đỏ vào mặt anh ta và bỏ đi. Sau đó cô gặp một người đàn ông (Alexander Ercheverria) đi trên chiếc xe máy và cô theo anh ta về nhà. Ở tại đó, anh ta vẽ chân dung của Pink, còn cô thì nhìn qua cửa sổ thấy rất nhiều khách đến dự bữa tiệc mà người đàn ông tổ chức. Trong bữa tiệc, cô khiêu vũ với một cô gái khác cho đến khi bị người đàn ông đã đưa cô về nhà làm gián đoạn. Trong phân đoạn này, Pink mặc một bộ đồ vest với mái tóc được chải chuốt. Người đàn ông kia quỳ xuống trước mặt Pink và cô gái kia (Mosh) để cầu hôn. Pink chấp nhận lời cầu hôn và chìa ngón tay ra nhưng cuối cùng trở nên thất vọng khi lời cầu hôn của người đàn ông là dành cho cô gái kia. Trong lễ cưới của họ, Pink mặc một bộ đồ màu đen như thể cô đang đi dự một đám tang. Bỗng nhiên một chiếc xe đạp bay xuất hiện và mang theo đó một quả bóng hình trái tim. Khi quả bóng nổ, một thứ chất lỏng màu đỏ rơi xuống, dính lên cơ thể những người tham gia lễ cưới còn Pink thì múa hát vui vẻ. Đoạn cuối, Pink leo lên chiếc xe đạp và họ bay cùng nhau đến hết video; băng qua các cánh đồng, qua hoàng hôn và qua một ngọn đồi trên chiếc xe đạp bay với đôi cánh đại bàng.

Một phiên bản màu của video cũng đã được phát hành. James Montgomery của MTV đã động viên những người hâm mộ của Pink rằng cô ấy đã không thay đổi, trong khi những hình ảnh trong video đại diện cho sự giận giữ cũng như hài hước của tự nhiên, anh nói: "Trong khi nhân vật nữ chính của bạn nói cô ấy đã thay đổi thì video 'Blow Me' đã chứng minh ngược lại. Nó vừa mang sự giận giữ của những video trước kia nhưng cũng mang nhiều sự hài hước nữa".[28]

Biểu diễn trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

"Blow Me (One Last Kiss)" được Pink biểu diễn trực tiếp lần đầu tiên tại lễ trao giải MTV Video Music Awards 2012 diễn ra tại Trung tâm Staples, Los Angeles. Trong phần biểu diễn, Pink đã mặc chiếc quần đen và áo sơ mi trắng cùng mái tóc ngắn màu bạch kim của cô.

Danh sánh đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tải nhạc kỹ thuật số[30]
  1. "Blow Me (One Last Kiss)" — 4:16
  2. "Blow Me (One Last Kiss) (Fred Falke Radio Edit)
  1. "Blow Me (One Last Kiss)" — 4:16
  2. "The King Is Dead but the Queen Is Alive" (Pink, Billy Mann, Butch Walker, Niklas "Nikey" Olovson, Robin Lynch) — 3:44

Nơi ghi âm và đội ngũ sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi âm[33]
  • Phần kỹ thuật tại Trung tâm Sáng tạo Earthstar, Venice, California, và tại Echo Studios, Los Angeles, California
  • Mix nhạc tại MixStar Studios, Virginia Beach, Virginia
Đội ngũ sản xuất[33]
  • Pink - viết lời
  • Greg Kurstin - viết lời, sản xuất, keyboard, guitar, bass
  • Jesse Shatkin - kỹ thuật
  • Serban Ghenea - mix nhạc
  • John Hanes - kỹ thuật mix nhạc
  • Phil Seaford - kỹ sư âm nhạc, trợ lý

Bảng xếp hạng và doanh số chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2012–13) Vị trí
cao nhất
Úc (ARIA)[34] 1
Australia (ARIA Airplay Chart)[35] 1
Áo (Ö3 Austria Top 75)[36] 14
Bỉ (Ultratop 50 Flanders)[37] 36
Bỉ (Ultratop 40 Wallonia)[38] 14
Brazil (Billboard Hot 100 Airplay)[39] 12
Brazil (Billboard Hot Pop Songs)[40] 2
Canada (Canadian Hot 100)[41] 4
Croatia (HRT)[42] 2
Cộng hòa Séc (IFPI)[43] 8
Đan Mạch (Tracklisten)[44] 24
Europe (Euro Digital Songs)[45] 3
Finland (Finnish Download Chart)[46] 14
Pháp (SNEP)[47] 22
Đức (Media Control AG)[48] 10
Hungary (Rádiós Top 40)[49] 1
Ireland (IRMA)[50] 11
Japan (Japan Hot 100)[51] 3
Luxembourg Digital Songs (Billboard)[52] 5
Mexico Airplay (Billboard)[53] 3
Hà Lan (Dutch Top 40)[54] 14
New Zealand (RIANZ)[55] 8
Ba Lan (Polish Airplay Top 5)[56] 3
Scotland (The Official Charts Company)[57] 1
Slovakia (IFPI)[58] 6
South Korea International Singles (Gaon)[59] 138
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[60] 18
Sweden (Digilistan)[61] 13
Thụy Sĩ (Media Control AG)[62] 15
Anh Quốc (The Official Charts Company)[63] 3
US Billboard Hot 100[64] 5
US Pop Songs (Billboard)[65] 1
US Hot Dance Club Songs (Billboard)[66] 1
US Adult Pop Songs (Billboard)[67] 1
US Adult Contemporary (Billboard)[68] 11
Venezuela (Venezuela Singles chart) 7

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2012) Vị trí
ARIA Singles Chart 48
Pháp (SNEP)[69] 161
Hungary (Rádiós Top 40)[70] 22
UK Singles Chart[71] 88
US Billboard Hot 100[72] 37

Lượng tiêu thụ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[73] 3× Bạch kim 210.000^
Canada (Music Canada)[74] 3× Bạch kim 240.000^
Đan Mạch (IFPI Denmark)[75] Vàng 15,000^
Ý (FIMI)[76] Bạch kim 30.000*
Mexico (AMPROFON)[77] Vàng 30,000^
New Zealand (RMNZ)[78] Bạch kim 15.000*
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[79] Vàng 15.000x
Anh (BPI)[80] Bạc 200,000^
Hoa Kỳ (RIAA)[81] 2,164,000[26]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày Định dạng Tên
Toàn thế giới[82] 3 tháng 07, 2012 Tải nhạc kỹ thuật số Sony Music/RCA Records
Hoa Kỳ[83][84][85] 10 tháng 07, 2012 Mainstream radio
10 tháng 07 2012 Hot AC radio
17 tháng 07, 2012 Rhythmic radio
Đức 27 tháng 07, 2012 CD
Anh[86] 31 tháng 08, 2012 Bản tải về
Hoa Kỳ[87] 14 tháng 09, 2012 Radio Adult Contemporary

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Latest Music News, Band, Artist, Musician & Music Video News”. Billboard.com. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  2. ^ http://www.billboard.com/articles/columns/pop-shop/1554423/hot-100-march-madness-2013-vote-in-the-finals
  3. ^ “@Pink status, 29 February 2012”. Pink's Twitter Account. Twitter. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  4. ^ Eames, Tom (20 tháng 6 năm 2012). “Pink announces new single 'Blow Me (One Last Kiss)' - video”. Digital Spy. Hachette Filipacchi Médias. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  5. ^ Greenwald, David; Caulfield, Keith (19 tháng 6 năm 2012). “Pink Announces 'Blow Me (One Last Kiss)' Single, New Album”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  6. ^ a ă â b c Levy, Danielle (2 tháng 7 năm 2012). “Hear Pink's New Breakup Anthem, 'Blow Me (One Last Kiss)'”. Billboard. Nielsen Business Media. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  7. ^ a ă McCabe, Kathy (4 tháng 7 năm 2012). “Demo version of pop star Pink's new single Blow Me (One Last Kiss) leaked”. Herald Sun (Australia). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  8. ^ Lipshutz, Jason (5 tháng 7 năm 2012). “Pink To Tell 'The Truth About Love' This September”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012. 
  9. ^ Daniels, Colin (4 tháng 7 năm 2012). “Pink confirms new album 'The Truth About Love'”. Digital Spy. Hachette Filipacchi Médias. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  10. ^ “Blow Me Up: The Man Behind Pink's Monster Hit”. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2012. 
  11. ^ Vena, Jocelyn (2 tháng 7 năm 2012). “Pink's Sassy New Single 'Blow Me (One Last Kiss)' Leaks”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012. 
  12. ^ Aaron Zorgel (3 tháng 7 năm 2012). “Listen to Pink's new single, "Blow Me (One Last Kiss)"”. Pop Hunter. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2012. 
  13. ^ “Track Review: Pink, 'Blow Me (One Last Kiss)'”. Billboard. 3 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2012. 
  14. ^ a ă Sager, Jessica (2 tháng 7 năm 2012). “Pink, 'Blow Me (One Last Kiss)' -- Song Review”. Pop Crush. Townsquare Media, LLC. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  15. ^ a ă Hampp, Andrew (3 tháng 7 năm 2012). “Track Review: Pink, 'Blow Me (One Last Kiss)'”. Billboard (New York City: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  16. ^ http://www.musicnotes.com/sheetmusic/mtd.asp?ppn=MN0106861&
  17. ^ St. Asaph, Katherine (2 tháng 7 năm 2012). “Pink's Blow Me (One Last Kiss) has leaked sort of in some form”. Popdust. Popdust LLC. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2012. 
  18. ^ “Review: Pink - Blow Me (One Last Kiss)”. Top40.about.com. 6 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  19. ^ Stransky, Tanner (2 tháng 7 năm 2012). “Pink drops new single 'Blow Me (One Last Kiss)')”. Entertainment Weekly (Time, Inc). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  20. ^ Gayles, Contessa (2 tháng 7 năm 2012). “Pink, 'Blow Me (One Last Kiss)' Leaks (LISTEN)”. AOL Music. AOL Inc. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012. 
  21. ^ a ă Daw, Robbie (2 tháng 7 năm 2012). “Pink’s "Blow Me (One Last Kiss)": Listen To Her New Breakup Song”. Idolator. Buzz Media. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012. 
  22. ^ a ă â b “P!nk - Blow Me (one Last Kiss)”. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  23. ^ germancharts.com - Nielsen Airplay Charts Deutschland
  24. ^ Welcome to Mediaguide South Africa
  25. ^ from Billboard Top 40 Update (October 15, 2012)
  26. ^ a ă Paul Grein (3 tháng 7 năm 2013). “Week Ending June 30, 2013. Songs: Macklemore’s Timely Hit”. Chart Watch. Yahoo. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2013. 
  27. ^ “P!nk to Premiere the Music Video for First Single "Blow Me (One Last Kiss)" | The Official RCA Records Site”. Rcarecords.com. 26 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  28. ^ a ă â 07/26/2012 00:00:00 (26 tháng 7 năm 2012). “Pink's 'Blow Me (One Last Kiss)' Video Premieres! - Music, Celebrity, Artist News”. MTV.com. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  29. ^ “P!nk "Blow Me (One Last Kiss)" [Colored Version]”. josepvinaixa.com. 31 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  30. ^ “Blow Me (One Last Kiss) - Single by Pink”. iTunes Store (US). Apple Inc. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  31. ^ “P!nk - Blow Me (One Last Kiss)”. Sony Music Entertainment. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2012. 
  32. ^ “iTunes - Música - Blow Me (One Last Kiss) - Single de P!nk”. Itunes.apple.com. 27 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  33. ^ a ă (2012) Ghi chú phát hành for "Blow Me (One Last Kiss)" do Pink (liner notes). RCA Records, Sony Music.
  34. ^ "Australian-charts.com - P!nk - Blow Me (One Last Kiss)". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  35. ^ name="AUM Report">[1] AUM Report. retrieved 2013-1-13
  36. ^ "P!nk - Blow Me (One Last Kiss) Austriancharts.at" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  37. ^ "Ultratop.be - P!nk - Blow Me (One Last Kiss)" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop 50. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  38. ^ "Ultratop.be - P!nk - Blow Me (One Last Kiss)" (bằng tiếng Pháp). Ultratop 40. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  39. ^ "Brasil Hot 100 Airplay". Billboard Brasil (Brasil: bpp) (2): 80. 25 October 2012. ISSN 977-217605400-2
  40. ^ "Brasil Hot Pop & Popular Songs". Billboard Brasil (Brasil: bpp) (2): 97. October, 2012. ISSN 977-217605400-2
  41. ^ “Canadian Hot 100 - Saturday July 14, 2012”. 
  42. ^ “P!nk - Blow Me (One Last Kiss) – Croatia's Radio Airplay Chart”. Croatian Radiotelevision. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  43. ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda - RADIO TOP100 Oficiální. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201235 vào ô tìm kiếm. Truy cập 16 tháng 9 năm 2012.
  44. ^ "Danishcharts.com - P!nk - Blow Me (One Last Kiss)". Tracklisten. Hung Medien. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  45. ^ “Chart Search Results - Euro Digital Songs 2012-09-22”. Billboard.biz. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012. 
  46. ^ “Suomen Virallinen Latauslista” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. 
  47. ^ "Lescharts.com - P!nk - Blow Me (One Last Kiss)" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  48. ^ "P!nk - Blow Me (One Last Kiss)". Charts.de (bằng tiếng Đức). Media Control. Truy cập 26 tháng 7 năm 2012.
  49. ^ "Archívum - Slágerlisták - MAHASZ - Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége" (bằng tiếng Hungary). Rádiós Top 40 játszási lista. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége.
  50. ^ "Chart Track". Irish Singles Chart. GfK.
  51. ^ “Chart Search Results - Japan Hot 100 Singles 2012-08-25”. Billboard.biz. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  52. ^ “Chart Search Results - Luxembourg Digital Songs 2012-09-29”. Billboard.biz. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  53. ^ “Chart Search Results - Mexico Airplay 2012-10-27”. Billboard.biz. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2012. 
  54. ^ "Nederlandse Top 40 - P!nk search results" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40. Stichting Nederlandse Top 40. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  55. ^ "Charts.org.nz - P!nk - Blow Me (One Last Kiss)". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  56. ^ “Listy bestsellerów, wyróżnienia:: Związek Producentów Audio-Video”. Polish Music Charts. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  57. ^ "Archive Chart". Scottish Singles Top 40. The Official Charts Company.
  58. ^ "SNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda - RADIO TOP100 Oficiálna. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201231 vào ô tìm kiếm.
  59. ^ “South Korea Gaon International Chart (Week: September 16, 2012 to September 22, 2012)”. Gaon Chart. 15 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  60. ^ "Spanishcharts.com - P!nk - Blow Me" Canciones Top 50. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 8 năm 2012.
  61. ^ “DigiListan 2012-07-22”. Sveriges Radio. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2012. 
  62. ^ "P!nk - Blow Me (One Last Kiss) swisscharts.com". Swiss Singles Chart. Hung Medien. Truy cập 16 tháng 7 năm 2012.
  63. ^ "Archive Chart" UK Singles Chart. The Official Charts Company.
  64. ^ http://www.billboard.com/artist/277117/pnk/chart
  65. ^ http://www.billboard.com/artist/277117/pnk/chart?f=381
  66. ^ http://www.billboard.com/artist/277117/pnk/chart?f=359
  67. ^ http://www.billboard.com/artist/277117/pnk/chart?f=343
  68. ^ http://www.billboard.com/artist/277117/pnk/chart?f=341
  69. ^ “SNEP Chart”. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2013. 
  70. ^ “MAHASZ Rádiós TOP 100 2012” (bằng hungarian). Mahasz. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013. 
  71. ^ “Top 100 Singles of 2012”. BBC Radio 1. BBC Online. 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  72. ^ “Best of 2012 - Hot 100 Songs”. Billboard.com. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2012. 
  73. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2012 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  74. ^ “Gold Platinum Searchable Database”. Music Canada. Bản gốc lưu trữ 2013. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  75. ^ “IFPI Denmark - Certifications”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  76. ^ “FIMI Certifications”. Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014. 
  77. ^ http://www.pinkspage.com/mx/news/truth-about-love-es-oro-en-m%C3%A9xico.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  78. ^ “NZ Top 40 Singles Chart - 15 October 2012”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  79. ^ “Swiss Hitparade - Searchable Database”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  80. ^ “Britain single certifications – Pink – Blow Me (One Last Kiss)” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Enter Blow Me (One Last Kiss) trong khung Search. Chọn Title trong khung Search by. Chọn single trong khung By Format. Nhấn Go
  81. ^ “American single certifications – Pink – Blow Me (One Last Kiss)” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced, rồi nhấn Format, rồi nhấn Single, rồi nhấn SEARCH
  82. ^ “"Blow Me" Music Download”. MTV3 Download. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  83. ^ Error
  84. ^ Error
  85. ^ http://gfa.radioandrecords.com/publishGFA/GFANextPage.asp?sDate=07/10/2012&Format=10
  86. ^ “Blow Me (One Last Kiss) - Single by P!nk - Preorder Blow Me (One Last Kiss) - Single on iTunes”. Itunes.apple.com. 8 tháng 9 năm 1979. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  87. ^ ®R&R:: Going For Adds™:: Hot AC