Boris Alekseevich Chichibabin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Boris Alekseevich Chichibabin
Sinh 9 tháng 1 năm 1923
Flag of the Soviet Union.svg Kremenchuk, Liên Xô
Mất 14 tháng 12 năm 1994
Flag of Ukraine.svg Kharkov, Ukraina
Công việc Nhà thơ, Nhà văn
Thể loại Thơ, Văn xuôi

Boris Alekseyevich Chichibabin (tiếng Nga: Бори́с Алексе́евич Чичиба́бин, họ thật là Polyshin – 09/01/1923 – 14/12/1994) là nhà thơ đoạt giải thưởng Nhà nước Liên Xô 1990. Trong các thập niên từ 1950 đến 1980, Chichibabin là nhà thơ nổi tiếng nhất ở thành phố Kharkov. Từ cuối thập niên 1950 bản thảo thơ của ông được phổ biến khắp Liên Xô cũ. Sự thừa nhận chính thức chỉ đến với ông gần cuối đời, thời kỳ cải tổ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Boris Chichibabin sinh ở Kremenchuk trong gia đình một sĩ quan quân đội. Học phổ thông ở thì trấn Chuguev, tỉnh Kharkov. Họ Chichibabin được lấy từ họ của ông dượng đằng mẹ, viện sĩ Aleksey Evgenyevich Chichibabin – một nhà khoa học trong ngành hóa học. Năm 1940 Boris Chichibabin học khoa sử Đại học Tổng hợp Kharkov nhưng bỏ dở chừng để vào lính, phục vụ tại mặt trận Kapkage.

Năm 1945 ông vào học khoa ngôn ngữ Đại học tổng hợp Kharkov nhưng đến năm 1946 bị bắt đi cải tạo 5 năm vì "tuyên truyền chống lại chính quyền Xô viết". Từ năm 1951 làm việc tại nhà hát kịch, sau đó làm ở phòng điều hành tắc-xi, học lớp kế toán và làm việc ở phòng điều hành tàu điện thành phố.

Boris Chichibabin được kết nạp vào Hội Nhà văn Liên Xô năm 1968, đến năm 1973 bị khai trừ vì những phát biểu ở một ngày lễ tại Kharkov, năm 1987 được phục hồi. In thơ từ năm 1958. Đã in các tập thơ: Tuổi trẻ (Молодость, 1963), Giá lạnh và mặt trời (Мороз и солнце, 1963), Hài hòa (Гармония, 1965), Chiến hạm Rạng đông đang đi (Плывет "Аврора", 1968), Quả chuông (Колокол, 1989), Những người bạn thập kỷ 1960 (Мои шестидесятые, 1990), Thơ và văn xuôi (В стихах и прозе, 1995). Thời kỳ Xô Viết tác phẩm của ông còn được in ở các tạp chí tiếng Nga ở nước ngoài như: "Глагол", "22", "Поиски", "Континент".

Các thập niên 1970 – 1980 thơ của Boris Chichibabin được giới trí thức yêu mến vì sự thẳng thắn, không hề giả dối. Thời kỳ cải tổ thơ của ông được các báo và tạp chí in liên tục. Năm 1990 ông được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô cho tập thơ Quả chuông. Tác phẩm của Boris Chichibabin được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Belarus, tiếng Ukraina, tiếng Ý, tiếng Séc… và gần đây được dịch ra tiếng Việt.

Boris Chichibabin mất ngày 14 tháng 12 năm 1994 tại Kharkov. Thành phố này đã dựng tượng và đặt tên ông cho một đường phố ở trung tâm thành phố.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi trẻ (Молодость, 1963)
  • Giá lạnh và mặt trời (Мороз и солнце, 1963)
  • Hài hòa (Гармония, 1965)
  • Chiến hạm Rạng đông đang đi (Плывет "Аврора", 1968)
  • Quả chuông (Колокол, 1989)
  • Những người bạn thập kỷ 1960 (Мои шестидесятые, 1990)
  • Thơ và văn xuôi (В стихах и прозе, 1995)
  • Dù sao ta đã là một nhà thơ… (И все-таки я был поэтом.., 1998) tuyển tập thơ, văn xuôi, thư từ và những bài viết về Boris Chichibabin.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Мороз и солнце. — Харьков, 1963.
  • Молодость. — М.: Советский писатель, 1963.
  • Гармония. — Харьков, 1965.
  • Плывет Аврора: Книга лирики. — Харьков: «Прапор», 1968.
  • Колокол: Стихи. — М.: Известия, 1989; М.: «Советский писатель», 1991
  • Мои шестидесятые. Киев: Дніпро, 1990.
  • Цветение картошки: Книга лирики. — М.: Моск. рабочий, 1994
  • 82 сонета + 28 стихотворений о любви. М., 1994
  • В стихах и прозе. Харьков: СП «Каравелла», 1995; Харьков: Фолио, 1998

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa nỗi buồn và không gì cả
 
Giữa nỗi buồn và không gì cả
Chúng ta đã chọn nỗi buồn.
Ai đấy hỏi: "để làm gì thế?"
Còn ai đấy rằng: "thật đáng thương".
 
Hoặc làm dân đen, hoặc để biết
Và cười lên và vẫy bàn tay.
Không phải thời để đi giải thích
Hoặc về tĩnh lặng nghĩ suy.
 
Ta trong đời cho hàng trăm năm
Ta trong đời cho hàng ngàn mảnh đất
Trong ta không tắt ánh sáng thiên đàng
Và men say của trời không khô kiệt.
 
Và ta sẽ nhận về dấu triện
Của sự chia ly và sự truy lùng
Bằng ánh lửa trả lời tia sáng
Tiếng nhạc lòng đáp lại âm thanh.
 
Bằng sự tuyệt vọng cho cây thập ác
Và uống vào cả những đắng cay
Ta chuộc lại sự lăng xăng tíu tít
Và thô bạo ở cuộc đời này.
 
Ta sẽ bỏ lại nơi đây linh hồn
Để Chúa Trời một khi nào đấy
Tha cho thói kiêu căng sáng tạo
Và tha cho thân xác than phiền.
 
Và chúng ta vẫn cứ đi như thế
Một khi còn đập những con tim
Và biết rằng con đường kia chẳng có
Những giới hạn hay điểm cuối cùng.
 
Khi thiên thần vào ta áp sát
Vỗ về bằng sự lặng yên
Thì ta chỉ cần trong mấy phút
Ta sẽ quên đi linh hồn.
 
Và sau bản trường ca – lần nữa
Sau bút vẽ và sau cả dương cầm
Giữa nỗi buồn và không gì cả
Ta đã chọn lấy nỗi buồn.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
Между печалью и ничем
 
Между печалью и ничем
мы выбрали печаль.
И спросит кто-нибудь "зачем?",
а кто-то скажет "жаль".
 
И то ли чернь, а то ли знать,
смеясь, махнет рукой.
А нам не время объяснять
и думать про покой.
 
Нас в мире горсть на сотни лет,
на тысячу земель,
и в нас не меркнет горний свет,
не сякнет Божий хмель.
 
Нам - как дышать,- приняв печать
гонений и разлук,-
огнем на искру отвечать
и музыкой - на звук.
 
И обреченностью кресту,
и горечью питья
мы искупаем суету
и грубость бытия.
 
Мы оставляем души здесь,
чтоб некогда Господь
простил нам творческую спесь
и ропщущую плоть.
 
И нам идти, идти, идти,
пока стучат сердца,
и знать, что нету у пути
ни меры, ни конца.
 
Когда к нам ангелы прильнут,
лаская тишиной,
мы лишь на несколько минут
забудемся душой.
 
И снова - за листы поэм,
за кисти, за рояль,-
между печалью и ничем
избравшие печаль.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]