Born to Run

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Born to Run
Album phòng thu của Bruce Springsteen
Phát hành 25 tháng 8 năm 1975
Thu âm Record Plant, New York
914 Sound Studios, Blauvelt, New York
Tháng 1 năm 1974 - tháng 7 năm 1975
Thể loại Rock, rock & roll
Thời lượng 39:26
Hãng đĩa Columbia
Sản xuất Bruce Springsteen, Mike Appel, Jon Landau
Thứ tự album của Bruce SpringsteenThe E Street Band
The Wild, the Innocent & the E Street Shuffle
(1973)
Born to Run
(1975)
Darkness on the Edge of Town
(1978)

Born to Run là album phòng thu thứ 3 của nhạc sĩ - ca sĩ người Mỹ, Bruce Springsteen. Album được phát hành ngày 25 tháng 8 năm 1975 bởi Columbia Records.

Born to Run là bước ngoặt với sự nghiệp của Bruce Springsteen, đưa tên tuổi Bruce lên ngang hàng với Queen, Pink Floyd, Deep Purple, Jethro Tull,...[1] Album đạt vị trí thứ 3 tại Billboard 200 và bán được khoảng 6 triệu bản cho tới năm 2000. 2 đĩa đơn đi kèm album, "Born to Run" và "Tenth Avenue Freeze-Out" là 2 ca khúc bất hủ của Springsteen. Ngoài ra, "Thunder Road" và "Jungleland" là những ca khúc vẫn thường xuyên xuất hiện tại các buổi trình diễn của anh.

Với Born to Run, các nhà phê bình đánh giá Bruce Springsteen như vị cứu tinh của rock & roll, nghệ sĩ duy nhất có thể hòa trộn sự khỏe khoắn của rock thập niên 50, những suy tư của rock thập niên 60 và sự nổi loạn của rock thập niên 70 vào các tác phẩm mà anh trình diễn. Bruce Springsteen hát vất vả như Jerry Lee Lewis, ca từ phức tạp như Bob Dylan, mỗi chương trình như buổi cử hành nghi lễ tôn giáo dành cho các tín đồ cuồng tín nhất. Bruce Springsteen đã cho thấy lời nhận xét của Jon Landau – nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng của tờ Rolling Stone – đưa ra năm 1974 là hoàn toàn chính xác: "Tôi đã thấy tương lai của rock ‘n’ roll. Đó là Bruce Springsteen"[1].

Album được tạp chí Rolling Stone xếp thứ 18 trong danh sách "500 album vĩ đại nhất"[2]. Ngày 14 tháng 11 năm 2005, nhân kỷ niệm 30 năm ngày ra mắt album, Born to Run được chỉnh âm và phát hành dưới dạng CD, kèm với đó là DVD bao gồm quá trình thực hiện album và cả những buổi diễn liên quan.

Thu âm và sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Springsteen tiến hành việc thực hiện album mới ngay sau khi hoàn thành album trước đó, The Wild, the Innocent and the E Street Shuffle, phát hành năm 1973. Có một ngân sách khổng lồ để thực hiện một album hứa hẹn thành công về mặt thương mại, anh đã vô cùng quyết tâm dù rất khó khăn khi giam mình trong 4 bức tường của phòng thu. Tuy nhiên, với một bản thu tạm của "Born to Run" được phát hành qua sóng radio, rất nhiều dự đoán đã được đưa ra về sự kiện phát hành album này của Sprinsteen.

Springsteen đã có nhiều bước tiến quan trọng trong quá trình thực hiện Born to Run. Khác với Greetings from Asbury Park, N.J.The Wild, the Innocent and the E Street Shuffle, các ca khúc có nhiều cảm hứng từ cuộc sống ở New Jersey, cũng như từ những cố gắng đi tìm thứ âm nhạc đích thực cho người nghe. Anh cũng đã có nhiều đột phá trong ca từ, khi anh nói về album "là nơi tôi bỏ đi những quan điểm thời thanh niên về tình yêu và tự do, một thứ ranh giới rõ ràng."[3] Thêm vào đó, Sprigsteen cũng dày công chỉnh sửa ca khúc trong phòng thu hơn rất nhiều so với 2 album trước đó của mình. Album chiếm của Springsteen tới tận hơn 14 tháng thực hiện, trong đó riêng ca khúc "Born to Run" đã ngốn của anh ròng 6 tháng. Suốt quãng thời gian đó, anh đã trải qua cả những tức giận và thất vọng, và nói anh nghe được thứ âm thanh mà anh không thể giải thích được với mọi người trong phòng thu. Cũng lúc đó, Springsteen mời Jon Landau tới hỗ trợ việc thu âm và đây cũng là lúc anh kết thúc mối quan hệ với nhà sản xuất cũ của mình, Mike Appel, để nhờ Landau đảm nhiệm luôn cả 2 công việc.

Album được ghi chép cẩn thận để chọn tông cho từng ca khúc (các ca khúc đều được sáng tác cho piano chứ không phải guitar) và Phil Spector là người phụ trách phần hòa âm và thực hiện sản xuất. Springsteen nói anh muốn nghe "Born to Run" "như Roy Orbison hát Bob Dylan cũng thu âm bởi Spector". Hầu hết các ca khúc đều được lần đầu thu âm bởi Springsteen, Weinberg, Britan, Talent và các nghệ sĩ khác[4].

Trong bản LP, Springsteen xây dựng cấu trúc "4 góc" với 2 ca khúc mở đầu mỗi mặt ("Thunder Road", "Born to Run") là những lời ca ngợi tự do, trong khi những ca khúc kết thúc ("Backstreets", "Jungleland") là cảm xúc buồn bã của thất bại và sự thất vọng. Ban đầu, anh định để 2 bản thu của "Thunder Road" làm mở đầu và kết thúc album.

Ca khúc "Meeting Across the River" có tên lúc đầu là "The Heist". Bìa đĩa gốc có phông chữ viết theo dạng chữ graffiti. Các ấn bản này thực sự rất rải rác và được coi là "vết sạn nhỏ" trong sự nghiệp của Springsteen.

Bìa đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa của Born to Run là một trong những bìa nổi tiếng nhất và hay được bắt chước nhất[5]. Bức ảnh được chụp bởi Eric Meola, người đã chụp Springteen tới 900 kiểu chỉ trong có hơn 3 tiếng đồng hồ[5]. Tất cả những bức ảnh đó có thể được tìm thấy trong Born to Run: The Unseen Photos[5].

Bức ảnh là hình của Springsteen đang cầm trong tay cây Fender Broadcaster khi anh đang bám vào vai của nghệ sĩ saxophone Clarence Clemons[5]. "Có nhiều thứ khác nữa, Meola nói, "nhưng khi tôi nhìn vào những tấm âm bản, chỉ có bức ảnh này khiến tôi thích thú. Đột nhiên, chúng tôi biết đâu là thứ chúng tôi cần." Dòng chữ được sử dụng phông rất nhỏ cũng mang dụng ý nghệ thuật: một cảm xúc mới, một thiết kế cũ[5].

Vài album đã bắt chước khung hình nổi tiếng này của Springsteen và Clemons, như trong album Next Position Please của Cheap Trick, Born Not to Run: More Disrespectful Car Songs của Tom và Ray Magliozzi của chương trình Car Talk, Born to Migrate của Kevin & Kell, Born to Add của hai nhân vật Bert và Cookie Monster của chương trình Sesame Street[5]. Nó cũng được bắt chước trong bản thu hát lại của ca khúc "Thunder Road" bởi Frank Turner.

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các ca khúc đều được viết bởi Bruce Springsteen.

Mặt A
  1. "Thunder Road" – 4:49
  2. "Tenth Avenue Freeze-Out" – 3:11
  3. "Night" – 3:00
  4. "Backstreets" – 6:30
Mặt B
  1. "Born to Run" – 4:31
  2. "She's the One" – 4:30
  3. "Meeting Across the River" – 3:18
  4. "Jungleland" – 9:34

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[6]
Blender 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg [7]
Robert Christgau A [8]
Pitchfork (10/10)[9]
Rolling Stone (rất tích cực) [10]
Rolling Stone Album Guide 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg [11]
Sputnikmusic 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg [12]

Columbia Records đã huy động một hệ thống quảng bá cho album tiêu tốn tới 250.000$. Born to Run xuất hiện trong Top 10 của Billboard 200 ở tuần thứ 2 ra mắt và sớm có được chứng chỉ Vàng. Tờ TimeNewsweek cùng để ảnh của Springsteen lên trang bìa trong số ra ngày 27 tháng 10 năm 1975. Jay Cocks của Time vô cùng thích thú với Bruce, trong khi tờ Newsweek ca ngợi anh như là một "Bob Dylan mới". Thậm chí nhiều người còn nghi vấn liệu có thực Springsteen tài năng tới vậy hay chỉ là sản phẩm của ngành công nghiệp âm nhạc[13][14].

Trái với những lời tán tụng của Columbia, Bruce tỏ ra khá tức giận: "Nói tôi là tương lai của nhạc Rock là một sai lầm tệ hại, và tôi có thể sẽ bóp cổ ai dám nói tới điều đó." Khi Springsteen tới Anh lần đầu cho buổi diễn tại Hammersmith Odeon, anh yêu cầu gỡ bỏ tấm poster có câu "Cuối cùng cả thế giới đã sẵn sàng với Springsteen" dán ở lobby, cùng với đó là việc cấm để dòng chữ "Tôi đã thấy tương lai của Rock 'n' roll tại Hammersmith Odeon". Thực sự cảm thấy có vấn đề, Columbia buộc phải hủy khá nhiều buổi phỏng vấn của Springsteen. Khi những tranh cãi lắng xuống cũng là lúc album rơi khỏi bảng xếp hạng sau 29 tuần, song nó vẫn kịp giúp Springsteen có một lượng fan vô cùng lớn mà sau này anh luôn trông đợi.

Ở tuần đầu tiên sau khi phát hành, Born to Run chỉ có vị trí khiêm tốn số 84 tại Billboard 200 (ngày 13 tháng 9 năm 1975). Ở tuần thứ hai, nó chen chân vào top 10 với vị trí số 8, rồi nhích lên vị trí số 4 ở tuần tiếp theo trước khi đạt vị trí cao nhất vào tuần 11-18 tháng 10 ở vị trí số 3.

Born to Run cũng quay trở lại Billboard sau khi The RiverBorn in the U.S.A. phát hành. Album nhận chứng chỉ Bạch kim bởi RIAA vào năm 1986.

Năm 1987, Rolling Stone xếp album ở vị trí số 8 trong danh sách 100 album xuất sắc nhất trong vòng 20 trở lại[15]. Năm 2004, tờ báo xếp Born to Run ở vị trí số 18 trong danh sách 500 album vĩ đại nhất[16]. Năm 2001, khán giả của VH1 bầu chọn album ở vị trí 27 trong số các album mọi thời đại[17] và Zagat Music Guide đánh giá đây là album được biết tới nhiều nhất trong cuộc thăm dò năm 2003[18].

Born to Run nằm trong danh sách thu âm được lưu trữ bởi Thư viện Quốc hội Mỹ[19].

Các buổi trình diễn trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Các ca khúc của Born to Run được biểu diễn rất nhiều trong giai đoạn từ giữa năm 1974 kéo tới hết những chương trình tour diễn của Springsteen vào năm 2009. Springsteen và The E Street Band lần đầu tiên hát hoàn chỉnh cả album trong một chương trình từ thiện tại Nhà hát Count Basie ở Red Bank, New Jersey ngày 7 tháng 5 năm 2008. Họ làm điều đó một lần nữa trong buổi diễn ngày 20 tháng 9 năm 2009 tại United Center ở Chicago, Illinois[20] và một vài chương trình phụ trong tour diễn mùa thu năm 2009, Working on a Dream Tour.

Thành phần tham gia sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

The E Street Band
Các nghệ sĩ khác
Sản xuất
  • John Berg, Andy Engel – thiết kế
  • Greg Calbi, Bob Ludwig – chỉnh âm
  • Charles Calello – chỉ huy và phối khí dàn nhạc
  • Eric Meola – chụp ảnh
  • Steven Van Zandt – hòa âm dàn hơi trong "Tenth Avenue Freeze Out"
Kỹ thuật viên

Ấn bản kỷ niệm 30 năm phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 4 tháng 11 năm 2005, Columbia Records phát hành Born to Run 30th Anniversary Edition trong đó có:

  • Album chỉnh âm từ nguyên bản gốc: CD có màu đen với nhãn đĩa của bản vinyl, thay thế bản LP 4 bài mỗi mặt bằng một CD 8 ca khúc.
  • DVD Wings For Wheels là thước phim tài liệu về quá trình thực hiện album, sau này được giải Grammy năm 2007 cho Video nhạc (dài) xuất sắc nhất. Bộ phim có thêm 3 bản thu live buổi diễn ngày 1 tháng 5 năm 1973 tại nhà hát Ahmanson ở Los Angeles.
  • DVD Bruce Springsteen & The E Street Band Hammersmith Odeon, London '75 là bản thu hoàn chỉnh của buổi diễn ở Hammersmith OdeonLondon ngày 18 tháng 11 năm 1975. DVD theo kèm một CD có tên Hammersmith Odeon London '75.

Trên Best Buy, ấn phẩm này còn có thêm 1 CD là bản chép của đĩa đơn "Born to Run".

Ấn phẩm này cũng có mặt trên Billboard 200 từ ngày 3 tháng 12 năm 2005 ở vị trí số 18 với 53.206 bản được bán. Nó có mặt trong bảng xếp hạng trên 6 tuần[21].

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Album
Năm Bảng xếp hạng Vị trí
cao nhất
Ghi chú
1975 US Record World 1
1975 US Billboard 200 3
1975 UK Albums Chart 36
1980 US Billboard 200 66
1985 US Billboard 200 101
1985 UK Albums Chart 17
2005 US Billboard 200 18 Born to Run 30th Anniversary Edition
Đĩa đơn
Năm Đĩa đơn Bảng xếp hạng Vị trí
cao nhất
1975 "Born to Run" US Billboard Hot 100 23
1975 "Born to Run" US Cash Box Top 100 Singles 17
1976 "Tenth Avenue Freeze-Out" US Billboard Hot 100 83
1976 "Tenth Avenue Freeze-Out" US Cash Box Top 100 Singles 63

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă mp3.zing.vn: Born to Run - Bruce Springsteen
  2. ^ 500 Greatest albums of All Time: Born to Run - Bruce Springsteen
  3. ^ Richardson, Mark (18 tháng 11 năm 2005). “Bruce Springsteen Born to Run: 30th Anniversary Edition > Review”. Pitchfork. Truy cập 1 tháng 6 2006. 
  4. ^ Fricke, David (21 tháng 1 năm 2009). “The Band on Bruce: Their Springsteen”. rollingstone.com. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 4 2009. Truy cập 7 tháng 2 2009. 
  5. ^ a ă â b c d “insighteditions – Born to Run”. insighteditions.com. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2008. 
  6. ^ Ruhlmann, William. Born to Run trên AllMusic. Truy cập 8 tháng 7 2004.
  7. ^ Christgau, Robert (January–February năm 2006). “Re-Run: Bruce Springsteen Born to Run (30th Anniversary Edition)”. Blender.  Posted at “Re-Run”. robertchristgau.com. Robert Christgau. Truy cập 29 tháng 10 2011. 
  8. ^ Christgau, Robert (22 tháng 9 năm 1975). “Christgau's Consumer Guide: Bruce Springsteen: Born to Run Pick Hit”. The Village Voice. Truy cập 19 tháng 12 2011.  Relevant part posted in a revised version at Christgau, Robert. “Bruce Springsteen: Born to Run > Consumer Guide Album”. robertchristgau.com. Robert Christgau. Truy cập 3 tháng 12 2005. 
  9. ^ Richardson, Mark (18 tháng 11 năm 2005). “Bruce Springsteen Born to Run: 30th Anniversary Edition > Review”. Pitchfork. Truy cập 1 tháng 6 2006. 
  10. ^ Marcus, Greil (9 tháng 10 năm 1975). “Bruce Springsteen Born to Run > Album Review”. Rolling Stone (197). Bản gốc lưu trữ 29 tháng 10 2004. Truy cập 20 tháng 3 2004. 
  11. ^ Sheffield, Rob (2004). “Bruce Springsteen”. Trong Brackett, Nathan; Hoard, Christian. The New Rolling Stone Album Guide. London: Fireside. tr. 771–773. ISBN 0-7432-0169-8.  Portions posted at “Bruce Springsteen > Album Guide”. rollingstone.com. Truy cập 21 tháng 2 2011. 
  12. ^ Freeman, Channing (22 tháng 6 năm 2011). “Bruce Springsteen Born To Run > Staff Review”. sputnikmusic. Truy cập 29 tháng 6 2011. 
  13. ^ Edwards, Henry. "If There Hadn't Been a Bruce Springsteen, Then the Critics Would Have Made Him Up; The Invention Of Bruce Springsteen" New York Times 5 tháng 10, 1975: 125
  14. ^ Rockwell, John. "The Pop Life; 'Hype' and the Springsteen Case" New York Times October 24, 1975: 34
  15. ^ DeCurtis, Anthony; M. Coleman (27 tháng 8 năm 1987). “The Best 100 Albums of the Last Twenty Years”. Rolling Stone (507). tr. 45 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). 
  16. ^ Levy, Joe; Steven Van Zandt (2006) [2005]. “18 | Born to Run - Bruce Springsteen”. 500 album vĩ đại nhất (ấn bản 3). London: Turnaround. ISBN 1-932958-61-4. OCLC 70672814. Truy cập 2 tháng 7 2005. 
  17. ^ “The Greatest: 100 Greatest Albums of Rock & Roll”. The Greatest. VH1. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2007. 
  18. ^ Barry A. Jeckell (23 tháng 9 năm 2003). “Born To Run' Tops Zagat Music Survey”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2007. 
  19. ^ “Librarian of Congress Names 50 New Recordings to the National Recording Registry”. The Library Today. The Library of Congress. 19 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2007. 
  20. ^ Greene, Andy (28 tháng 7 năm 2009). “Bruce Springsteen Playing All of "Born to Run" in Chicago”. rollingstone.com. Truy cập 28 tháng 10 2011. 
  21. ^ Waddell, Ray (23 tháng 1 năm 2009). “Bruce Springsteen Prepping 'Darkness' Reissue”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]