Britney (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Britney
Album phòng thu của Britney Spears
Phát hành 6 tháng 11, 2001 (2001-11-06)(xem Phát hành)
Thu âm Tháng 2 - tháng 8 năm 2001
Thể loại Pop, dance-pop, R&B, hip-hop
Thời lượng 39:52
Hãng đĩa Jive
Sản xuất Max Martin, Rami, Rodney "Darkchild" Jerkins, The Neptunes, Wade Robson, Justin Timberlake
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Britney Spears
Oops!... I Did It Again
(2000)
Britney
(2001)
In the Zone
(2003)
Đĩa đơn từ Britney
  1. "I'm a Slave 4 U"
    Phát hành: 24 tháng 9, 2001
  2. "Overprotected"
    Phát hành: 23 tháng 12, 2001
  3. "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman"
    Phát hành: 5 tháng 2, 2002
  4. "Anticipating (Pháp)"
    Phát hành: 22 tháng 5, 2002
  5. "I Love Rock 'n' Roll (Châu Âu)"
    Phát hành: 1 tháng 6, 2002
  6. "Boys"
    Phát hành: 29 tháng 7, 2002

Britneyalbum phòng thu thứ ba của ca sĩ nhạc pop người Mỹ Britney Spears phát hành vào ngày 6 tháng 11 năm 2001 bởi hãng Jive Records. Album đã gây được sự chú ý khi Britney đã tham gia đồng sáng tác 5 ca khúc trong album cũng như là theo đuổi phong cách mới là R&Bhip hop, không còn một Britney trung thành với dòng nhạc teen-pop và bubblegum pop như 2 album trước đó. Mặc dù lúc đầu album không được thành công như hai album đầu nhưng xét về tổng thế, đây cũng có thể coi là sự chuyển biến đúng đắn của Britney và cô cũng được khen ngợi nhiều hơn về 5 ca khúc mới do chính mình sáng tác.

Album đã bán được 746.744 bản ngay trong tuần đầu tiên tại Mỹ và thằng tiến lên vị trí đầu bảng của bảng xếp hạng Billboard 200, đưa Britney trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có 3 album phòng thu liên tiếp đứng đầu tại bảng xếp hạng này ngay trong tuần đầu tiên.[4][5] Kỉ lục này tiếp tục được nâng lên khi mà album thứ 4 In the Zone của cô cũng đạt được vị trí này hơn 2 năm sau. Album này cũng là album có doanh số khới đầu ấn tượng nhất trong năm 2001 bới một nữ nghệ sĩ. Album đã bán được 10 triệu bản trên toàn thế giới và được đề cử 2 giải Grammy 2002 cho hạng mục "Album giọng pop xuất sắc nhất" và "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất" dành cho đĩa đơn "Overprotected". Cho đến nay, album đã bán được hơn 15 triệu bản trên toàn thế giới.[6][7]

Quá trình thu âm album[sửa | sửa mã nguồn]

Để chuẩn bị cho album mới này, Britney đã thu âm 23 ca khúc và chọn ra 12 trong số đó, theo cô đó là phần khó khăn nhất để hoàn thành sản phẩm cuối cùng. Cũng theo Britney, phần lớn các ca khúc trong này phản ánh cái tôi bên trong của cô, chính vì thế mà cô đã đặt tên nó là "Britney". Về việc tự sáng tác, ở 2 album trước cô đã từng thử sức với "I'm So Curious" và "Dear Diary", và lần này thì điều đó trở nên dễ dàng hơn khi cô được bộ đôi Josh và Brian hỗ trợ.[8] Chỉ cần Spears nghĩ ra ý tưởng là họ triển khai chúng, và từ đó Spears có thể viết nên giai điệu và lời cho bài hát. Spears nói "Đây là lần đầu tôi có thể tự lực sáng tác và dành thời gian thật sự cho công việc này, và khi nghe lại cả album thì tôi thấy việc tự sáng tác quả là đặc biệt. Tôi không nghĩ mình là người viết nhạc giỏi nhưng thực sự tôi cảm thấy vui vì thành quả của mình cũng như hi vọng khả năng này của mình sẽ ngày càng tốt lên."[8]. Trong album lần này, Britney đã đồng tham gia sáng tác 6 ca khúc là "Lonely", "Anticipating", "Cinderella", "Let Me Be", "That's Where You Take Me", "Before the Goodbye" (bonus track); trong đó "Cinderella" là ca khúc được đánh giá cao nhất.

Sự trưởng thành mới mẻ trong album thể hiện ở việc Spears đã mạnh dạn làm việc với nhiều sản xuất mới. Bộ đôi The Neptunes gồm Pharrell WilliamsChad Hugo là một trong những nhà sản xuất được Britney chú ý đến đầu tiên. Trà lời với MTV, Spears cho biết "Tôi đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ hip-hop và R&B khi tham gia tour lưu diễn trước đó, đặc biệt là Jay-Z và Neptunes, chính vì thế tôi đã xin phép Jive được làm việc với họ để tạo ra một âm thanh Britney "sexy, hoang dại và lôi cuốn hơn".[8]. Sản xuất bởi Neptunes, I'm a Slave 4 U, đã được chọn là single chủ đạo cho album và các chuyên gia đã khen ngợi sự trưởng thành này của cô. Rodney Jerkins cũng là nhà sản xuất được cô để ý đến tiếp theo, và trong album này anh đã sản xuất cho cô "Lonely", "Let Me Be", "Overprotected" (phiên bản remix) và bản cover hit "I Love Rock 'n Roll" của Joan Jett và the Blackhearts. Trong album này, Britney cũng thu âm 1 ca khúc với người tình của cô - Justin Timberlake và nó có tên là "What It's Like To Be Me". Spears nói rằng cô có cảm giác một chút lúng túng khi làm việc với Justin và nó không hề giống khi làm việc với những nhà sản xuất khác [9]; mặc dù vậy cô vẫn hoàn thành tốt công việc và "What It's Like To Be Me" là một trong những track đáng nghe trong album lần này của cô. Sự mới mẻ trong album lần này của Britney còn thể hiện ở việc cô đã giảm bớt sự hợp tác với nhà sản xuất quen thuộc trước đó là Max Martin & Rami. Trong cả album, họ chỉ tham gia đồng sáng tác và sản xuất cho 4 track là "Overprotected", "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman", "Cinderella", "Bombastic Love" và giai điệu pop dễ nghe quen thuộc vẫn là đặc điểm chung của những track này!

Xét tổng thể, album thứ 3 của Britney đã mang đến một thứ âm thanh sexy hơn đúng như những gì cô mong muốn, và mặc dù cái "sexy hoang dại" đó không phải là thông qua những từ như "hell" và "damn", thế nhưng điều đó vẫn không thể không làm các nhà phê bình đánh giá rằng cô lớn quá nhanh so với fan hâm mộ của mình. Đáp lại suy nghĩ này, Spears đáp rằng cô không hề có chủ ý rời bỏ các fan trẻ tuổi mà chỉ muốn tiếp cận các thính giả lớn tuổi hơn. Cô cũng nói thêm "Tôi không thể làm thêm một cái album ...Baby One More Time thứ 3 được, tôi phải thay đổi điều đó cũng như hi vọng mọi người cho rằng sản phẩm thật là cool!" [8]

Đánh giá của các chuyên gia[sửa | sửa mã nguồn]

 Đánh giá chuyên môn
Điểm nhận xét
Nguồn Đánh giá
NME (7/10)[10]
AllMusic 4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[11]
Entertainment Weekly (C)[12]
Entertainment.ie 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[13]
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[14]

Sự đánh giá của các chuyên gia về album Britney vẫn khá là trái chiều nhau:

Metacritic chỉ cho album này 54/100 điểm, dựa trên ý kiến của 12 chuyên gia mainstream, số điểm thấp xa so với 72/100 mà họ dành cho album trước đó của Brit.[15]. Cùng chung với đánh giá không khả quan đó là Rolling Stone: "chỉ còn 1 tháng nữa là Spears bước sang tuổi 20 và rõ ràng cần phải trưởng thành hơn, tuy nhiên album này chưa thể đạt được điều đó", mặc dù vậy họ vẫn cho điểm album này ngang với album trước đó của cô! [14]

Tuy nhiên thì nhiều chuyên giá khác lại tán thành với album lần này của cô, tiêu biểu là AllMusic, cho album này tới 4.5/5 sao, đánh giá cao các track cũng như tên album, "Britney thực sự trưởng thành hơn khi nhấn sâu vào cái tôi cá nhân nhưng không hề mất đi cái mà người ta vẫn thường thấy ở cô".[11]

Ấn phẩm số 1000 của tạp chí Entertainment Weekly ra ngày 4/7/2008 đã xếp hạng những bộ phim, show truyền hình, album và sách báo,… hay nhất từ năm 1983 đến 2000. Và trong mục "The Classics: Music", Britney đã được xếp thứ 97/100 trong danh sách 100 album hay nhất trong khoảng thời gian trên.[16]

Doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Britney tiếp tục là một album nữa của Britney đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 với 746.744 bản bán ra trong tuần đầu tiên, đánh bật album Invincible của Michael Jackson ra khỏi vị trí này. Tuần sau đó, số lượng album bán ra giảm tới 55%, chỉ bán được 337.000 bản và bị đẩy xuống vị trí thứ hai. Mặc dù tuần tiếp sau đó, số lượng album bán ra có khả quan hơn (451.000 bản) nhưng album vẫn bị đẩy xuống tiếp vị trí thứ ba. Và đến tuần thứ 4, số lượng album đã đủ giúp nó được trao 2x Bạch Kim bới RIAA. Đến cuối năm 2002, album bán được 3,3 triệu bản tại Mỹ và con số này là khoảng 5 triệu bản cho tới năm 2011.

Việc Britney đứng đầu Billboard 200 trong tuần đầu tiên đã giúp Britney trở thành nghệ sĩ nữ duy nhất trong kỉ nguyên SoundScan có 3 album đầu tay liên tiếp đạt vị trí quán quân trong tuần đầu tiên của Mỹ. Britney cũng là album có lượng tiêu thụ trong tuần đầu tiên nhiều thứ hai trong năm 2001, chỉ xếp sau 'N Sync với Celebrity bán được hơn 1,88 triệu bản. Britney là album có số lượng bán ra tuần đầu nhiều nhất bởi một/nhiều nghệ sĩ nữ năm 2001, vượt qua album của Destiny's ChildSurvivor - 663.000 bản và All For You của Janet Jackson với 605.000 bản.

Tại Nhật Bản, Britney bán được 66.900 bản trong tuần đầu tiên và đạt vị trí #4 trên bảng xếp hạng Oricon. Tổng cộng album đã bán được 250.000 bản tại Nhật và được chứng nhận Bạch Kim. Album cũng đạt vị trí thứ 4 tại Anh, Úc và đều được chứng nhận Bạch Kim. Tổng cộng album đã bán được hơn 2 triệu trên thị trường châu Âu, chỉ bằng một nửa so với album Oops!... I Did It Again. Album cũng bán được 316.944 bản tại Canađa nhưng đây quả là một sự sụt giảm lớn về lượng tiêu thụ, chỉ bằng 44% lượng tiêu thụ của album trước đó. Như vậy, tổng cộng Britney đã bán được 12 triệu bản trên toàn thế giới, giảm mạnh so với album trước.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

1. "I'm a Slave 4 U", single đầu album Britney, được viết và sản xuất bởi Neptunes. Ca khúc mang âm hưởng urban, với nhịp điệu chậm rãi, giọng hát sexy xen lẫn những tiếng thở mạnh của Britney, cùng với những ca từ hết sức khiêu gợi, ca khúc đã thực sự gây shock với những fan trẻ tuổi của cô lúc bấy giờ. Ca khúc đã lọt vào #4 trên UK Singles Chart,[17] nhưng lại "mở màn" cho một chuỗi những thất bại về single tại Billboard Hot 100 khi không thể lọt vào top 10. Có thể nói Britney quan tâm đặc biệt đến ca khúc này: từ màn trình diễn quảng cáo cực kỳ đỉnh cao và ấn tượng tại MTV VMAs năm 2001 (mặc dù bị chỉ trích vì quá nóng cùng với việc lạm dụng hổ và trăn bởi PETA).[18]; cho đến phần video (đạo diễn bởi Francis Lawrence [19]) gây ấn tượng về trang phục cũng như những điệu luyện hết sức cuốn hút của Britney và cuối cùng là việc Britney liên tục quảng cáo nó trong tất cả các tour lưu diễn. Phần video cũng được đề cử 3 giải MTV VMAs năm 2002,[20] và được tạp chí MuchMusic của Canađa bầu chọn ở vị trí quán quân của "50 Sexiest Music Videos of All-Time".[21]

2. "Overprotected" được phát hành là single thứ 2 trên toàn thế giới ngoại trừ Mỹ và Canađa (tại 2 quốc gia này bản remix bởi Darkchild được phát hành thay thế và là single thứ 3)[22][23]. Ca khúc được đánh giá cao và được coi là điểm sáng trong album lần này của Britney[24]. Single cũng thành công khi lọt vào top 10 ở hầu hết các quốc gia, đạt hạng 4 tại Anh.[25] mặc dù nó thất bại nặng tại Mỹ. Do có 2 phiên bản single nên cũng có 2 phiên bản MV và cả 2 đều được đánh giá cao về vũ đạo cũng như bớt gây shock hơn MV trước đó. Ca khúc đã nhận được 1 đề cử cho "Giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất".

3. "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman" là single thứ 2 tại Mỹ và Canađa (single thứ 3 ở các khu vực còn lại). Do đây là ca khúc chủ đạo của Crossroads – bộ phim đầu tay của Britney nên thời gian phát hành trùng vào dịp ra mắt bộ phim. Giới chuyên môn đánh giá cao ca khúc này và cho rằng đây là một trong những tuyên ngôn nổi bật trong Britney cũng như một trong những bản ballad hay nhất của Brit. Britney cũng coi đây là một trong những ca khúc cô yêu thích nhất. Mặc dù thành công tại nhiều nơi trên thế giới, thậm chí đạt vị trí á quân vài tuần tại Anh, song đây tiếp tục là 1 single thất bại nữa của cô tại quê nhà. Ca khúc được rất ít đài phát sóng và single thậm chí không thể leo nổi vào Billboard Hot 100. Britney cũng coi đây là một trong những ca khúc cô yêu thích nhất.

4. Các single còn lại: "Anticipating" là single thứ 4 được phát hành tại Pháp và Brazil. Giới chuyên môn khen nó với âm hưởng của nhạc disco những năm 1980. Ca khúc đạt hạng 38 tại Pháp mặc dù chỉ có màn live tại Dream Within a Dream Tour được sử dụng để quảng cáo nó. Trong khi đó "I Love Rock 'n' Roll" được phát hành tại Úc, Canađa, châu Âu (trừ Pháp). Tuy nhiên, ca khúc này bị giới chuyên môn đánh giá là 1 trong những bản cover tồi tệ nhất; tại Anh ca khúc chỉ đạt hạng 13.[26] "Boys": single thứ 4 tại Bắc Mỹ và thứ 5 tại châu Âu + Úc. Bản remix hát chung với tác giả của nó được ra mắt thay thế bản trong album[27]; và tất nhiên là bản remix được yêu thích hơn hẳn bản gốc: ca khúc tiếp tục là 1 single top 10 của Brit tại Anh, tuy nhiên vẫn tiếp tục thất bại tại Mỹ. Ca khúc cũng được sử dụng trong soundtrack bộ phim của Austin PowersAustin Powers [28]. Cùng với single đầu của album này, 2 ca khúc này liên tục được Brit quảng cáo trong tất cả các tour diễn của mình."That's Where You Take Me" là single cuối cùng và được phát hành duy nhất tại Philippines, tuy nhiên single cũng rất thành công tại đây khi đứng đầu radio địa phương trong vài tuần liền.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "I'm a Slave 4 U"   Chad Hugo, Pharrell Williams The Neptunes 3:23
2. "Overprotected"   Max Martin, Rami Yacoub Max Martin, Rami 3:18
3. "Lonely"   Britney Spears, Josh Schwartz, Brian Kierulf, Rodney Jerkins Rodney Jerkins 3:19
4. "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman"   Max Martin, Rami, Dido Max Martin, Rami 3:51
5. "Boys"   Hugo, Williams The Neptunes 3:26
6. "Anticipating"   Spears, Schwartz, Kierulf Brian Kierulf, Josh Schwartz 3:16
7. "I Love Rock 'N' Roll"   Alan Merrill, Jake Hooker Rodney Jerkins 3:06
8. "Cinderella"   Martin, Rami, Spears Max Martin, Rami 3:39
9. "Let Me Be"   Spears, Schwartz, Kierulf Rodney Jerkins 2:51
10. "Bombastic Love"   Martin, Rami Max Martin, Rami 3:05
11. "That's Where You Take Me"   Spears, Schwartz, Kierulf Brian Kierulf, Josh Schwartz 3:32
12. "What It's Like to Be Me"   Justin Timberlake, Wade Robson Wade J. Robson, Justin Timberlake 2:50
Tổng thời lượng:
39:52

Đội ngũ sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà sản xuất: Max Martin, Rodney Jerkins, The Neptunes, Rami, Wade Robson, Justin Timberlake.
  • Kĩ thuật: Max Martin, Andrew Coleman, Brian Garten, Brad Gilderman, Pablo Munguia, Rami, Michael Tucker, Yasu.
  • Trợ lý kỹ thuật: Jaime Duncan, Richard G. Johnson, Marc Stephen Lee, Charles McCrorey, Daniel Milazzo, Tim Roberts, Ryan Smith, Rich Tapper, Jill Tengan.
  • Điều chỉnh: Tom Coyne.
  • Mix: Max Martin, Stephen George, Serban Ghenea, Jean-Marie Horvat, Rami
  • Phối âm: James Biondolillo, Mark Suozzo.
  • Phối giọng: Justin Timberlake.
  • Âm thanh, âm thanh nền: Britney Spears.
  • Âm thanh nền: Justin Timberlake, Sue Ann Carwell, Tyler Collins, Albert Hall, Damion Hall, Nana Hedin, Jennifer Karr, Maxayne Moriguchi, Jeff Pescetto, Jason Scheff, Chris Thompson.
  • Nhạc sĩ hát cùng: Chad Hugo, Pharrell.
  • Bass: Thomas Lindberg.
  • Ghi-ta, ghi-ta nền: Max Martin.
  • Ghi-ta: Esbjörn Öhrwall, Nile Rodgers.
  • Nhiếp ảnh gia: Steven Klein

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Nơi cấp Vị trí
cao nhất
Chứng nhận Doanh số
Australian ARIA Albums Chart[31] ARIA 4 2x Bạch Kim 140.000
Austrian Albums Chart[32] IFPI 1 Bạch Kim 20.000
Belgium Walloon Albums Chart[33] IFPI 3 Bạch Kim 50.000
Belgium Flanders Albums Chart[34] 7
Canadian Albums Chart[35] CRIA 1 3x Bạch Kim 316.944
European Top 100 Albums IFPI 2 2x Bạch Kim 2.000.000
Finland Albums Chart[36] YLE 19 Vàng 15.000
French SNEP Albums Chart[37] SNEP 2 Bạch Kim 300.000
German Albums Chart[38] IFPI 1 Bạch Kim 300.000
Japan Oricon Album Chart RIAJ 4 Bạch Kim 250.000
Mexican Albums Chart AMPROFON 1 2x Bạch Kim 200.000
New Zealand Albums Chart[39] RIANZ 17 Vàng 7.500
Swiss Albums Chart[40] IFPI 1 2x Bạch Kim 80.000
UK Albums Chart[41] BPI 4 Bạch kim 456.000
U.S. Billboard 200 Nielsen SoundScan 1 4x Bạch Kim 5.000.000
Doanh số trên toàn thế giới
15.600.000 [42]

Bảng xếp hạng vào cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quốc gia Bảng xếp hạng Thứ hạng Doanh số
2001 Mỹ Billboard 200 #14 [43] 2.920.000
2002 Mỹ Billboard 200 #8 [44]

Bảng xếp hạng thập kỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quốc gia Bảng xếp hạng Thứ hạng
2000-2009 Mỹ Billboard 200 #64 [45]
2000-2009 Thế giới United World Chart #34 [46]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Invincible bởi Michael Jackson
Album quán quân Billboard 200
24 tháng 11 - 30 tháng 11, 2011
Kế nhiệm:
Scarecrow bởi Garth Brooks

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Kết quả
2002 Giải Grammy Album giọng pop xuất sắc nhất[47] Đề cử
2002 Giải Grammy Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho đĩa đơn Overprotected[47] Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.nme.com/reviews/britney-spears/5783
  2. ^ http://www.ew.com/ew/article/0,,183907~4~~britney,00.html
  3. ^ http://robertchristgau.com/get_artist.php?name=britney
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên britneysales
  5. ^ “Chart beat bonus”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2001.  [[]][liên kết hỏng]
  6. ^ “Britney: album information”. Live Nation.  Đã bỏ qua văn bản “]]” (trợ giúp)
  7. ^ “ultratop.be - Britney Spears - Britney”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2010. 
  8. ^ a ă â b Corey Moss (25 tháng 10 năm 2001). “Britney Says Britney Reflects Who Britney Is”. MTV Music News. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2009. 
  9. ^ Jennifer Vineyard (23 tháng 8 năm 2001). “Britney Was 'Nervous' Recording With Justin”. MTV Music News. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2009. 
  10. ^ Britney Spears: Britney - Album Reviews. Nme.Com (October 30, 2001). Retrieved on October 17, 2010.
  11. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas (November năm 2001). “Britney review”. Allmusic. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007. 
  12. ^ Britney | Music. EW.com (November 12, 2001). Retrieved on October 17, 2010.
  13. ^ [1] Được lưu trữ ngày 21 tháng tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine
  14. ^ a ă Barry Walters (22 tháng 11 năm 2001). “Britney review”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007. 
  15. ^ “Britney Spears:Britney (2001): Reviews”. Metacritic. CNET Networks, Inc. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ The New Classics: Music. Entertainment weekly, (June 18, 2007). Retrieved on October 17, 2010.
  17. ^ The Official Charts Company (tháng 8 năm 2001). “UK Albums Chart”. Every Hit. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  18. ^ “MTV Video Music Awards 2001”. MTV. 6 tháng 9 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  19. ^ D'Angelo, Joe (20 tháng 9 năm 2001). “Britney Works Double-Time On Music Videos”. MTV News.  Đã bỏ qua tham số không rõ |she had also worked with Ryan putterill url= (trợ giúp);
  20. ^ “MTV Video Music Awards 2002”. MTV. 29 tháng 8 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  21. ^ MuchMusic (2007). “50 Sexiest Videos”. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009. 
  22. ^ Billboard (21 tháng 2 năm 2002). “Britney's Bangin' The Clubs, Thanks To Rodney Jerkins”. MTV. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  23. ^ Billboard (20 tháng 3 năm 2002). “Overprotected”. AllBusiness.com. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  24. ^ Christgau, Robert (6 tháng 11 năm 2011). “Britney Spears Reviews”. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2011. 
  25. ^ The Official Charts Company (tháng 2 năm 2002). “UK Albums Chart”. Every Hit. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  26. ^ The Official Charts Company (tháng 11 năm 2002). “UK Albums Chart”. Every Hit. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  27. ^ “Britney Spears' World Debut of 'Boys (Co-ed Remix)' From Austin Powers in Goldmember Streamed 1.35 Million Times in 24 Hours, Smashing AOL Music's Previous 'First Listen' Records”. TimeWarner. 13 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  28. ^ “Get Funky With "Austin Powers" Sizzling Soundtrack”. Top40.com. 2 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  29. ^ Britney: Britney Spears: Amazon.co.uk: Music
  30. ^ Britney: Special Limted Edition. Amazon.com
  31. ^ ARIA Albums Chart
  32. ^ acharts
  33. ^ “Ultratop Belgian Charts”. ultratop.be. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009. 
  34. ^ “Ultratop Belgian Charts”. ultratop.be. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009. 
  35. ^ John Williams (10 tháng 12 năm 2008). “CANOE - JAM! Music - Artists - Spears, Britney: Britney returns to No. 1”. Jam.canoe.ca. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009. 
  36. ^ “Finland Albums chart”. 
  37. ^ Syndicat National de l'Édition Phonographique (27 tháng 5 năm 2000). “French Albums Chart”. Les Charts. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  38. ^ “Schäfer Heinrich entert die Top Ten der Single-Charts - media control”. Media-control.de. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009. 
  39. ^ New Zealand albums chart!
  40. ^ Swiss albums chart
  41. ^ http://www.bbc.co.uk/radio1/chart/albums.html UK Albums Chart
  42. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên circus_3_million
  43. ^ http://www.allbusiness.com/retail-trade/miscellaneous-retail-retail-stores-not/4661475-1.html
  44. ^ http://www.avrev.com/home-theater-news/music-software-news/record-sales-up-4-percent-in-2000-despite-napster-and-mp3-com.html |date= |accessdate=2009-03-22
  45. ^ https://archive.is/AGhh. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2012.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  46. ^ http://www.mediatraffic.de/2000-2009-album-chart.htm.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  47. ^ a ă Darryl Morden (9 tháng 1 năm 2003). “Britney Calls Cops To Escape L.A. Deli”. Yahoo! Music News. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]