Buôn Đôn (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xem nghĩa cùng tên của Buôn Đôn tại bài định hướng Buôn Đôn
Buôn Đôn
Địa lý
Huyện lỵ {{{Huyện lỵ}}}
Vị trí: Phía Tây Bắc của TP.Buôn Ma Thuột
Diện tích: 1.412,5 km²
Số xã, thị trấn: 7
Dân số
Số dân: 61.300
Mật độ: 43 người/km²
Thành phần dân tộc:
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Y - Ký Niê
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Võ Văn Tâm
Bí thư Huyện ủy: {{{HU}}}
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Website: http://buondon.gov.vn


Buôn Đôn là một huyện của tỉnh Đắk Lắk.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trực thuộc huyện Buôn Đôn gồm 7 xã:

  • Cuôr Knia
  • Ea Bar
  • Ea Huar
  • Ea Nuôl
  • Ea Wer
  • Krông Na
  • Tân Hòa

Và gồm có 90 thôn buôn. "Thị trấn Buôn Đôn" nằm ở trung tâm huyện cách Buôn Ma Thuột khoảng 20 km Cơ quan hành chính của huyện nằm trên địa bàn xã Tân Hòa.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Buôn Đôn nằm ở rìa phía tây tỉnh Đắk Lắk. Phía Nam giáp huyện Cư Jút, phía Đông Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột, phía Đông giáp huyện Cư M'gar, phía Bắc giáp huyện Ea Súp. Phía Tây huyện là biên giới với Campuchia.

Con sông Serepôk chảy cắt ngang huyện, theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, sang đất Campuchia để góp nước vào sông Mê Kông. Trung tâm huyện Buôn Đôn nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột 25 km về hướng Tây bắc theo con đường tỉnh lộ số 1. Địa danh Bản Đôn cách thị trấn Buôn Đôn 20 km về hướng Ea Súp. Huyện Buôn Đôn hiện nay có 96 thôn buôn, có trung tâm cách thành phố Buôn Ma Thuột 25 km

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tách ra từ huyện Ea Súp và một phần từ thành phố Buôn Ma Thuột từ ngày 17 tháng 10 năm 1995 trên cơ sở địa danh Bản Đôn trước đây, vốn một thời là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk. Sau này để tiện cho việc phát triển kinh tế xã hội và để chiếm giữ một vị trí an ninh quốc phòng chiến lược, người Pháp đã cho dời cơ quan hành chính về Buôn Ma Thuột, nơi có vị trí trung tâm của toàn Tây Nguyên.

Buôn Đôn là tên huyện mới đặt khi thành lập huyện mới, còn Bản Đôn cũ theo tên gọi tiếng Lào ngày xưa (sắc dân Lào chiếm đa số ở đây khi còn sơ khai) có nghĩa là "Làng Đảo" nghĩa là một ngôi làng được xây dựng trên một ốc đảo của Sông Serepôk. Đây là một trong những điểm giao thương quan trọng của 3 nước Đông Dương ngày xưa. Khi ấy, người Lào trong lúc ngược dòng sông buôn bán, bắt gặp mảnh đất này đã bị quyến rũ và ở lại cùng người Ê Đê bản địa xây dựng lên ở đây một ngôi làng trù phú. Nơi đây vốn nổi tiếng với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng, với huyền thoại về Vua Voi Khun Sa nuk, người đã bắt được và thuần dưỡng hơn 170 con voi rừng, trong đó có 1một con bạch tượng tặng vua Thái Lan và Khun Sa nuk chính là danh hiệu vua Thái Lan ban cho ông. Bản sắc dân tộc và tất cả những điều ấy, đã biến Bản Đôn trở thành thương hiệu nổi tiếng nhất của Du lịch Đắk Lắk, một nơi không thể không đến khi đến Đắk Lắk. Cho đến bây giờ vẫn có thể khẳng định: du khách trong nước và cả thế giới nay vẫn biết đến Bản Đôn nhiều hơn là cái tên Đắk Lắk, cũng giống như thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột vậy.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Buôn Đôn là huyện giàu tiềm năng và cũng là huyện năng động nhất về kinh doanh du lịch trong tỉnh Đắk Lắk. Với địa danh Bản Đôn vốn từ lâu đã được nhiều người biết đến bởi truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, kết hợp với các vệ tinh khác như Buôn Đôn đang sở hữu rất nhiều bến nước đẹp và còn tương đối nguyên vẹn như Bến nước Buôn Niêng, Buôn Kó Đung. Trong huyện còn có vườn quốc gia Yok Đôn lớn nhất nước với diện tích trên 115.500 ha nơi bảo tồn Voi châu Á và hệ sinh thái rừng khộp...

Để khởi động chương trình và biến Bản Đôn trở thành một thị trấn du lịch, một trung tâm du lịch nổi tiếng của cả nước như Đà Lạt hoặc Sa Pa, Bà Nà...trong một tương lai gần, trong kế hoạch phát triển du lịch đến 2010 tỉnh Đắk Lắk đã quy hoạch xây dựng làng Văn hóa dân tộc Buôn Niêng để bảo tồn và giới thiệu bản sắc văn hoá người Êđê bản địa (cách Buôn Ma Thuột 10 km - trên đường tỉnh lộ đi Bản Đôn. Liên kết với khu này là hệ thống các bến nước du lịch tại các buôn làng liền kề, một sản phẩm du lịch rất ăn khách bởi nét đặc sắc và bản sắc dân tộc của nó. Ở Buôn Niêng, đáng chú ý còn có Vườn cảnh Trohbư, một vườn cảnh tư nhân, với quy hoạch độc đáo mang đậm "nét rừng" với một vườn lan tự nhiên; một bộ sưu tập cây gỗ và các kiểu rừng ở Đắk Lắk; những con đường đi dạo quanh co giữa rừng hay uốn lượn theo triền dốc, bờ hồ; những ngôi nhà nhỏ giữa rừng phục vụ nhu cầu nhà nghỉ gia đình cuối tuần. Ở đây du khách còn có thể quan sát tận mắt việc trồng và chế biến cà phê của người dân, sờ tận tay những cây cà phê thuộc đủ các loài đang được trồng ở Đắk Lắk và thưởng thức những phin cà phê được chế biến theo phương pháp thủ công. Tất cả những điều ấy đã biến Vườn cảnh Trohbư trở thành một trong những khu triển lãm về cà phê quan trọng nhất trong chương trình quảng bá hình ảnh "Thủ phủ Cà phê thế giới" của tỉnh Đắk Lắk.

Voi Bản Đôn[sửa | sửa mã nguồn]

Nói đến Bản Đôn là phải nói đến voi, bởi nơi dây chính là quê hương của những người săn bắt và thuần dưỡng voi rừng Việt Nam. Tiếng tăm của họ đã một thời được truyền tụng khắp một vùng rộng lớn phía Nam Châu Á. Ở Việt Nam duy nhất chỉ có ở đây voi trở thành phương tiện sinh sống và là con vật nuôi hiền lành trong gia đình và cũng nơi đây mới có ngày hội truyền thống đua voi hàng năm.

Đến Bản Đôn, du khách có thể được cưỡi voi ngắm rừng già, lội sông hoặc nghe các già làng kể chuyện săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.

Một số hình ảnh về Bản Đôn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]