Burkina Faso

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Burkina Faso
Burkina Faso (tiếng Pháp)
Flag of Burkina Faso.svg Coat of arms of Burkina Faso.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Burkina Faso
Khẩu hiệu
Unité, Progrès, Justice
(Tiếng Pháp: "Đoàn kết, tiến bộ, công lý")
Quốc ca
Une Seule Nuit
Hành chính
 • Tổng thống
 • Thủ tướng
Blaise Compaoré
Paramanga Ernest Yonli
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Pháp
Thủ đô Ouagadougou
12°22′B, 1°31′T
Thành phố lớn nhất Ouagadougou
Địa lý
Diện tích 274.200 km² (hạng 72)
Diện tích nước ~0,1% %
Múi giờ UTC (UTC0)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập Ngày 5 tháng 8 năm 1960
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 13.925.313 người (hạng 63)
Dân số (2003) 13.228.460 người
Mật độ 51 người/km² (hạng 119)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 16.83 tỷ Dollar Mỹ
HDI (2003) 0,317 thấp (hạng 175)
Đơn vị tiền tệ Franc CFA (XOF)
Thông tin khác
Tên miền Internet .bf
Bản đồ Burkina Faso

Burkina Faso (Tiếng Việt: Buốc-ki-na Pha-xô[1]) là một quốc gia nằm ở Tây Phi. Nó có biên giới với Mali về phía bắc, Niger về phía đông, Bénin về phía đông nam, TogoGhana về phía đông nam, và Côte d'Ivoire về phía tây nam. Trước đây gọi nước Cộng hòa Thượng Volta, sau đó tháng 4 năm 1984 tổng thống Thomas Sankara đổi tên gọi để có nghĩa "Đất những người đứng lên" trong tiếng Moré và Dioula, ngôn ngữ dân tộc chính của đất nước. Trong tiếng Moré, "Burkina" nghĩa là "Những người đàn ông vẹn toàn", còn trong tiếng Dioula "Faso" có nghĩa là "Cái nhà của cha". Đất nước này giành độc lập từ Pháp năm 1960. Sự bất ổn về chính thể đã xảy ra trong thời gian từ năm 1970 đến năm 1980. Cuộc bầu cử nhiều đảng phái đầu tiên được tổ chức vào những năm 1990. Mỗi năm hàng trăm nghìn nông dân nước này di cư sang Côte d’lvoireGhana tìm công việc. Họ được gọi là Burkinabé.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ nguyên thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như tất cả các xư phía tây của châu Phi, Burkina Faso có dân cư khá sớm. Từ khoảng năm 12.000 đến 5000 TCN, ở phía bắc của đất nước đã có những người đi săn và người hái lượm; những công cụ của họ (cái nạo, cái đục và mũi tên) đã được phát hiện vào năm 1973. Những người làm nông nghiệp đã đến cư trú ở nước này vào giữa 3600 và 2600 TCN, họ để lại những kiến trúc gây ấn tượng cho cả thời nay. Việc sử dụng đồ sắt, đồ gốm và đồ đá mài nhẵn phát triển vào thời kỳ giữa 1500 và 1000 TCN. Tinh thần cũng phát triển trong thời kỳ này thể thể hiện qua các di chỉ được tìm thấy trong các nơi chôn cất người chết.

Những di tích Dogon được tìm thấy trong trung tâm phía bắc, phía bắc và vùng tây bắc. Vào giữa thế kỷ 15 và thế kỷ 16 TCN, những chủ nhân của chúng đã rời bỏ vùng này và chuyển tới vùng vách đá đứng ở Bandiagara. Người ta đã phát hiện các bức tường cao tại các địa phương ở phía tây nam của Burkina Faso (cũng như trong Côte d'Ivoire). Nhưng hiện vẫn chưa biết chủ nhân của chúng là ai.

Burkina Faso là một vùng kinh tế rất quan trọng của đế quốc Songhai trong thế kỷ 15thế kỷ 16.

Từ thuộc địa tới độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà truyền thống ở đông nam Burkina Faso.

Sau một thập niên của sự giằng xé và cạnh tranh giữa AnhPháp, thông qua hiệp ước quy định đội quân viễn chinh dưới quân đội và những người tiên phong thuộc dân sự, trong năm 1896. Thực dân Pháp đánh thắng vương quốc Ouagadougou bắt buộc phải trở thành một nước bảo hộ thuộc Pháp. Vùng phía tây, nơi này một lực lượng người trị vì Samori Ture chống lại tình trạng các thế lực phức tạp, và vùng phía đông Pháp đã chiếm đóng và năm 1897 với các chiến dịch khác nhau. Vào khoảng năm 1898, lãnh thổ tương đương Burkina Faso hôm nay đã được chiến thắng, mặc dù điều khiển nhiều phần vẫn còn không ổn định. Pháp và Anh thỏa thuận ngầm ngày 14 tháng 6 năm 1898, chấm dứt sự tranh giành giữa hai quyền thuộc địa và cơ bản không để lại dấu vết đường biên giới giữa họ. Dựa trên Pháp đã đứng ngoài cuộc chiến tranh giành lại những cộng đồng địa phương và các thế lực chính trị tiếp tục cho đến chừng 5 năm. Vào năm 1904 đế quốc thuộc địa tây Phi của Pháp với phạm vi lớn được tổ chức lại, bây giờ phần lớn được bình định lãnh thổ của lòng chảo Volta được hợp nhất vào Upper-Senegal-Niger (Haut-Sénégal et Niger) thuộc địa tây Phi của Pháp (AOF). Thuộc địa vốn có của nó thủ phủ Bamako.

Những quân dịch từ lãnh thổ tham gia mặt trận châu âu của chiến tranh thế giới thứ nhất trong các tiểu đoàn bộ binh Senegalese (Tirailleurs sénégalais). Giữa năm 19151916 các vùng phía phía tây nơi mà bây giờ là Burkina Faso và Biên giới phía đông của Mali trở thành phạm vi hoạt động của một trong những lực lượng vũ trang quan trọng chống lại chính phủ thuộc địa (Biết như cuộc chiến tranh Volta-Bani). Chính phủ Pháp cuối cùng phải đàn áp phong trào, nhưng chỉ khi sau việc bị thất bại vì được huy động lực lượng quân viễn chinh lớn nhất của nó lịch sử thuộc địa bước sang trang. Lực lượng vũ trang đối lập cũng phá hoại phía bắc Sahelian, trong khi Tuareg và nhóm liên minh vùng Dori chấm dứt sự ngừng bắn của họ với chính phủ. Đồng thời cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc vào ngày 01 tháng 03 năm 1919, sợ hãi sự tái diễn đều đặn của nổi dậy bằng vũ trang và các cân nhắc kinh tế dẫn đến chính phủ thuộc địa phân ra lãnh thổ hiện thời là Burkina Faso từ Haut Sénégal et Niger nhằm tăng cường quản lý nó. Thuộc địa mới được đặt tên Haute Volta và François Charles Alexis Édouard Hesling trở thành thống đốc đầu tiên của nó. Hesling bắt đầu thực hiện một chương trình đầy tham vọng và đã xúc tiến trồng bông xuất khẩu. Chính sách bông, dựa vào sự bắt buộc, thất bại và thu nhập đình trệ. Thuộc địa đã bị phá bỏ vào ngày 5 tháng 9 năm 1932, và lãnh thổ của nó đã được chia cắt giữa Côte d’Ivoire, MaliNiger, sự chia cắt nhiều nhất là dân số và các thành phố của Ouagadougou và Bobo-Dioulasso trải tới Côte d'Ivoire.

Quyết định đã đảo ngược trong thời điểm quần chúng chống đối mạnh thuộc địa, mãi cho đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai và ngày 4 tháng 9 năm 1947 Upper Volta đã được tái lập lại ranh giới của nó có từ năm 1932. Vào 11 tháng 12 năm 1958, nó được trao quy chể tự trị trở thành một nước cộng hòa và là thành viên Franco cộng đồng châu Phi (La Communauté Franco-Africaine). Năm 1960 đã đạt được độc lập đầy đủ. Năm 1966 sự kiện quân đội đầu tiên được lập; chế độ dân sự trở lại năm 1978. Đã có những tác động khác thường, theo chủ trương của Saye Zerbo vào năm 1980, với chiều hướng đã bị lật đổ năm 1982. Một sự táo bạo chống lại giới thiệu năm 1983, mà mang lại thuyết phục người thủ lĩnh Thomas Sankara lên lãnh đạo. Vào năm 1984 chính phủ cách mạng đã thay đổi tên là nước Burkina Faso, quốc kỳ, quốc ca của nó. Tổng thống hiện thời là Blaise Compaoré, người đã nắm quyền lực từ năm 1987 sau cuộc đảo chính giết chết Thomas Sankara.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Blaise Compaoré của Burkina Faso.

Hiến pháp ngày 2 tháng 6 năm 1991 thiết lập một chế độ bán tổng thống và một nghị viện. Tổng thống có quyền giải tán nghị viện. Tổng thống được bầu chọn trong thời hạn 7 năm. Tuy nhiên vào năm 2000, một hiến pháp quy định giảm thời hạn của tổng thống từ 7 năm xuống 5 năm. Đáng lẽ đã có một sửa đổi hiến pháp nữa vào năm 2005 nhằm ngăn tổng thống đương nhiệm Blaise Compaoré tái ứng cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Tuy nhiên, vì không gặp phải thách thức nào từ những ứng viên là những lãnh tụ đảng khác, vào tháng 10 năm 2005 hội đồng hiến pháp quyết định rằng bởi vì Compaoré đương nhiệm từ năm 2000, nên hiến pháp sửa đổi sẽ không có hiệu lực với ông khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống lần hai. Nó đã dọn đường cho ông này tái cử vào năm 2005. Vào ngày 13 tháng 11 năm 2005, Compaoré tái cử dễ dàng do các phe đối lập thiếu đoàn kết.

Nghị viện được chia làm hai viện: Thượng việnHạ viện. Có một tòa án hiến pháp bao gồm 10 thành viên, và một hội đồng kinh tếxã hội có vai trò là tư vấn thuần túy.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Burkina Faso thực hiện đường lối không liên kết, quan hệ hữu nghị với tất cả các nước nhưng ưu tiên láng giềng khu vực và đẩy mạnh quan hệ với các nước phương Tây nhất là Pháp để tranh thủ đầu tư vốn và kỹ thuật.

Năm 1996, sau khi Burkina Faso lập quan hệ ngoại giao với Đài Loan, Trung Quốc đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với nước này. Với vai trò là trung gian tích cực giải quyết xung đột nội bộ, sắc tộc tại một số nước Tây Phi (Togo, Niger), vị thế của Burkina Faso ngày càng được các nước trong khu vực và quốc tế coi trọng.

Burkina Faso là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, AU, WTO, Francophonie, ECOWAS và từng là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (khoá 2008-2009)…

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng của Burkina Faso.

Burkina Faso được chia thành 13 vùng, 45 tỉnh, và 301 huyện. Các vùng gồm:

  • Boucle du Mouhoun
  • Cascades
  • Centre
  • Centre-Est
  • Centre-Nord
  • Centre-Ouest
  • Centre-Sud
  • Est
  • Hauts-Bassins
  • Nord
  • Plateau-Central
  • Sahel
  • Sud-Ouest

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ của Burkina Faso

Burkina Faso tạo được hai kiểu địa lý chính:

  • Phần lớn của đất nước được bao bọc bởi một bán bình nguyên với địa hình phong cảnh hữu tình gợn sóng, trong vài vùng, một ít ngọn đồi cô lập, những vết tích cuối cùng của một vùng đất sơ khai.
  • phía tây nam thuộc những dạng mẫu thôn quê với dãy núi cát, nơi này đỉnh cao nhất được tìm thấy là Ténakourou (749 m, 2.450 ft). Dãy núi là biên giới rõ ràng với những dốc đá dựng đứng 150 m (490 ft) cao.

Độ cao trung bình là 400 m (1.300 ft) và giữa các địa hình khác nhau cao nhất và địa thế thất nhất là không lớn hơn 600 m (2.000 ft). Bởi vậy Burkina Faso là một nước tương đối bằng, với một vài địa phương là ngoại lệ.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đầu tiên của Burkina Faso là Thượng Volta, theo tên ba dòng sông được chảy qua đất nước: Mouhoun (trước đây gọi là Voilta đen), Nakambé (Voilta trắng) và Nazinon (Volta đỏ). Mouhoun cùng với Comoé chảy tới phía tây nam, là dòng sông duy nhất lưu lượng chảy quanh năm.

Vịnh nhỏ của Niger River vẫn tiêu hao 27% bề mặt của miền. Những nhánh sông (Béli, Gorouol, Goudébo và Dargol) là những dòng theo mùa, và luồng duy nhất khoảng 4 đến 6 tháng trong một năm những có thể gây ra những nạn lụt lớn.

Xứ sở này cũng chứa nhiều hồ. Những hồ chủ yếu là Tingrela, BamDem, và những ao nước lớn của Oursi, Béli, YomboliMarkoye.

Thiếu nước thường là một vấn đề, đặc biệt là phía bắc đất nước.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Rừng Tolotama đang trồng, Burkina Faso.

Burkina Faso có khí hậu xích đạo điển hình với hai mùa rõ rệt. Mùa mưa có lượng mưa đo được từ 600 and 900 mm. Còn vào mùa khô, gió harmattan từ Sahara thổi tới mang theo hơi nóng. Mùa mưa có thể kéo dài xấp xỉ khoảng bốn tháng, tháng năm hay tháng sáu tới tháng chín. Mùa mưa ở miền Bắc ngắn hơn.

Có thể chia làm ba khu vực khí hậu lớn:

Khu vực Shahel[sửa | sửa mã nguồn]

Sahel trong phía bắc đặc trưng tiếp nhận ít hơn 24 inch (600 mm) trận mưa mỗi năm và nhiệt độ cao 5-47 °C (40-115 °F). Savanna khí hậu nhiệt đới tương đối khô ráo, Sahel mở rộng bên ngoài Burkina Faso, từ mỏm châu Phi đến Đại Tây dương. và biên giới Sahara đến phía bắc của nó, và vùng đất phì nhiêu của Sudan tới phía nam. Nhiệt độ giới hạn được ghi là 55 °C và 47 °C.

Khu vực Sudan-Sahel[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí được đặt giữa 11°3’ và 13°5’ độ vĩ bắc, vùng Sudan-Sahel là một vùng trung chuyển xét cả về mưanhiệt độ.

Khu vực Sudan-Guinée[sửa | sửa mã nguồn]

Xa hơn nữa về phía nam, khu vực Sudan-Guinée nhận được 900 mm lượng mưa mỗi năm và có nhiệt độ bình quân thấp hơn.

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Burkina Faso có nhiều tài nguyên thiên nhiên, bao gồm: Măng gan, phốt phát, đá bọt, muối và một ít lượng vàng tự nhiên.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Những người làm nông Tarfila
Giếng Sala
Cửa hàng ở Burkina Faso.
Những người buôn bán ở Burkina Faso.

Burkina Faso là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Thu nhập (GDP) bình quân đầu người của nước này chỉ có 1.200 USD. Được xếp thứ 27 trong các nước nghèo nhất thế giới. Nông nghiệp chiếm 32% sản lượng nội địa và tạo việc làm cho 80% dân chúng. Chủ yếu là chăn nuôi gia súc, nhưng ở miền nam và tây nam, người ta cũng trồng cây lúa miến, cây ngọc trai, ngô, cây lạc, lúabông.

Thiếu việc làm đã thúc đẩy di cư. Có tới ba triệu người từ Burkina Faso sang sống ở Côte d'Ivoire. Theo Ngân hàng Trung ương Tây Phi, những người di cư mỗi năm gửi 10 tỉ Euro về Burkina Faso. Kể từ sự việc Ghana trục xuất người nhập cư năm 1967, việc di cư đã liên tục gây ra những sự căng thẳng ở những nước đến. Cuộc khủng hoảng gần đây nhất là vào năm 2003 ở Côte d'Ivoire dẫn tới sự hồi hương của 300.000 người di trú.

Một bộ phận lớn hoạt động kinh tế của quốc gia được tài trợ bằng viện trợ quốc tế.

Đơn vị tiền tệ hiện tại của Burkina Faso là đồng quan CFA.

Ngành khai mỏ khai gồm đồng, sắt, măng gan và trên hết là vàng.

Burkina Faso cũng là chủ nhà của hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ Ouagadougou, được biết đến nhiều hơn với tên tiếng Pháp là SIAO (Le Salon International de L Artisanat de Ouagadougou), một trong những hội chợ hàng thủ công quan trọng nhất châu Phi.

Hiện nay, Burkina Faso đang đẩy mạnh chính sách mở cửa, tập trung vốn, kỹ thuật vào việc phát triển nông nghiệp để tiến tới tự túc được lương thực. Ngoài việc đẩy mạnh hợp tác ở khu vực Tây Phi và ngoài các bạn hàng truyền thống như Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, SingaporeThái Lan, Burkina Faso đang tìm cách mở rộng quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế và các nước khác trong đó có Việt Nam.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng trường Liên hợp quốc ở Ouagadougou, Burkina Faso

Người Burkina Faso có tuổi thọ dự tính lúc sinh là 50. Độ tuổi trung vị của dân cư là 17.

Tốc độ tăng trưởng dân số: 3% (2006).

Dân cư tập trung chủ yếu phía nam và trung tâm đất nước, đôi khi có mật độ hơn 48 người/km². Mật độ dân cư cao là căn nguyên hàng năm của việc hàng trăm nghìn dân di cư lao động mùa vụ.

Xấp xỉ 50% dân số là người Hồi giáo; ước chừng 30% theo Cơ đốc giáo và những người theo tôn giáo truyền thống châu Phi (bái vật giáo) được khoảng 20%. Nhiều tín đồ Cơ đốc giáo kết hợp bái vật giáo vào thực hiện trong tôn giáo của họ.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hai yếu tố chính là mặt nạkhiêu vũ, chìa khóa của văn hóa Burkina Faso. Những mặt nạ được dùng trong nghi lễ hy sinh tới những vị thần và tinh thần hồn nhiên và vui vẻ trong làng, thể hiện sự ao ước của nông dân bởi lời nguyện cầu nơi chốn thiêng liêng. Nhà hát quần chúng trong thủ đô Ouagadougou, là một trung tâm văn hóa xã hội của đất nước. Ouagadougou là một trong những trục bánh xe của châu Phi, hoạt động kéo theo vào rạp chiếu phim. Mỗi năm gọi FESPACO là chủ nhân liên hoan phim châu Phi Pan. Liên hoan phim và truyền hình châu Phi của Ouagadougou là một mối quan tâm lớn của thế giới. Văn hóa nghệ thuật thì được trình bày xa hơn ở tại Laongo, những nghệ sỹ từ toàn bộ thế giới được mời đến một vùng có đá hoa cương được bày và điêu khác trên tảng đá Idrissa Ouedraogo. Có lẽ giám đốc ở châu Phi thành công về thương mại nhất từ Burkina Faso.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục ở Burkina Faso được chia thành tiểu học, trung họcđại học. Tuy nhiên, muốn đến trường phải đóng học phí. Học phí trung học trị giá xấp xỉ 65 USD (33.000 CFA) một năm, cao hơn nhiều thu nhập bình quân của các gia đình Burkinabe. Học sinh nam nhận được nhiều ưu tiên hơn trong trường học; như thế, giáo dục dành cho trẻ em gái và tỉ lệ biết chữ thấp hơn nhiều. Để theo đuổi từ tiểu học đến trung học cơ sở, từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông, hay từ trung học phổ thông lên đại học thì cần phải vượt qua những kỳ thi quốc gia. Các tổ chức giáo dục đại học bao gồm Đại học Ouagadougou, và trường đại học bách khoa ở Bobo-Dioulasso.

Có một Trường Quốc tế ở Ouagadougou (ISO), là một trường tư của Mỹ đặt trong thủ đô Ouagadougou.

Theo báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Burkina Faso là một quốc gia mù chữ nhất thế giới, với chỉ 12,8% dân số biết đọc biết viết.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]