Cá giò

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá giò
Rachycentron canadum.png
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Rachycentridae
Chi (genus) Rachycentron
Kaup, 1826
Loài (species) R. canadum
Danh pháp hai phần
Rachycentron canadum
(Linnaeus, 1766)

Cá giò (tên khoa học Rachycentron canadum) là một loài cá biển đại diện duy nhất của chi Rachycentron và họ Rachycentridae.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Cá giò tại tại Đại học Miami (Ảnh D. Benetti)
Cá cái, khoảng 8 kg (Photo D. Benetti)
Cá giò trên băng tại Open Blue Sea Farms (Ảnh Brian O'Hanlon)

Cá giò thường đơn độc, ngoại trừ quy tụ để sinh sản hàng năm, và đôi khi nó sẽ tụ tập tại các rạn san hô, xác tàu, bến cảng, phao, và ốc đảo. Nó là cá nổi, nhưng nó có thể đi vào cửa sông và rừng ngập mặn để tìm kiếm con mồi.

Nó được tìm thấy trong vùng biển nhiệt đới ấm Tây và Đông Đại Tây Dương, khắp Caribbean, và ở Ấn Độ-Thái Bình Dương trừ Ấn Độ, Úc và Nhật Bản.[1] Nó là eurythermal tức là chịu đựng một phạm vi nhiệt độ rộng, từ 1,6-32,2 °C. Nó cũng là euryhaline, sống ở độ mặn 5 tới 44,5 ppt.[2]

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Cá giò ăn chủ yếu cua, mực và cá. Nó sẽ theo loài động vật lớn như cá mập, rùa và cá đuối để ăn thức ăn thừa. Nó là một con cá rất tò mò, thể hiện chút sợ hãi với tàu thuyền.

Cá ăn thịt cá giò là không rõ nhiều, nhưng cá nục heo cờ (Coryphaena hippurus) được biết đến ăn thịt con chưa trưởng thành và cá mập mako vây ngắn (Isurus oxyrinchus) ăn con trưởng thành.

Cá giò thường bị ký sinh bởi giun tròn, sán lá, sán, copepoda, động vật đầu móc.

Loài tương tự[sửa | sửa mã nguồn]

Cá giò giống với họ hàng gần, cá ép của họ Echeneidae. Nó thiếu đầu hút của cá ép.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ditty, J. G. & Shaw, R. F. 1992. Larval development, distribution, and ecology of cobia Rachycentron canadum (Family: Rachycentridae) in the northern Gulf of Mexico. Fishery Bulletin, 90:668-677
  2. ^ Resley, M. J., Webb, K. A. & Holt, G. J. 2006. Growth and survival of juvenile cobia Rachycentron canadum cultured at different salinities in recirculating aquaculture systems. Aquaculture, 253:398-407.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]