Cá hề

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá hề
Ocellaris clownfish.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Pomacentridae
Phân họ (subfamilia) Amphiprioninae
Các chi

Amphiprion Bloch & Schneider, 1801

Premnas Cuvier, 1816

Cá hề là loài cá biển sống ở các dải đá ngầmrạn san hô. Hai mươi chín loài đã được phát hiện. Trong tự nhiên, chúng thường sống cộng sinh với hải quỳ. Tùy thuộc mỗi loài, cá hề có màu vàng, cam, đỏ nhạt, đen nhạt xen bởi các sọc trắng. Những cá thể lớn nhất có thể đạt tới 18 xentimét (7,1 in), trong khi một số chỉ ngắn 10 xentimét (3,9 in).

Đặc tính sinh học và tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Cá hề sống ở các vùng nước ấm ở Ấn Độ DươngThái Bình Dương, bao gồm dải san hô Great Barrier ReefBiển Đỏ. Một số loài phân bố bó gọn, số khác lại sống trải rộng. Chúng thường sống rất chung thủy, đặc biệt là chi HeteractisStichodactyla, và loài Entacmaea quadricolor. Cá hề ăn các động vật không xương sống có nguy cơ làm hại hải quỳ, còn phân phân của cá hề cung cấp chất dinh dưỡng cho hải quỳ. Cá hề là động vật ăn tạp. Hải quỳ lại bảo vệ cá hề khỏi các loài động vật ăn thịt khác bằng chất độc của mình.

Cá hề là loài cá duy nhất không bị nhiễm độc bởi hải quỳ. Có khá nhiều giả thuyết đã được nêu ra:

  • Dịch nhầy bao ngoài con cá cấu tạo bởi đường hơn là protein. Từ đó, hải quỳ không thể nhận ra cá hề để tấn công bằng các tế bào châm ngứa.
  • Sự đồng tiến hóa của các loài cá hề và hải quỳ đã làm cho cá hề miễn dịch được với chất độc của hải quỳ. Thí nghiệm đã cho thấy cá hề Amphiprion percula có thể tự chống lại chất độc từ Heteractis magnifica, nhưng không được hoàn toàn, một khi da không còn nước nhầy, chúng lập tức bị hải quỳ tấn công.[1]
    Một đôi cá hề màu hồng (Amphiprion perideraion)

Cá hề sống ở các khóm nhỏ trong hải quỳ. Đây cũng là nơi để chúng sinh sản. Khi con cái chết đi, Tính trạng đực sẽ trội hơn và con đực trở thành con cái.[2] Có thể gọi đây là sinh sản lưỡng tính. Bởi vì tất cả các cá hề sinh ra đều là đực, về sau có con biến thành cái và có con vẫn là đực đến khi chết[3]

Cá hề để trứng trên mỗi tầng của hải quì. Trong tự nhiên, cá hề được sinh ra trước hoặc sau ngày trăng tròn. Con bố sẽ bảo vệ trứng cho tới nở (khoảng 6 tới 10 ngày sau đó).[cần dẫn nguồn] Chúng ăn tạp: tảo, sinh vật phù du, động vật thân mềm, và các loài giáp xác nhỏ.[cần dẫn nguồn]

Tùy từng loài, cá hề có thể đẻ từ hàng trăm đến hàng nghìn trứng. Cá hề cũng thường xuyên dùng làm trang trí trong cá bể cá cảnh nước mặn.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Phân họ cá hề Amphiprioninae
  1. Chi Amphiprion khoảng 28 loài

Taxonomy[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bể nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Một con cá hề đang bơi.

Cá hề là loài cá nước mặn đầu tiên được nuôi thành công trong bể nuôi. Trước đó, việc nuôi, bắt không hợp lí khiến cá rất nhanh chết do bị căng thẳng và vẩn chuyển. Trong trường hợp không có điều kiện để san hô trong bể, có thế thay thế bằng san hô mềm

Đoạn phim ghi lại cảnh cá hề bơi quanh rạn san hô.

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mebs, D. 1994. "Anemonefish symbiosis: Vulnerability and Resistance of Fish to the Toxin of the Sea Anemone." Toxicon. Vol. 32(9):1059-1068.
  2. ^ Clownfish Change Size And gender To Move Up The Ranks
  3. ^ Kuwamora, T., Nakashima, Y. 1998. "New aspects of gender change among reef fishes: recent studies in Japan. Environmental Biology of Fishes. 52:125-135.
  4. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2011). Các loài trong Amphiprion trên FishBase. Phiên bản tháng December năm 2011.
  5. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2011). Các loài trong Premnas trên FishBase. Phiên bản tháng December năm 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]