Cá mập đầu búa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá mập đầu búa
Thời điểm hóa thạch: Middle Miocene to Present[1]
Hammerhead shark.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Chondrichthyes
Phân lớp (subclass) Elasmobranchii
Bộ (ordo) Carcharhiniformes
Họ (familia) Sphyrnidae
T. N. Gill, 1872
Sphyrnidae distribution map.svg
Các chi

Cá mập đầu búa hay gọi đơn giản là Cá mập búa là một họ cá mập thuộc Lớp Cá sụn, phân lớp Elasmobranchii, bộ Carcharhiniformes. Đặc điểm dễ nhận biết của loài này là cấu trúc sụn đặc biệt ở đầu dẹt và mở rộng sang hai bên tạo thành hình dáng của một chiếc "búa" gọi là "cephalofoil". Các loại cá mập búa thuộc hai chi là EusphyraSphyrna, trong đó phần nhiều các loại được xếp trong chi Sphyrna, riêng chi Eusphyra chỉ có một loài duy nhất là cá mập đầu cánh (Eusphyra blochii).

Chiếc búa ở đầu loài cá mập này được cho là có chức năng cảm nhận con mồi, vận động và thực hiện thao tác khi săn mồi. Khu vực sinh sống của cá mập búa là các vùng biển ấm dọc theo bờ biển và vùng thềm lục địa, được tìm thấy nhiều nhất ở vùng biển đảo Malpelo (Colombia), đảo Cocos (Costa Rica), quần đảo Hawaii (Hoa Kỳ), phía Nam và Đông Phi.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập đầu búa ở đảo Cocos, Costa Rica

Có 9 loài cá mập đầu búa được biết đến trên thế giới (thuộc 2 chi) có chiều dài từ 0,9 – 6 m và nặng từ 3 – 580 kg.[2][3][4]. Chúng có những chiếc búa có vẻ cồng kềnh nhưng khá mảnh, có cấu tạo và được sắp xếp cân đối với đầu và cơ thể để thuận lợi cho khả năng di chuyển tốc độ khi săn bắt mồi. Màu sắc của loài này chủ yếu là màu xám hoặc xanh lá nhạt ở lưng còn bụng màu trắng.

Những nghiên cứu cho thấy loài cá mập này được tiến hóa hình thành chiếc búa để tăng khả năng quan sát xung quanh [5], khi vị trí của mắt là nằm ở hai bên đầu chiếc búa khiến cho nó có tầm nhìn bao quát tới 360 độ ở mặt phẳng ở dưới (phía dưới so với nó)[6]. Giống như các loài cá mập khác, cá mập búa cũng có những cái lỗ nhỏ li ti giúp dò ra các con mồi dễ dàng hơn.

Chúng có cái miệng không cân xứng. Ban ngày, cá mập búa di chuyển theo đàn, có thể lên tới 100 cá thể, nhưng buổi tối, chúng lại là những kẻ săn mồi riêng lẻ.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Chi Eusphyra T. N. Gill năm 1862

Chi Sphyrna Rafinesque năm 1810

Ngoài ra, một loài mới được phát hiện ngoài khơi bờ biển Nam Carolina vẫn chưa có tên gọi chính thức. Người ta cũng đang xem xét thông qua một số thí nghiệm di truyền và số lượng các đốt sống để xem nó có cùng loại với cá mập búa vỏ sò hay không.[7][8]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mập búa sinh sản một lần duy nhất trong năm. Con đực sẽ cắn con cái cho đến khi nó đồng ý cho việc giao phối xảy ra. Mỗi lần lứa, cá mập búa sinh ra khoảng 12 - 15 con non (cá mập búa lớn có thể sinh từ 20 - 40 con). Những con cá mập con không được sự chăm sóc của bố mẹ mà chúng phải tự bơi với nhau về phía dòng nước ấm hơn để ở lại đó cho đến khi đủ lớn và tự săn mồi riêng lẻ được. Năm 2007, cá mập búa đầu nhọn đã được cho là có khả năng sinh sản vô tính, con cái không cần đến sự thụ tinh của con đực. Đây là loài cá mập đầu tiên được biết đến khả năng đặc biệt này.[9]

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Thức ăn của cá mập búa bao gồm , mực, bạch tuộc, động vật giáp xác, và thậm chí là các loài thuộc họ hàng của chúng như Cá đuối gai độc. Đầu độc đáo của chúng được sử dụng như một vũ khí khi đi săn. Con cá mập đầu búa sử dụng đầu của nó để làm mất khả năng tự vệ của con cá đuối gai, khiến nó yếu dần.[10] Có một loài cá mập đầu búa hung hăng và lớn hơn cả là Cá mập đầu búa lớn. Loài này ăn tạp bao gồm tất cả mực, bạch tuộc và có thể ăn thịt đồng loại (các con cá mập đầu búa khác và cả con của chính chúng).[11]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sepkoski, Jack (2002). “A compendium of fossil marine animal genera (Chondrichthyes entry)”. Bulletins of American Paleontology 364: 560. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2008. 
  2. ^ Bonnet hammerhead, umich.edu
  3. ^ “Record Hammerhead Pregnant With 55 Pups”. Discovery News. Associated Press. 1 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2008. 
  4. ^ Castro, José I., The Sharks of North America. Oxford University Press (2011), ISBN 978-0-19-539294-4
  5. ^ |McComb et al.|
  6. ^ D. Michelle McComb et al. (27 tháng 11 năm 2009). “Hammerhead shark mystery solved”. BBC News. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2010. 
  7. ^ Quattro, et. al. (tháng 12 năm 2005). “Genetic evidence of cryptic speciation within hammerhead sharks (Genus Sphyrna)”. Marine biology (Springer Berlin / Heidelberg) 148 (5): 1143–1155. doi:10.1007/s00227-005-0151-x. 
  8. ^ “Scientist Finds 'Genetically Distinct' Shark”. PhysOrg.com. Truy cập tháng 6 năm 2006. 
  9. ^ Chapman, DD; Shivji, MS; Louis, E; Sommer, J; Fletcher, H; Prodöhl, PA (22 tháng 8 năm 2007). “Virgin birth in a hammerhead shark”. Biology Letters 3 (4). doi:10.1098/rsbl.2007.0189. PMC 2390672. PMID 17519185. 
  10. ^ HAMMERHEAD SHARK - Aquatic Community
  11. ^ HAMMERHEAD SHARK - Enchanted Learning Software
  • Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2011). "Sphyrnidae" trên FishBase. Phiên bản tháng February năm 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]