Cá thủy tinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kryptopterus bicirrhis
Kryptopterus species.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Vực (domain) Eukaryota
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Liên lớp (superclass) Osteichthyes
Lớp (class) Actinopterygii
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass) Teleostei
Liên bộ (superordo) Ostariophysi
Bộ (ordo) Siluriformes
Họ (familia) Siluridae
Chi (genus) Kryptopterus
Loài (species) K. bicirrhis
Danh pháp hai phần
Kryptopterus bicirrhis
(Valenciennes, 1840)

Cá kính, còn gọi là cá trê kính, cá thủy tinh, cá nheo Ấn Độ (danh pháp khoa học: Kryptopterus bicirrhis) là một loài cá của chi Kryptopterus. Cho đến năm 1989, nó bao gồm cả một loài cá tương đối nhỏ, ngày nay được định danh là Kryptopterus minor.

Ở vùng phía Tây Borneo, cả 2 loài K. minorK. bicirrhis được gọi chung là Lais tipis trong tiếng Mã Lai, nhưng khi người dân địa phương muốn phân biệt hai loài, họ gọi cá trê kính là "Lais limpok". Tại Campuchia, chúng được gọi là "trey kes prak" và được người Khmer sử dụng như một thành phần quan trọng trong món mắm bò hốc.[2]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Sự khác biệt chính của cá kính với K. minor là vây hậu môn của cá kính, trong đó có hơn 54 và lên đến 68 tia. Cá kính cũng phát triển lớn hơn nhiều - 15 cm (5,9 in). Đầu của nó cũng nhẹ hơn bình thường.[2][3]

Cũng như loài K. minor, cá kính có thân hình trong suốt, ngoại trừ đầu, xương, và các cơ quan nội tạng. Đây là một điển hình của các loài thuộc chi Kryptopterus, vốn thiếu sắc tố cơ thể. Khi ở ngoài ánh sáng, chúng có màu ánh kim, và sẽ chuyển sang màu trắng sữa khi chết. Cá kính có hai sợi râu dài, đó là như râu nữa là cơ quan ở phía trước của vây hậu môn. Các vây lưng được tiêu giảm xuống thành một hình tam giác nhỏ, và vây ngực dài hơn so với đầu.[2][3]

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự loài K. minor, cá kính khá phổ biến ở vùng Tây Borneo. Ngoài ra, chúng còn sinh sống ở một phạm vi lớn hơn, bao gồm Sumatra, bán đảo Mã Lai và các lưu vực sông Chao Phraya và Mekong.[3]

Loài cá này sinh sống tại các con sông lớn và nước đục; chúng thường sống gần bờ. Chúng thích nghi với môn trường phù sa với nhiệt độ khá thấp so với môi trường nhiệt đới nhiều, khoảng 21-26 °C (70-79 °F). Cá kính là một loài săn mồi ban ngày và chủ yếu ăn bọ nước và thỉng thoảng là cá nhỏ hơn.[3]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Allen, D. (2011). Kryptopterus bicirrhis. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2012.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ a ă â Torres, Armi G; et al (11 tháng 2 năm 2010). “Kryptopterus bicirrhis”. FishBase. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2010. 
  3. ^ a ă â b “Kryptopterus bicirrhis”. Planet Catfish. 6 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dữ liệu liên quan tới Kryptopterus bicirrhis tại Wikispecies
  • Phương tiện liên quan tới Kryptopterus bicirrhis tại Wikimedia Commons
  • Allen, D. (2011). "Kryptopterus bicirrhis". IUCN Red List of Threatened Species. Version 2012.2. International Union for Conservation of Nature. Truy cập 9 tháng 3 năm 2013.
  • "Kryptopterus bicirrhis". Planet Catfish. 6 tháng 4 năm 2008. Truy cập 7 tháng 4 năm 2010.
  • Torres, Armi G; et al (11 tháng 2 năm 2010). "Kryptopterus bicirrhis". FishBase. Truy cập 7 tháng 4 năm 2010.