Cá thiên đường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá thiên đường
Macropodus opercularis - front (aka).jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Họ (familia) Osphronemidae
Phân họ (subfamilia) Macropodusinae
Chi (genus) Macropodus
Loài (species) M. opercularis
Danh pháp hai phần
Macropodus opercularis
(Linnaeus, 1758)
Danh pháp đồng nghĩa

Chaetodon chinensis
Labrus opercularis
Macropodus chinensis
Macropodus ctenopsoides
Macropodus filamentosus
Macropodus opercularis opercularis
Macropodus viridiauratus

Macropodus venustus

Cá thiên đường (danh pháp Macropodus opercularis), tên khác: săn sắt, sin sít, cá cờ chấm, là một loại cá nước ngọt sống ở ao hồ và ruộng lúaViệt Nam (sinh sống nhiều ở các thửa ruộng xã Lũng Vân, trải dài từ Vinh đến Tuy Hoà (ngoại trừ lưu vực sông Hương nơi chảy ra Huế và thị trấn Đông Hà, Quảng Trị). Loài này còn xuất hiện ở thượng nguồn sông Đồng Nai (chảy qua Sài Gòn), cụ thể ở vùng Đồng Tháp Mười thuộc huyện Tân Phước (tỉnh Tiền Giang). Ngoài ra trên thế giới, cá phân bố ở Lào, Campuchia, Malaysia, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước tối đa 6.7 cm nhưng có thể lớn đến 8 cm trong môi trường nuôi dưỡng. Số lượng gai vây lưng (tia cứng): 11 - 17; tia vây lưng (tia mềm): 5 - 10; gai vây hậu môn: 7 – 22; tia vây hậu môn: 9 – 15; đốt sống: 27 – 29. Đuôi hình chiếc nĩa, ở cá đực hai thuỳ đuôi kéo dài; viền ngoài gần gốc đuôi có hình răng cưa nhọn; có một chấm xanh viền đỏ nổi bật trên nắp mang; ở mẫu vật, trên thân có 7-11 sọc nổi bật và đậm màu trên nền vàng nhạt (ở cá thể sống là những sọc xanh trên nền thân màu hanh đỏ); một vạch đen kéo dài từ miệng qua mắt đến chấm xanh trên nắp mang, đầu và lưng có nhiều chấm đen, khe và viền vảy nhạt màu hơn vảy. Cá đực có màu sắc sặc sỡ còn cá cái có màu nhạt, đục hơn và cỡ nhỏ hơn.

Loại cá nhỏ này (con lớn dài khoảng 10 cm), vảy có nhiều màu sắc sặc sỡ. Cá thiên đường là một trong những loài hung hãn hơn trong họ này. Chúng tấn công nhau và có thể giết chết cá nhỏ. Trong môi trường tự nhiên, chúng là loài săn mồi với thức ăn là côn trùng, loài không xương sống, tép.

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Cá thiên đường đực thường hung dữ, khá hiếu chiến, quấy rối và tấn công (đá) lẫn nhau để tranh giành lãnh thổ cũng như có khả năng giết chết cá con nhỏ, nhất là trong mùa sinh sản. Cá đực chọn nơi yên tĩnh để nhả bọt sền sệt và dẫn dụ cá cái đến để đẻ trứng, tổ bọt thường có bán kính xấp xỉ 15 cm, số lượng trứng có thể lên đến 300, sau khi thụ tinh trứng được cá bố mẹ nhả lên tổ bọt và cá đực tiếp tục chăm sóc trứng. Trứng nở sau 1 ngày và sau 3 ngày thì cá con bơi lội tự do được. Thức ăn của cá bột là những vi sinh vật có trong nước.

Trong tự nhiên, chúng là động vật ăn thịt, ăn côn trùng, động vật không xương và trứng. Loài này là một trong số ít các loài cá có thể thay đổi màu sắc của nó (nhẹ hơn hoặc tối hơn) khi phản ứng với các kích thích.

Môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Cá thiên đường rất khỏe trong tự nhiên thích hợp với hầu hết các điều kiện nước, sống sót trong nước mát và ấm như nhau, có thể tồn tại ở các ao tù nước đọng thậm chí là cống rãnh. Chúng có thể được giữ ở hồ ngoài trời.

Sống ở miền nhiệt đới, trong môi trường nước ngọt, gần bề mặt, độ pH: 6.0 – 8.0; độ cứng dH: 5 – 19, nhiệt độ: 16 – 26°C. Khả năng chịu lạnh tuyệt vời nhiệt độ ưu thích là 23°C. Cư ngụ ở những vùng nước trũng, từ vùng bụi hoang ven bờ hay vũng nước tù ở gần sông, suối cho đến những con kênh dẫn nước bên cạnh những ruộng lúa. Ở Việt Nam, loài này còn xuất hiện ở vùng cao nguyên thượng nguồn của sông Đồng Nai. Chúng có thể sống nơi nước đục và nghèo ô-xy hoà tan (nhờ khả năng thở trực tiếp).

Chế độ ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng là động vật ăn tạp nên chấp nhận hầu như bất kỳ thực phẩm nào, tuy nhiên chúng rất chuộng một chế độ ăn uống hợp lý giàu protein (trái ngược với các loại thực phẩm thực vật dựa trên các loại được bán với cá vàng) từ mẩu thịt băm nhỏ đến các loại côn trùng. Chúng cũng thích ăn tất cả những loài động vật thuỷ sinh kích thước nhỏ (ấu trùng muỗi, sâu đen và ruồi nhỏ) kể cả cá nhỏ.

Giá trị sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Cá thiên đường được nuôi làm cảnh và là loài cá cảnh thứ hai sau cá vàng được nhập cảnh vào châu Âu (Pháp 1869, Đức 1876) bởi hình dáng nó rất đẹp, có nhiều màu sặc sỡ.

Cá thiên đường cũng được dùng để giải trí bằng cách cho cá đực chọi nhau do bản tính cá đực thường hung dữ, hiếu chiến. Lúc bấy giờ, các loại cá ngoại nhập còn rất xa lạ với lũ trẻ con miền quê, nên chơi cá thiên đường luôn là lựa chọn số một. Thêm nữa, cá dễ nuôi, dễ tìm hơn. Khi chơi, chung quanh phải mang nhiều chai lọ thủy tinh, thau nhựa, gáo dừa... đựng nhiều cá dự phòng. Bởi với cá thiên đường, con nào cừ nhất cũng chỉ có thể đủ sức để đấu đá chừng 10 phút. Nếu không mang theo cá dự phòng, cuộc vui sẽ tàn ngay.

Cá còn là món ăn đặc sản nổi tiếng ở vùng Đồng Tháp Mười thuộc huyện Tân Phước (tỉnh Tiền Giang) trước đây và cũng là loại thực phẩm phổ biến của người dân xứ Mường Bi (xã Lũng Vân, Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình).

Tình trạng bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian khoảng 10 năm trở lại đây (2002-2012) loài thủy sản này mất dạng dần và hiện tại gần như đã tuyệt chủng do quá trình khai hoang phục hóa, độ phèn chua giảm dần không còn thích nghi cho cá sinh sống. Thêm vào đó gần đây người dân các vùng nông thôn bắt cá theo kiểu hủy diệt, cộng với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước làm cho loại cá này cũng như nhiều loại thủy sản khác không còn điều kiện sinh sống. Ở các vùng khác, cá cũng bị đánh bắt đến tận diệt để làm thực phẩm mà không có một chương trình bảo tồn nào khiến số lượng cá khá ít ỏi trong tự nhiên.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Macropodus opercularis tại Wikimedia Commons