Cá trích

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sardinella
Thời điểm hóa thạch: Middle Eocene to Present
Lemuru 090604-0013 manke.JPG
Cá trích
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

(không phân hạng) Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Cận ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Osteichthyes
Lớp (class) Actinopterygii
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Cận lớp (infraclass) Teleostei
Liên bộ (superordo) Clupeomorpha
Bộ (ordo) Clupeiformes
Họ (familia) Clupeidae
Phân họ (subfamilia) Vị trí không chắc chắn
Chi (genus) Sardinella
Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1847
Các loài
21, see text.

Cá trích (danh pháp khoa học: Sardinella) là một loài biển thuộc chi cá xương, họ Cá trích (Clupeidae). Đây là một loài cá có giá trị kinh tế lớn, là đối tượng quan trọng của nghề cá thế giới. Ở Việt Nam, cá trích có khoảng 10 loài, quan trọng nhất là cá trích tròn (S. aurita) và cá trích xương (S. jussieu).[1]

Đặc điểm sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Cá trích là loại cá giống như cá mai nhưng to hơn, da có màu hơi xanh, xương nhỏ, thân dài, mỏng, hai hàm bằng nhau. Cá có răng nhỏ hoặc thiếu, vẩy tròn mỏng, dễ rụng, có loài có vẩy lược, ở sống bụng của cá có răng cưa. Cá trích có tập tính di cư thành đàn lớn.

Cá trích là một trong những nhóm cá xương có mình nhỏ tồn tại được sau thảm họa tuyệt chủng vào cuối kỷ Phấn trắng, chúng vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay ở các môi trường biển. Cá trích hóa thạch tại miền tây Hoa Kỳ nơi 3 bang Colorado, Utah, và Nevada gặp nhau.

Trong tự nhiên, cá trích là mồi của các động vật săn mồi như: chim biển, cá heo, sư tử biển, cá voi, cá mập, cá ngừ, cá tuyết, cá hồi, và các loài cá lớn khác. Đặc biệt Cá trích là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào cho đại bàng đầu trắng.

Cá trích sống ở tầng nước mặt, thường không có chỗ ẩn náu, có mình thon dài, vây chẵn phát triển bình thường, khúc đuôi khỏe, bơi nhanh.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, ngư dân thường gọi các loài cá trích mà họ đánh bắt được theo những cái tên rất riêng. Theo đó có hai loại cá trích là cá trích ve và cá trích lầm. Cá trích ve lép mình, nhiều vảy trắng xanh, thịt trắng, thơm, béo nhưng nhiều xương. Cá trích lầm mình tròn, ít vảy, nhiều thịt hơn nhưng thịt cá đỏ và không thơm ngon như trích ve.

Ngư dân ở vùng biển miền Trung Việt nam từ Quảng Nam trở vào Lagi (Hàm Tân – Bình Thuận) và Long Hải, Phước Hải của Bà Rịa Vũng Tàu thường gọi tên dân gian cá trích cỡ nhỏ (baby herring) là cá de, khi nó lớn lên thì gọi là cá trích, nó còn được gọi là cá Mắt Tráo.

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cá trích là loại cá ít tanh, ăn rất lành, thịt trắng, ít mỡ ăn rất béo và là một trong các loại cá dễ đánh bắt nhất.

Cá trích là cá nhiều dầu và trong dầu cá có chứa rất nhiều Omega-3 thường được biết tới là dạng axit béo sản xuất ra DHA, một chất thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của não bộ, tăng cường sức khỏe não bộ. Omega-3 giúp điều chỉnh huyết áp. Omega-3 đem lại những bảo vệ tích cực đối với các bệnh nhân tim mạch. Cá trích là nguồn cung cấp dầu cá dồi dào, đặc biệt là giàu lượng axit béo Omega-3. Ngoài ra cá trích còn cung cấp vitamin D rất tốt cho cơ thể. Chính vì vậy, cá trích là một trong các loại cá mà các chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn nên dùng.

Cá trích từ biển Quảng Nam ra tới Nghệ An chủ yếu được dùng làm cá sống vì hầu hết ngư dân ở đây (trước năm 2007) đều không ướp đá sau khi đánh bắt (cách bảo quản này không đúng nên cá trích này thường bị tróc da và có màu vàng) làm ra thành phẩm nhìn không đẹp và cá trích là những loại cá thích hợp để chế biến xuất khẩu và làm nước mắm. Giá cá trích khoảng 8.000 đồng/kg.

Món ăn thông dụng trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài Việt Nam, cá trích còn là nguyên liệu của những món ăn thông dụng của các nước trên thế giới. Mắm cá trích là món ăn ở châu Âu và đã trở thành một phần của khẩu phần vùng Baltic, Scandinavia, Đức, Đông Slav, cá trích cũng phổ biến trong ẩm thực của người Do Thái. Cá trích hun khói là một bữa ăn truyền thống của Đan Mạch trên đảo trong biển Baltic, Bornholm..

Cá trích là món rất khoái khẩu của người Nga, cùng với dưa chuột ri và các loại thịt nguội và các món trộn. Mắm cá trích là món ăn phổ biến ở Nga. Cá trích ngâm dấm cũng có thể được tìm thấy trong các món ăn của Hokkaido ở Nhật Bản. Ở Philippines, khô cá trích là ăn phổ biến trong bữa ăn sáng, cùng với gạo tỏi và trứng.

Gỏi cá trích Phú Quốc, miếng cá trích tươi ngon trải lên bánh tráng vừa dày vừa dai, thêm ít rau và vài sợi dừa nạo chấm với nước mắm Phú Quốc hảo hạng rất hấp dẫn thực khách.[2]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]