Cá vây cung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá vây cung
Amia calva1.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Amiiformes
Hay, 1929
Họ (familia) Amiidae
Phân họ (subfamilia) Amiinae
Chi (genus) Amia
Loài (species) A. calva
Danh pháp hai phần
Amia calva
Linnaeus, 1766

Cá vây cung (danh pháp hai phần: Amia calva) là một loài cá vây tia nguyên thủy. Hiện tại nó cũng là loài duy nhất còn sinh tồn, thuộc về họ Amiidae của bộ Amiiformes. Cá vây cung cùng một số loài cá khác, như cá láng (Lepisosteiformes) và cá tầm (Acipenseriformes), thuộc về số ít các loài cá nước ngọt còn sinh tồn đã từng sinh sống cùng thời với khủng long.

Cá vây cung sinh sống rộng khắp tại miền đông Bắc Mỹ, thông thường trong vùng có nước tù đọng chảy chậm, kênh mương hay các hồ vòng cổ. Khi hàm lượng ôxy thấp (như thường xảy ra tại những vùng nước tù đọng), cá vây cung có thể nổi lên bề mặt và nuốt không khí vào bong bóng của nó, một cơ quan có các mạch máu dẫn tới và có vai trò gần giống như phổi.

Miêu tả và sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Cá vây cung trong bể cá

Đặc trưng khác biệt nhất của cá vây cung là vây lưng rất dài của nó, bao gồm khoảng 48 tia vây, chạy từ giữa lưng tới cuống đuôi. Vây đuôi là một thùy, mặc dù dị hình[1]. Loài cá này có thể dài tới 90 cm (35,4 inch) và cân nặng tới 9,75 kg (21,5 lb)[2]. Các đặc trưng đáng chú ý khác là "đốm mắt" đen thường tìm thấy cao trên cuống đuôi và sự hiện diện của một tấm họng. Tấm họng là một tấm xương nằm trên mặt ngoài của hàm dưới, giữa 2 bên của xương hàm dưới.

Cá vây cung là cá ăn thịt đa tạp, sẵn sàng truy đuổi một loạt các loài động vật chân khớp (Arthropoda) cũng như các con mồi là động vật có xương sống, từ côn trùng hay tôm sông tới các loài cá khác và ếch nhái.

Cá vây cung đực thể hiện sự quan tâm của cá cha. Nó làm sạch một vùng bùn cho cá cái đẻ trứng và sau đó thụ tinh cho trứng. Nó lượn lờ cạnh đó và hung hãn bảo vệ trứng và cá non sau khi chúng nở ra.[3]

Đánh bắt[sửa | sửa mã nguồn]

Những con cá vây cung thường không được coi là cá thực phẩm tốt khi so với nhiều loài cá nước ngọt khác phổ biến hơn, chẳng hạn như cá chó (Esocidae) hay cá hồi nước ngọt (Salmoninae). Nói chung chúng được những người câu cá tại Hoa Kỳ coi là loại cá vô giá trị, do chúng ăn nhiều loài đáng thèm muốn hơn, như tôm sông (Astacidea). Thỉnh thoảng chúng cũng tấn công và đôi khi phá hủy mồi câu bằng các quai hàm rất khỏe của mình, nhưng nói chung chúng tấn công vào cá còn sống hay đã cắt miếng. Khi mắc câu, cá vây cung chống cự mãnh liệt. Cần phải cẩn thận khi bắt chúng, do chúng có những chiếc răng rất sắc nhọn. Chúng còn tiếp tục vùng vẫy ngay cả khi đã bị lôi khỏi mặt nước và sẽ cố cắn bất kỳ ai muốn tóm lấy chúng.

Trong tiếng Anh-Mỹ người ta còn gọi nó bằng một loạt các tên gọi khác như "dogfish" (cá chó), "mudfish" (cá bùn), "grindle" hay "grinnel","swamp muskie", "black fish" (cá đen), "cottonfish" (cá bông), "swamp bass" (cá vược đầm lầy), "poisson-castor", "speckled cat" (mèo đốm), "beaverfish" (cá hải ly), "cypress trout" hay "lawyer". Tại một số nơi ở Louisiana người ta gọi nó là "tchoupique" hay "choupique".[4]

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nelson Joseph S. (2006). Fishes of the World. John Wiley & Sons, Inc. ISBN 0471250317
  2. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2010). "Amiidae" trên FishBase. Phiên bản tháng 26-8 năm 2010.
  3. ^ Berra Tim M. (2001). Freshwater Fish Distribution. San Diego: Academic Press. ISBN 0-12-093156-7
  4. ^ Meyer, C.P. "Home." Bowfin Anglers Group. Bowfin Anglers Group. 21-3-2010.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]