Các phim ăn khách nhất năm 2013 (cập nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Các phim ăn khách nhất thế giới năm 2013

Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Các phim ăn khách nhấtIron Man 3, Despicable Me 2, The Hunger Games: Catching Fire, The Hobbit: The Desolation of Smaug, Fast & Furious 6, Monsters University, Frozen, Gravity, Man of Steel, Thor: The Dark World, The Croods, World War Z, Oz The Great and Powerful, Star Trek Into Darkness, The Wolverine [12]. Một số phim còn chiếu các nước năm mới. Các phim đứng hàng đầu 3 tháng đầu năm có Identity Thief xếp 43, Mama xếp 47, Safe Haven xếp 48, A Good Day to Die Hard xếp 52, Warm Bodies xếp 53,, Hansel and Gretel: Witch Hunters xếp 62.

Bắc Mỹ (Mỹ và Canada) [1][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim ăn khách nhất: The Hunger Games: Catching Fire, Iron Man 3, Despicable Me 2, Frozen, Man of Steel, Monsters University, Gravity, The Hobbit: The Desolation of Smaug, Fast & Furious 6, Oz The Great and Powerful đứng đầu tổng thu cả năm [13].

Các phim làm chủ các tuần: Django Unchained (trên Texas Chainsaw 3D ra mắt), Zero Dark Thirty (trên Gangster Squad và A Haunted House ra mắt), Mama (phim Broken City ra mắt xếp thứ 5), Hansel and Gretel (Parker ra mắt xếp thứ 5 và Movie 43 xếp thứ 7), Warm Bodies, Identity Thief (Side Effects ra mắt xếp thứ 3), A Good Day to Die Hard (Safe Haven từ thứ 4 tuần trước lên thứ 3, Beautiful Creatures từ 14 lên thứ 6), Identity Thief (tuần 2, xếp trên Snitch), Jack the Giant Slayer (21 and Over ra mắt xếp thứ 3), Oz The Great and Powerful (tuần giữa tháng 2, trên Jack the Giant Slayer và Identity Thief, phim Dead Man Down ra mắt xếp thứ 4). The Croods, G.I. Joe: Retaliation, Evil Dead (2013), 42, Oblivion, Pain and Gain, Iron Man 3, Star Trek Into Darkness, Fast & Furious 6, The Purge, Man of Steel, Monsters University, Despicable Me 2, The Conjuring, The Wolverine... đứng đầu các tuần tiếp theo. The Butler, Gravity, Thor: The Dark World là các phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng cuối năm tính đến cuối tháng 11.The Hobbit 2 và Frozen làm chủ các tuần tháng 12.

Các phim nghệ thuật: Behind the Candelabra chiếu tại Liên hoan phim Cannes 2013, ra mắt 26/5 trên TV (chiếu tại rạp Anh từ 7/6 xếp 8 tuần đầu), The Great Gatsby phiên bản mới ra mắt 10/5 xếp thứ 2 tuần ra mắt (chiếu tại Cannes cùng tháng). Inside Llewyn Davis đoạt giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes chiếu 6/12. Gravity chiếu mở màn tại Liên hoan phim Venice 70, và ra rạp 4/10, đề cử BAFTA phim hay nhất và phim Anh hay nhất, giải César phim ngoại ngữ hay nhất (đoạt giải BAFTA phim Anh hay nhất), làm chủ 3 tuần. 12 Years a Slave (Anh- Mỹ) đoạt giải tại Liên hoan phim Toronto và Quả cầu vàng phim chính kịch hay nhất, giải BAFTA phim hay nhất, Oscar phim hay nhất ra mắt 18/10, xếp 15 tuần ra mắt, xếp thứ 8 tuần tiếp. American Hustle (13/12 ra mắt, xếp 15 tuần đầu), Captain Phillips (11/10 ra mắt, xếp 2 tuần đầu), Dallas Buyers Club (xếp 21 tuần đầu, 15 tuần tiếp tháng 11), Gravity, Her, Nebraska (xếp 25 tuần ra mắt), Philomena (xếp 20 tuần ra mắt ở Mỹ), 12 Years a Slave, The Wolf of Wall Street được đề cử Oscar phim hay nhất tại 86th Academy Awards (The Broken Circle Breakdown - Bỉ, đã đoạt giải César phim ngoại ngữ hay nhất), The Great Beauty - Ý, đã đoạt giải BAFTA và Oscar phim ngoại ngữ hay nhất), The Hunt - Đan Mạch, The Missing Picture - Campuchia,Omar (Palestine) được đề cử phim ngoại ngữ hay nhất).

Anh [2] [3][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim ăn khách nhất: Despicable Me 2, The Hobbit: The Desolation of Smaug đứng đầu doanh thu, trên phim nội Les Miserables, Frozen, Iron Man 3. Các phim ăn khách đầu năm: Wreck-It Ralph xếp 13, Django Unchained xếp 17, The Impossible (phim Tây Ban Nha) xếp 24, A Good Day to Die Hard xếp 31, Lincoln xếp 40, phim nội Quartet xếp 42 và phim nội I Give It a Year xếp 56 cả năm. Man of Steel (Mỹ - Canada - Anh) xếp thứ 9.

Các phim làm chủ các tuần: The Hobbit: An Unexpected Journey, Les Miserables (4 tuần liên tiếp), Wreck-It Ralph, A Good Day to Die Hard, Wreck-It Ralph (tuần thứ 2, trên A Good Day to Die Hard và Mama), Hansel and Gretel: Witch Hunters (Safe Haven ra mắt xếp thứ 5), Oz The Great and Powerful, The Croods (3 tháng đầu năm). Side Effects (Mỹ) đã chiếu tại Berlin, ra mắt 8/3 xếp thứ 2 tuần ra mắt. Các tháng tiếp hầu hết là phim Mỹ đứng đầu xếp hạng các tuần. Phim nội có doanh thu cao nhất tính đến cuối năm là About Time, phát hành 4/9, xếp 44 trên Kick-Ass 2 xếp 58 (không tính Les Miserables và một số phim phát hành từ cuối năm trước).

Các phim nghệ thuật: Philomena (phim Anh hợp tác với Mỹ- Pháp ra mắt tại LHP Venice, đề cử BAFTA phim hay nhất và phim Anh hay nhất tại 67th British Academy Film Awards) xếp 28, Rush (hợp tác Anh - Đức) xếp 33. Phim Mandela: Long Walk to Freedom (Anh- Nam Phi) mới công chiếu tại Nam Phi, đầu 2014 chiếu tại Anh. Romeo and Juliet (2013) xếp 16 tuần ra mắt (từ 11/10) [14].

Pháp [4] [5][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim ăn khách nhất: Frozen, The Hobbit: The Desolation of Smaug, Despicable Me 2, Iron Man 3. Các phim ăn khách đầu năm Django Unchained xếp 5, Boule & Bill xếp 25, A Good Day to Die Hard xếp 27, Hotel Transylvania xếp 30,, Lincoln xếp 40, phim nội Alceste à bicyclette xếp 48, phim nội Vive la France xếp 49, phim nội Paulette xếp 53, Silver Linings Playbook xếp 52,, phim nội Amitiés sincères xếp 59. Các phim nội ăn khách nhất: Les profs xếp thứ 7 trên phim Now You See Me (Pháp- Mỹ) xếp thứ 9, Belle et Sébastien xếp 12 (xếp thứ 3 tuần đầu ra mắt áp chót tháng 12), tiếp đến là phim 9 mois ferme (9 Month Stretch), Boule & Bill. Jappeloup ra mắt 13/3 xếp thứ 2 tuần ra mắt xếp thứ 29. Không có phim nào trong các phim ăn khách nhất điện ảnh Pháp (năm 2014 có phim Qu'est-ce qu'on a fait au Bon Dieu ? tạm xếp 7 và Lucy tạm xếp 96).

Các phim làm chủ các tuần: The Hobbit: An Unexpected Journey (2 tuần), Django Unchained (4 tuần), Hotel Transylvania, A Good Day to Die Hard, Boule et Bill phim Pháp - Bỉ -Luxembourg. Passion - phim Pháp -Đức ra mắt tại Venice, chiếu tại Pháp 13/2/2013, vị trí 12 tuần ra mắt trong khi Les Miserables (Anh) ra mắt cùng thời điểm xếp 8 tuần đầu. Oz The Great and Powerful, G.I. Joe: Retaliation, Oblivion, Les profs (phim nội), Iron Man 3, The Great Gatsby, Fast & Furious 6, The Hangover Part III, After Earth, Star Trek Into Darkness, Man of Steel, Despicable Me 2, World War Z đứng đầu các tuần tiếp (đến đầu tháng 7). Phim nội Jappeloup ra mắt 13/3 xếp thứ 2 tuần ra mắt xếp thứ 3 doanh thu phim nội tính đến giữa tháng 7. Now You See Me, Lee Daniels' The Butler, The Hobbit: The Desolation of Smaug là các phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng cuối năm. 16 ans ou presque và Angélique (Tình sử Angélique) phiên bản mới là hai phim nội đáng chú ý ra mắt cuối năm, xếp 6 và 13 tuần ra mắt.

Các phim nghệ thuật: Phim Renoir chiếu tại Cannes năm 2012, tuần ra mắt (2/1) xếp thứ 9, tuần tiếp xếp thứ 6. Queen of Montreuil, ra mắt liên hoan phim Venice năm 2012, chiếu 20/3, The Nun (bản mới) ra mắt Liên hoan phim Berlin, ra mắt 20/3. Blue Is the Warmest Colour đoạt Cành cọ vàng, đề cử giải César phim hay nhất tại 39th César Awards, xếp thứ 4 tuần ra mắt (từ 9 tháng 10) và thứ 5 tuần tiếp (không kịp dự tranh Oscar, đại diện phim Pháp tham gia tranh giải Oscar phim ngoại ngữ hay nhất 2013Renoir chiếu tháng 1). Young & Beautiful (Jeune & jolie) chiếu tại Liên hoan phim Cannes ra mắt 21/8 tuần ra mắt xếp thứ 6, và tuần sau xếp thứ 8. Les garçons et Guillaume, à table! (Me, Myself and Mum) - đã chiếu tại Cannes, đoạt giải César phim hay nhất, phim Pháp - Bỉ đứng đầu tuần cuối tháng 11. Venus in Fur (La Vénus à la fourrure) (Pháp- Ba Lan) - chiếu tại Cannes chưa chiếu rộng. The Past (Le passé) (phim nội ra mắt tại Cannes và 17/5, đề cử giải César phim hay nhất), xếp 2 tuần đầu ra mắt, xếp 59 cả năm. Grand Central (phim Pháp- Áo, ra mắt tại Cannes, chiếu từ 28/8) xếp thứ 10 tuần ra mắt. Neuf mois ferme (9 mois ferme) xếp thứ hai tuần ra mắt. The Young and Prodigious T.S. Spivet (Pháp- Bỉ) xếp 7 tuần ra mắt. Joséphine bản mới xếp 81 cả năm[15]. Beauty and the Beast (Pháp- Đức) bản mới rời sang 2014, chiếu tại Liên hoan phim Berlin 64, không cạnh tranh giải. The Patience Stone (phim Afghanistan - Pháp chiếu tại Toronto và ra mắt tại Pháp 20/2 và 14/8 tại New York, Mỹ, không xếp hạng, xếp 40 tuần ra mắt tháng 12 ở Anh).

Đức [6][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim làm chủ các tuần: The Hobbit: An Unexpected Journey, Schlussmacher, Django Unchained (3 tuần), phim nội Kokowääh 2, A Good Day to Die Hard, Kokowääh 2 (tuần thứ 2), Hansel and Gretel: Witch Hunters, Oz The Great and Powerful, The Croods, G.I. Joe: Retaliation (3 tháng đầu). Despicable Me 2, White House Down, The Hobbit: The Desolation of Smaug là các phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng sau.

Các phim ăn khách nhất: The Hobbit: The Desolation of Smaug đứng đầu. Fack ju Göhte chiếu 7/11 lọt top phim ăn khách nhất, là phim nội duy nhất xếp thứ 2. Der Medicus (The Physician) xếp thứ 7 là phim nội đứng thứ 2 [16]. Các phim ăn khách đầu năm Kokowääh 2 xếp thứ 10, Schlussmacher xếp 11, Hansel and Gretel: Witch Hunters xếp 17, A Good Day to Die Hard xếp 21, Fünf Freunde 2 xếp 39. Phim Home from Home (Die andere Heimat – Chronik einer Sehnsucht) đoạt giải phim hay nhất Giải thưởng phim Đức xếp 18 tuần đầu (từ 28/9).

Ý[7][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim làm chủ các tuần: Mai Stati Uniti (phim nội), Playing for Keeps, Django Unchained (2 tuần), Lincoln, Warm Bodies, Il principe abusivo (4 tuần), Oz The Great and Powerful, The Croods (3 tháng đầu), Cloud Atlas (phim Đức), The Impossible là các phim ăn khách nhất 3 tháng đầu. The Wolverine (Mỹ- Anh), Despicable Me 2, phim nội Sole a catinelle là các phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng tiếp.

Các phim ăn khách nhất: Sole a catinelle phim nội đứng đầu 3 tuần đầu tháng 11, đứng đầu doanh thu từ đầu năm trên 2 phim Mỹ, phim nội doanh thu cao thứ 2 là Il principe abusivo, vị trí 5. Phim nội Colpi di fortuna xếp 11 trên The Best Offer[17]. Phim nội La migliore offerta (The Best Offer)- đoạt giải David di Donatello 2013 xếp 12. Phim La grande bellezza (The Great Beauty) (Ý- Pháp) chiếu tại Cannes, xếp thứ 2 trong tuần ra mắt và thứ 3 tuần tiếp, đại diện phim Ý tranh và dành giải Oscar phim ngoại ngữ hay nhất, giành giải thưởng phim châu Âu, chọn đề cử và dành giải César phim ngoại ngữ hay nhất xếp 22. Phim Educazione siberiana đứng thứ 2 tuần ra mắt (xếp 41 cả năm). Human Capital (Il capitale umano) đoạt giải phim hay nhất David di Donatello 2014 ra mắt tháng 12/2013.

Nga[8] [9][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim làm chủ các tuần: Three Warriors On Far Shores (phim nội), Life of Pi, Hansel and Gretel: Witch Hunters, Chinese Zodiac (Hồng Kông, 2 tuần), A Good Day to Die Hard, Metro (phim nội), Chto tvoryat muzhchiny! (phim nội) (2 tháng đầu). Legenda No. 17, Iron Man 3, Despicable Me 2, Stalingrad, Thor: The Dark World, The Hunger Games: Catching Fire là các phim làm chủ nhiều tuần nhất các tuần tiếp. Ostrov vezeniya và Yolki 3 ra mắt tháng 12 đều đứng đầu 1 tuần.

Các phim ăn khách nhất:Stalingrad phiên bản 2013 (đại diện phim Nga tranh Oscar phim tiếng nước ngoài hay nhất) đứng đầu 2 tuần khi ra mắt, đứng đầu doanh thu, The Hobbit: The Desolation of Smaug, Iron Man 3, Yolki 3. Các phim ăn khách đầu năm Life of Pi đứng 9, phim nội Legenda No. 17 (đã chiếu tại Cannes, ra mắt 18/4) xếp 9, phim nội Metro xếp thứ 39, phim Anna Karenina (Anh) xếp 50 cả năm. Ba chàng lính ngự lâm (Три мушкетёра) bản mới xếp thứ 6 tuần ra mắt. The Geographer Drank His Globe Away (Географ глобус пропил) đoạt giải phim hay nhất Nika Award ra mắt 7/11/2013. Stalingrad lả phim có doanh thu cao nhất tính từ 2004 (vượt The Irony of Fate 2 năm 2007) (phim Viy năm 2014 dựa theo tác phẩm của Nicolai Gogol tạm xếp thứ 4 sau Yolki 3, phim chuyển thể khác Sunstroke(Солнечный удар) theo tác phẩm của Ivan Alekseyevich Bunin ra mắt rộng rãi tháng 11/2014).

Ba Lan [10][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim làm chủ các tuần: The Hobbit: An Unexpected Journey (2 tuần), Sep (phim nội), The Impossible, Drogówka, phim nội Syberiada polska, Oz The Great and Powerful (3 tháng đầu). Uklad zamkniety, Gravity, Frozen (2013) là các phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng tiếp đến cuối năm.

Các phim ăn khách nhất: Drogówka đứng đầu phim nội sau 2 phim ngoại, Walesa. Czlowiek z nadziei (Walesa. Man of Hope), phim nội chiếu tại liên hoan phim Venice, được chọn đề cử Oscar phim ngoại ngữ hay nhất xếp đầu tuần đầu ra mắt (từ 4/10) xếp thứ 4, phim nội Sep xếp 13. Uklad zamkniety xếp thứ 10. La Vénus à la fourrure (Venus in Fur) (Pháp - Ba Lan) - chiếu tại Cannes, xếp 4 tuần ra mắt. Các phim ngoại ăn khách đầu năm: Zambezia (phim Nam Phi) xếp 14, The Impossible xếp 19, Django Unchained xếp 21 cả năm.

Ấn Độ [11][12][sửa | sửa mã nguồn]

Phim Bollywood: Dabangg 2 (2 tuần), Matru Ki Bijlee Ka Mandola, Inkaar, Race 2 (2 tuần), Special 26 (2 tuần), Kai Po Che (2 tuần) tiếp đến Jolly LLB, Himmatwala, Chashme Baddoor, Commando- A One Man Army, Ek Thi Daayan đứng đầu các tuần tiếp đến cuối tháng 4. Yeh Jawaani Hai Deewani (chiếu tháng 5) xếp thứ 4 cả năm trên Bhaag Milkha Bhaag, Race 2, Grand Masti và Aashiqui 2 (chiếu từ 26/4), Raanjhanaa đứng đầu tuần đầu tháng 7. Goliyon Ki Rasleela Ram-Leela đứng đầu phim Bollywood các tuần cuối tháng 11 xếp thứ 5 cả năm. Dhoom 3 phát hành tháng 12 vươn lên đứng đầu tổng thu cả năm phim Bollywood trên Chennai Express, và Krrish 3 xếp thứ 3, các phim phát hành các tháng cuối năm. Lootera dựa trên tiểu thuyết Chiếc lá cuối cùng ra 5/7 xếp 1 tuần ra mắt phim nội. Phim Bhaag Milkha Bhaag đoạt giải phim hay nhất Filmfare Award for Best Film (giải phim Bollywood) xếp thứ 6 phim Bollywood, phim Jolly LLB đoạt giải phim tiếng Hindi hay nhất Giải thưởng phim quốc gia (phim Ship of Theseus đoạt giải phim hay nhất Giải thưởng phim quốc gia 2014 (61st National Film Awards). Dhoom 3 vượt lên đứng đầu doanh thu phim tiếng Hindi (Kick, Bang Bang!, Happy New Year năm 2014 tạm xếp 4,6,7).

Phim tiếng Tamil: Vishwaroopam đứng đầu phim tiếng Tamil (xếp đầu 3 tuần) và đứng đầu doanh thu Ấn Độ đầu năm cùng với Arrambam, Singam II, Thalaivaa, Raja Rani là các phim tiếng Tamil ăn khách nhất năm. Các phim Tamil doanh thu cao khác: Paradesi đứng đầu hai tuần tháng Ba, Udhayam NH4 đứng đầu 2 tuần tháng 4, Soodhu Kavvum và Theeya Velai Seiyyanum Kumaru đứng đầu trong 3 tuần ra mắt (trong tháng 5 và 6),...Vishwaroopam xếp thứ 2 sau Enthiran năm 2010 về doanh thu phim tiếng Tamil (Kaththi, Jilla, Kochadaiiyaan, Veeram là các phim năm 2014 tạm xếp 6,8,9).

Phim tiếng Telugu: các phim Naayak, Seethamma Vakitlo Sirimalle Chettu (công chiếu tháng 1), Baadshah (công chiếu tháng 4) đứng đầu doanh thu các tháng đầu. Phim Attarintiki Daredi chiếu từ 27/9 đứng đầu phim tiếng Telugu cả năm, trên Baadshah, đoạt giải phim tiếng Telugu hay nhất Giải thưởng phim miền Nam Ấn 61 (61st Filmfare Awards South) (phim hay nhất là phim Myna chiếu từ 22/2 - trung tâm phim tiếng Kannada). Attarintiki Daredi đứng đầu phim tiếng Telugu về doanh thu, vượt Magadheera năm 2009 (Race Gurram và Yevadu của năm 2014 tạm xếp 4 và 8).

Trung Quốc [13][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim đứng đầu các tuần: Journey to the West: Conquering the Demons là phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng đầu năm. A Good Day to Die Hard, Finding Mr. Right, G.I. Joe: Retaliation, So Young, Iron Man 3, American Dreams in China, Star Trek Into Darkness, Switch đứng đầu các tuần từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 6. Man of Steel, Tiny Times (phim nội) đứng đầu các tuần tiếp. Stalingrad (2013) sau là Thor: The Dark World đứng đầu các tuần đầu tháng 11. Gravity đứng đầu tuần cuối tháng 11, trên The Hunger Games: Catching Fire và đứng đầu tuần tiếp, trên The White Storm của Hồng Kông. Personal Tailor và Police Story 2013 là hai phim nội ăn khách nhất tháng 12.

Các phim ăn khách nhất: Journey to the West: Conquering the Demons đứng đầu doanh thu, trên Iron Man 3, Personal Tailor công chiếu tháng 12. So Young đứng thứ 3 phim nội trên Pacific Rim và phim nội Young Detective Dee: Rise of the Sea Dragon phát hành 28/9 và American Dreams in China. Các phim nội đứng đầu doanh thu đầu năm The Grandmaster xếp 25, Say Yes xếp 35, Bring Happiness Home xếp 46, The Mythical Ark: Adventures in Love & Happiness không có trong top 50. Phim The Story of Zhou Enlai (周恩来的四个昼夜), American Dreams in China giành giải phim hay nhất Giải Kim Kê (29th Golden Rooster Awards), Nhất đại tông sư đoạt giải phim hay nhất Giải Bách Hoa.

Hồng Kông [14][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim ăn khách nhất: Ji Zhan (Unbeatable) chiếu từ 15/8 đứng đầu tổng thu phim nội, sau 2 phim Mỹ (Iron Man 3, Monsters University). Journey to the West: Conquering the Demons xếp 12 sau phim A Good Day to Die Hard và trên Now You See Me (Pháp - Mỹ), Yi dai zong shi (The Grandmaster) - phim nội xếp 21, Out of Inferno - phim nội xếp 23, các phim nội Hotel Deluxe - xếp 24, I Love Hong Kong 2013 - xếp 30. Nhất đại tông sư đoạt giải phim hay nhất Hong Kong Film Award.

Các phim làm chủ các tuần: Ji Zhan (Unbeatable) làm chủ nhiều tuần nhất trong năm, The Hunger Games: Catching Fire, Thor: The Dark World đứng đầu các tuần tháng 11. The White Storm, Firestorm (2013), The Secret Life of Walter Mitty mỗi phim làm chủ 1 tuần tháng 12.

Hàn Quốc [15][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim ăn khách nhất: Miracle In Cell No. 7 (đứng đầu 3 tuần) đứng đầu doanh thu, trên The Attorney (Byunhoin) là phim nội ăn khách nhất ra tháng 12, Iron Man 3, phim nội Gwansang (The Face Reader), phim Snowpiercer chiếu từ 1/8 của Hàn Quốc hợp tác với Mỹ và Pháp, The Berlin File. Shin-sae-gye (New World - đứng đầu 3 tuần đến 10/3) xếp 12, God's Men- xếp 15 cả năm. The Face Reader đoạt phim hay nhất Grand Bell Awards.

Các phim làm chủ các tuần: The Tower, God's Men, Miracle In Cell No. 7, Shin-sae-gye (New World - đứng đầu 3 tuần đến 10/3), God's Men, Shin-sae-gye (New World), Warm Bodies, Very Ordinary Couple, G.I. Joe: Retaliation, Running Man (2013), Oblivion, Iron Man 3, Fast & Furious 6, Star Trek Into Darkness, Secretly, Greatly, Man of Steel, World War Z, Gam-si-ja-deul (Cold Eyes) đứng đầu các tuần tiếp theo.... Gwansang (The Face Reader) là phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng cuối năm. L'homme qui rit (The Man Who Laughs) phim Pháp ra mắt xếp thứ 8 tuần ra mắt. The Great Gatsby xếp thứ 3 tuần ra mắt, sau Iron Man 3 và phim nội Mong-ta-joo. Nobody's Daughter Haewon, phim nội chiếu tại Berlin, ra mắt 28/2. Chingu 2 hợp tác Mỹ- Hàn Quốc ra mắt 14/11 xếp đầu 2 tuần khi ra mắt. 11 A.M. - phim nội đứng đầu tuần tiếp cuối tháng 11. The Attorney (Byunhoin) là phim nội ăn khách nhất ra tháng 12, làm chủ 2 tuần.

Nhật Bản [16][sửa | sửa mã nguồn]

Các phim ăn khách nhất: Kaze tachinu (The Wind Rises) làm chủ 7 tuần liên tiếp đứng đầu tổng thu trên Monsters University và Eien no zero. Doraemon Himitsu No Dogu Museum (Doraemon: Nobita và viện bảo tàng bảo bối bí mật), Lupin III vs. Conan và Meitantei Conan Private Eye 2013 (Thám tử Conan: Con mắt bí ẩn ngoài biển xa) là các phim nội xếp thứ 5, 6 và 7 doanh thu sau Ted. Like Father, Like Son (phim nội) đoạt giải thưởng ban giám khảo tại Cannes chiếu 28/9 xếp thứ 10. Oshin bản điện ảnh 2013 xếp thứ 5 tuần ra mắt (từ 12/10).

Các phim làm chủ các tuần: Ted và Meitantei Conan Private Eye 2013 là các phim làm chủ nhiều tuần nhất đầu năm. Kaze tachinu (The Wind Rises) công chiếu cuối tháng 7 làm chủ 7 tuần liên tiếp. Các phim Soshite chichi ni naru (Like Father, Like Son), Hidamari no kanojo (The Girl in the Sun), Kiyosu kaigi là các phim làm chủ nhiều tuần nhất các tháng cuối năm tính đến cuối tháng 11. Kaguyahime no monogatari (The Tale of Princess Kaguya) làm chủ tuần cuối tháng 11. Lupin III vs. Conan và Eien no zero làm chủ các tuần tháng 12.

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Phim nội Pee Mak Prakanong công chiếu từ 28/3 đứng đầu, trên các phim Mỹ và Mỹ hợp tác các nước khác, phim nội Yam yasothon 3 xếp thứ 20 (tính đến cuối năm)[18].

Các nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Rumani, phim Child's Pose (Poziția copilului) đoạt Gấu vàng tại Liên hoan phim Berlin lần 63, chọn đề cử Oscar phim ngoại ngữ hay nhất xếp thứ 2 tuần ra mắt (từ 8/3) (sau Oz: The Great and Powerful)[19], chiếu ở Đức và Ý trong nửa đầu năm 2013).

Đan Mạch, Jagten (The Hunt) chiếu từ 10/1 tại Đan Mạch chọn đề cử giải Oscar phim ngoại ngữ hay nhất làm chủ 3 tuần chỉ xếp sau phim nội Kvinden i buret (The Keeper of Lost Causes) ra mắt 3/10 và The Hobbit: The Desolation of Smaug. Nymphomaniac chiếu từ 25/12 xếp thứ 7 tuần ra mắt và thứ 4 tuần đầu năm 2014 và tham gia Liên hoan phim Berlin 2014, không cạnh tranh giải.

Tây Ban Nha, 10 phim đứng đầu doanh thu tính đến cuối tháng 11 đều là phim Mỹ và phim Mỹ hợp tác. Tres bodas de más (Three Many Weddings) đứng đầu phim nội, xếp 25 tổng thu phim cả năm (Ocho apellidos vascos năm 2014 đứng đầu doanh thu phim Tây Ban Nha trên The Impossible).

Mexico, hai phim lọt danh sách 10 phim ăn khách nhất có hai phim nội Instructions Not Included (No se aceptan devoluciones), và Nosotros los Nobles xếp 3 và 7. Phim Heli được chọn cho đề cử Oscar phim ngoại ngữ hay nhất xếp 12 tuần đầu ra mắt.

It Takes a Man and a Woman đứng đầu phim nội Philippin[20].

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Dügün dernek công chiếu 6/12 là phim doanh thu cao nhất (trên Fetih 1453 năm 2012 và chỉ xếp sau Recep Ivedik 4 năm 2014), The Butterfly's Dream đại diện phim nước này dự tranh Oscar phim ngoại ngữ hay nhất xếp thứ 4 (phim Kis uykusu (Winter Sleep) đoạt Cành Cọ vàng năm 2014 chỉ tạm xếp 33 bảng xếp hạng trong nước 2014). Cuối năm có các phim Hükümet kadin 2 và Su ve Ates (Water and Fire) là các phim nội ăn khách nhất[21].

Tại Bỉ, F.C. De Kampioenen tiếp nối sitcom cùng tên, và phim Marina đứng 4 và 7 cả năm, đứng đầu phim nội[22].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]