Các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chính thức ra đời ngày 1 tháng 10 năm 1949 với thế hệ lãnh đạo đầu tiên gồm Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Châu Đức và một số Đảng viên khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ đó cho đến nay bộ máy lãnh đạo của Trung Quốc có thể phân chia thành 5 thế hệ lãnh đạo, mỗi thế hệ thường có những đặc điểm chung về tư tưởng và đường lối phát triển Trung Quốc.

Thế hệ thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1949 đến năm 1976, bộ máy chính trị Trung Quốc được vận hành bởi thế hệ lãnh đạo thứ nhất với người đứng đầu là Mao Trạch Đông, ngoài ra còn có

Nhiệm Bật Thời, tổng bí thư

Lưu Thiếu Kì, 1898, chủ tịch nước, chủ tịch chính hịệp

Chu Ân Lai, 1898, thủ tướng

Châu Đức, 1886, ủy viên trưởng, Nguyên soái

Đổng Tất Vũ, 1886, phó chủ tịch nước

Tống Khánh Linh, 1893, phó chủ tịch nước

Lâm Bưu 1907, phó chủ tịch đảng, phó thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng

Diệp Kiếm Anh, 1897, phó chủ tịch quân ủy, ủy viên trưởng

Bành Đức Hòai 1898, nguyen soái, phó thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng

Lưu Bá Thừa 1892, nguyên soái, phó ủy viên trưởng, phó chủ tịch quân ủy

Khang Sinh 1898, phó chủ tịch Đảng

Lý Đức Sinh, Phó chủ tịch Đảng

Trần Bá Đạt

Tứ nhân bang.

Trần Tích Liên, phó thủ tướng, Xử lý công tác thường nhật Quân ủy

Nhiếp Vinh Trăn 1899, phó chủ tịch quân ủy, phó ủy viên trưởng

Từ Hướng Tiền 1901, phó chủ tịch quân ủy

Họ hầu hết là Đảng viên nòng cốt của Đảng Cộng sản Trung Quốc tham gia Chiến tranh Trung-Nhật, Vạn lí trường chinh và thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Thế hệ lãnh đạo này thường không có hoặc có rất ít thời gian học tập ở nước ngoài, phần lớn họ trưởng thành trên cương vị lãnh đạo chính trị hoặc quân sự trong các cuộc chiến tranh với Nhật Bản và quân đội Quốc dân đảng. Thế hệ lãnh đạo thứ nhất của Trung Quốc đều chủ trương phát triển Trung Quốc theo Chủ nghĩa MarxTư tưởng Mao Trạch Đông.

Thế hệ thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từ năm 1976 (sau khi Mao Trạch Đông qua đời) đến năm 1992 những người này chủ ýêu sinh vào thập niên 1900 - 1920. Người đứng đầu thế hệ lãnh đạo thứ hai là Đặng Tiểu Bình 1904 -1997 chủ tịch Chính hiệp, chủ tịch quân ủy, ngoài ra còn có:

Hoa Quốc Phong 1921 - 2008 Lãnh Tụ Tối cao (1976 - 1978) chủ tịch đảng, thủ tướng quốc vụ viện, chủ tịch quân ủy (bị loại bỏ năm 1982) - nhân vật quá độ

Uông Đông Hưng 1916, ủy viên thường vụ, Phó chủ tịch Đảng (bị loại bỏ năm 1980) - nhân vật quá độ

Trần Vân, 1905 - 1995, phó chủ tịch Đảng, chủ tịch ban cố vấn trung ương - bát đại nguyên lão

Lý Tiên Niệm, 1909 - 1992, chủ tịch Nước,chủ tịch Chính Hịệp - bát đại nguyên lão

Dương thượng Côn, 1907 - 1998 chủ tịch nước, phó chủ tịch quân ủy - bát đại nguyên lão

Đặng Dĩnh Siêu, 1904 -1992, Chủ Tịch Chính Hiệp, (vợ Chu Ân Lai) - bát đại nguyên lão

Bành Chân 1902 - 1997 ủy viên trưởng - bát đại nguyên lão

Vương Chấn, 1908 - 1993, phó chủ tịch nước, phó chủ tịch ban cố vấn - bát đại nguyên lão

Tống Niệm Cùng, 1909 - 2005, phó chủ tịch ban cố vấn - bát đại nguyên lão

Bạc Nhất Ba, 1908 - 2007, ủy viên bộ chính trị phó tổng lý quốc vụ viện - bát đại nguyên lão

Hồ Diệu Bang, 1915 - 1989, chủ tịch đảng, tổng bí thư

Triệu Tử Dương, 1919 - 2005, tổng bí thư, tổng lý quốc vụ viện (cách chức năm 1989)

Vạn Lý, 1916 ủy viên trưởng

Hồ Lập Khải, 1929, ủy viên thường vụ bộ chính trị (cách chức năm 1989)

Diêu Y Lâm, 1917 ủy viên thường vụ bộ chính trị, phó tổng lý quốc vụ viện

Tống Bình, 1917 trưởng ban tổ chức, ủy viên thường vụ bộ chính trị

Lưu Hoa Thanh, 1916 ủy viên thường vụ bộ chính trị phó chủ tịch quân ủy trung ương

Tập Trọng Huân 1913 - 2003 ủy viên bộ chính trị Phó ủy viên trưởng

Trương Trấn 1914 -, phó chủ tịch quân ủy

Trừ Đặng Tiểu Bình đã tham gia bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ trước năm 1949, những người còn lại đều chỉ trở thành lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc từ sau Nội chiến 1946 - 1949. Khác với thế hệ thứ nhất, rất nhiều người trong thế hệ thứ hai này được đào tạo ở nước ngoài, đặc biệt là ở Pháp. Vẫn trung thành với Tư tưởng Mao Trạch Đông nhưng thế hệ thứ hai đã bắt đầu tập trung vào việc phát triển kinh tế theo đường lối được đặt ra trong Lý luận Đặng Tiểu Bình. Thế hệ lãnh đạo thứ hai này là những người khởi xướng và thực hiện cuộc Cải cách kinh tế Trung Quốc biến Trung Quốc từ một quốc gia suy sụp bởi Cách mạng Văn hoá, Đại nhảy vọt thành đất nước phát triển nhanh nhất châu Á trong vòng hơn 2 thập kỉ.

Thế hệ thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1992 đến năm 2003, lãnh đạo Trung Quốc là thế hệ thứ ba với người đứng đầu là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ tịch nước, chủ tịch quân ủy trung ương Giang Trạch Dân 1926, ngoài ra còn có:

Lý Bằng, 1928, ủy viên thường vụ bộ chính trị, ủy viên trưởng, thủ tướng quốc vụ viện

Kiều Thạch, 1924 ủy viên thường vụ bộ chính trị, ủy viên trưởng ủy ban thường vụ đại hội đại biểu nhân dân tòan quốc

Chu Dung Cơ, 1928, ủy viên thường vụ bộ chính trị, thủ tướng quốc vụ viện

Lý Thuỵ Hoàn. 1934, ủy viên thường vụ bộ chính trị,chủ tịch chính trị hiệp thương nhân dân

Lý Lam Thanh 1932, ủy viên thường vụ bộ chính trị, phó thủ tướng quốc vụ viện

Úy kiện Hành 1931, ủy viên thường vụ bộ chính trị, bí thư ban kiểm tra kỷ luật

Trương Vạn Niên 1928, phó chủ tịch quân ủy

Trì Hạo Điền 1929, phó chủ tịch quân ủy

Đây là những người hoàn toàn không có kinh nghiệm cách mạng, họ trưởng thành từ sau năm 1949 và hầu hết trải qua thời gian học tập ở Liên Xô. Thế hệ này tiếp tục lãnh đạo giai đoạn bùng nổ của kinh tế Trung Quốc được bắt đầu từ thế hệ thứ hai. Tư tưởng lãnh đạo mới được phát triển trong giai đoạn này là Thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân.

Thế hệ thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là thế hệ lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 11 năm 2002. Người đứng đầu thế hệ này là Hồ Cẩm Đào, ngoài ra còn có:

Ngô Bang Quốc 1941, ủy viên trưởng ủy ban thường vụ đại hội đại bỉểu

Ôn Gia Bảo, 1942, thủ tướng quốc vụ vịện

Giả Khánh Lâm, 1940, chủ tịch chính hịệp

Tăng Khánh Hồng, 1939, bí thư ban bí thư, phó chủ tịch nước

Hòang Cúc, 1936, ủy viên thường vụ bộ chính trị, phó thủ tướng

Ngô Quan Chính, 1938, ủy viên thường vụ bộ chính trị, bí thư ban kiểm tra

Lý Trường Xuân 1944, ủy viên thường vụ bộ chính trị

La Cán, 1935, ủy viên thường vụ bộ chính trị, bí thư ban chính pháp

Hạ Quốc Cường 1942, ủy viên thường vụ bộ chính trị, bí thư ban kiểm tra

Chu Vĩnh Khang 1942, ủy viên thường vụ bộ chính trị, bí thư ban chính pháp

Quách Bá Hùng 1942, phó chủ tịch thứ nhất quân ủy trung ương

Tào Cương Xuyên 1935, ủy viên bộ chính trị, ủy viên quốc vụ, bộ trưởng quốc Phòng, phó chủ tịch quân ủy

Từ Tài Hậu, 1943, phó chủ tịch quân ủy

Phần lớn trong số này là các kĩ sư tốt nghiệp trong nước (đặc biệt là từ Đại học Thanh Hoa) và có ít thời gian học tập ở nước ngoài (do ảnh hưởng từ sự kiện Trung-Xô chia rẽ và cuộc Cách mạng văn hoá). Tư tưởng lãnh đạo của thế hệ thứ tư là học thuyết Xã hội hài hoà của Hồ Cẩm Đào. Đội ngũ nòng cốt của thế hệ thứ tư phần lớn không thay đổi sau Đại hội toàn quốc 17 năm 2007, vì vậy họ sẽ tiếp tục lãnh đạo Trung Quốc ít nhất là cho đến Đại hội 18 năm 2012.

Thế hệ thứ năm[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từ sau Đại hội 18 năm 2012 đến Đại hội 20 năm 2022. Đại đa số họ là con em lãnh đạo cao cấp qua các thời kỳ, đứng đầu là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch quân ủy trung ương Tập Cận Bình và 7 ủy viên thường vụ Bộ Chính trị.

Tập Cập Bình, 1953 tổng bí thư, chủ tịch nước, chủ tịch quân ủy - (con trai phó ủy viên trưởng Tập Trọng Huân)

Lý Khắc Cường, 1955, thủ tướng quốc vụ viện

Trương Đức Giang, 1946, ủy viên trưởng (con trai Trương Chí Nhất, Thíếu tướng)

Du Chính Thanh, 1945, chủ tịch chính hiệp (con trai Du Kỳ Vĩ, cựu thị trưởng Thiên Tân và là chồng cũ của Giang Thanh, sau là vợ bé của Mao Trạch Đông)

Lưu Vân Sơn, 1947, bí thư ban bí thư (người đỡ đầu là Bạc Nhất Ba)

Vương Kỳ Sơn, 1948, bí thư ban kiểm tra

Trương Cao Lệ, 1946, phó thủ tướng thứ nhất

Lý Nguyên Trìêu, 1950, uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch nước

Phạm trường Long, 1949, phó chủ tịch quân ủy

Hứa Kỳ Lượng, phó chủ tịch quân ủy

Thế hệ thứ sáu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quy định về tuổi tác và nhiệm kỳ thì Tập Cận Bình sẽ phải về hưu sau đại hội năm 2022, và sau đại hội năm 2017 thì 5 trên 7 ủy viên thường vụ hiện nay sẽ phải về hưu nhường chỗ cho các gương mặt mới cũng như đại diện của thế hệ thứ 6. Hiện nay có 2 gương mặt của thế hệ thứ 6 nhưng người sinh vào thập niên đầu 1960 và 3 người sinh cuối thập niên 1950 là thế hệ chuyển tiếp của 5 và 6 tức họ sẽ giữ chức ủy viên thường vụ ở nhiệm kỳ cuối của thế hệ thứ 5 và nhiệm kỳ đầu của thế hệ thứ 6 đó là:

Hồ Xuân Hoa, 1963, ủy viên bộ chính trị, bí thư Quảng Đông

Tôn Chính Tài, 1963, ủy viên bộ chính trị, Bí Thư Trùng Khánh, cựu bộ trưởng Nông Nghiệp,

Triệu Tề Lạc, 1957, ủy viên bộ chính trị, ủy viên ban bí thư, Bộ trưởng bộ Tổ Chức Trung Ương Đảng

Uông Dương, 1955, ủy viên bộ chính trị, Phó thủ tướng quốc vụ viện

Vương Hộ Ninh, 1955, ủy viên bộ chính trị,Trưởng ban nghiên cứu chính sách Trung Ương Đảng

Xét tuổi tác thì Thủ Tướng Lý Khắc Cường 1955 sẽ 67 tuổi vào năm 2022 vẫn có thể ở lại nhưng tới khi đó thì ông ta đã có 3 nhiệm kỳ ủy viên thường vụ và 2 nhiệm kỳ thủ tướng nên khó có thể sắp xếp vào vị trí nào, chức Tổng Bí thư thì khó vì ông ta chỉ còn 1 nhiệm kỳ, tuy vậy cũng có thể chuyển sang làm ủy viên trưởng như trường hợp của Lý Bằng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]