Các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chính thức ra đời ngày 1 tháng 10 năm 1949 với thế hệ lãnh đạo đầu tiên gồm Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Châu Đức và một số Đảng viên khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ đó cho đến nay bộ máy lãnh đạo của Trung Quốc có thể phân chia thành 5 thế hệ lãnh đạo, mỗi thế hệ thường có những đặc điểm chung về tư tưởng và đường lối phát triển Trung Quốc.

Thế hệ thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1949 đến năm 1976, bộ máy chính trị Trung Quốc được vận hành bởi thế hệ lãnh đạo thứ nhất với người đứng đầu là Mao Trạch Đông, ngoài ra còn có Chu Ân Lai, Châu Đức, Lưu Thiếu Kì, Tập Trọng Huân, giai đoạn sau có thêm Lâm BưuTứ nhân bang. Họ hầu hết là Đảng viên nòng cốt của Đảng Cộng sản Trung Quốc tham gia Chiến tranh Trung-Nhật, Vạn lí trường chinh và thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Thế hệ lãnh đạo này thường không có hoặc có rất ít thời gian học tập ở nước ngoài, phần lớn họ trưởng thành trên cương vị lãnh đạo chính trị hoặc quân sự trong các cuộc chiến tranh với Nhật Bản và quân đội Quốc dân đảng. Thế hệ lãnh đạo thứ nhất của Trung Quốc đều chủ trương phát triển Trung Quốc theo Chủ nghĩa MarxTư tưởng Mao Trạch Đông.

Thế hệ thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từ năm 1976 (sau khi Mao Trạch Đông qua đời) đến năm 1992. Người đứng đầu thế hệ lãnh đạo thứ hai là Đặng Tiểu Bình, ngoài ra còn có Trần Vân, Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Tống Bình. Trừ Đặng Tiểu Bình và Diệp Kiếm Anh đã tham gia bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ trước năm 1949, những người còn lại đều chỉ trở thành lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc từ sau Nội chiến 1946 - 1949. Khác với thế hệ thứ nhất, rất nhiều người trong thế hệ thứ hai này được đào tạo ở nước ngoài, đặc biệt là ở Pháp. Vẫn trung thành với Tư tưởng Mao Trạch Đông nhưng thế hệ thứ hai đã bắt đầu tập trung vào việc phát triển kinh tế theo đường lối được đặt ra trong Lý luận Đặng Tiểu Bình. Thế hệ lãnh đạo thứ hai này là những người khởi xướng và thực hiện cuộc Cải cách kinh tế Trung Quốc biến Trung Quốc từ một quốc gia suy sụp bởi Cách mạng Văn hoá, Đại nhảy vọt thành đất nước phát triển nhanh nhất châu Á trong vòng hơn 2 thập kỉ.

Thế hệ thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1992 đến năm 2003, lãnh đạo Trung Quốc là thế hệ thứ ba với người đứng đầu là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân, ngoài ra còn có Lý Bằng, Châu Dung Cơ, Kiều Thạch, Lý Thuỵ Hoàn. Đây là những người hoàn toàn không có kinh nghiệm cách mạng, họ trưởng thành từ sau năm 1949 và hầu hết trải qua thời gian học tập ở Liên Xô. Thế hệ này tiếp tục lãnh đạo giai đoạn bùng nổ của kinh tế Trung Quốc được bắt đầu từ thế hệ thứ hai. Tư tưởng lãnh đạo mới được phát triển trong giai đoạn này là Thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân.

Thế hệ thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là thế hệ lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 11 năm 2002. Người đứng đầu thế hệ này là Hồ Cẩm Đào, ngoài ra còn có Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo, Tăng Khánh Hồng, Giả Khánh LâmNgô Nghi. Phần lớn trong số này là các kĩ sư tốt nghiệp trong nước (đặc biệt là từ Đại học Thanh Hoa) và có ít thời gian học tập ở nước ngoài (do ảnh hưởng từ sự kiện Trung-Xô chia rẽ và cuộc Cách mạng văn hoá). Tư tưởng lãnh đạo của thế hệ thứ tư là học thuyết Xã hội hài hoà của Hồ Cẩm Đào. Đội ngũ nòng cốt của thế hệ thứ tư phần lớn không thay đổi sau Đại hội toàn quốc 17 năm 2007, vì vậy họ sẽ tiếp tục lãnh đạo Trung Quốc ít nhất là cho đến Đại hội 18 năm 2012.

Thế hệ thứ năm[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là thế hệ tiềm năng được cho là sẽ trở thành lãnh đạo Trung Quốc từ sau Đại hội 18 năm 2012. Từ sau Đại hội 17, người được cho là đứng đầu thế hệ này là Lý Khắc Cường[1], Phó thủ tướng, Bí thư tỉnh uỷ Liêu Ninh và là cựu Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc. Tuy vậy sau Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc năm 2008, Tập Cận Bình, tân Phó Chủ tịch nước (thay Tăng Khánh Hồng), đã nổi lên như một ứng cử viên tiềm năng cho vị trí Tổng bí thư của Hồ Cẩm Đào. Tập Cận Bình, con trai của một lãnh đạo thế hệ thứ nhất (Tập Trọng Huân), từng là Phó chủ tịch tỉnh Phúc Kiến và Bí thư thành uỷ Thượng Hải sau vụ việc của Trần Lương Vũ. Một số nhân vật tiềm năng khác cho thế hệ thứ năm là Lý Nguyên Triều (Bí thư tỉnh uỷ Giang Tô), Bạc Hy Lai (Bí thư thành uỷ Trùng Khánh) và , Vương Kỳ Sơn (Thị trưởng Bắc Kinh), Uông Dương (Bí thư thành uỷ Quảng Đông), Trương Cao Lệ (Bí thư thành uỷ Thiên Tân), Lưu Diên Đông (uỷ viên nữ duy nhất của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc). Nếu như thế hệ thứ tư phần lớn tốt nghiệp đại học với bằng kĩ sư thì thế hệ thứ năm đã có cả những chuyên gia về kinh tế và quản lí, bao gồm cả các lãnh đạo doanh nghiệp. Phần lớn trong số này có thời gian học tập tại các trường đại học hàng đầu của Mỹchâu Âu. Họ hầu hết đều có thời gian lãnh đạo tại Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc[2].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]