Cầy mangut Madagasca

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cáo đuôi nhỏ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Eupleres goudotii
Falanouc.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Eupleridae
Chi (genus) Eupleres
Doyère, 1835
Loài (species) E. goudotii
Danh pháp hai phần
Eupleres goudotii
Doyère, 1835[2]
Genus Eupleres range map.svg

Cầy mangut Madagasca, đôi khi còn được gọi là Cáo đuôi nhỏ [3] (danh pháp hai phần: Eupleres goudotii) là một loài động vật có vú trong họ Eupleridae, bộ Ăn thịt. Loài này được Doyère mô tả năm 1835.[2] Đây loài đặc hữu Madagascar.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cầy mangut Madagasca là động vật có vú nhỏ (khoảng 45-65 cm chiều dài với một cái đuôi dài 22-25 cm và cân nặng 2-4,5 kg).[4] Bề ngoài tương đối giống các loài cầy lỏn (cầy mangut) và cầy civet với chiếc đầu dài, nhỏ, mõm nhọn, chân ngắn. Vuốt không quặp và bộ răng giống như động vật ăn sâu bọ. Bộ lông dày màu nâu.[5]

Lối sống[sửa | sửa mã nguồn]

Cầy mangut Madagasca sống chủ yếu trong các khu rừng nhiệt đới trên vùng đất thấp phía đông Madagascar. Chúng sống đơn độc và nhút nhát, có lối sống ban đêm hay nhưng cũng cả ban ngày.[1] Con mồi chủ yếu của nó dường như là các loài động vật không có xương sống như giun, ốc sên, ốc, và ấu trùng.[4][5][6]

Giao phối diễn ra trong tháng Bảy và tháng Tám và con non được sinh ra giữa tháng Mười một và tháng Một. Con mẹ sinh một hoặc hai con. Các con non nặng khoảng 150 g khi sinh và mở mắt sau khi sinh. Trong vòng hai ngày sau khi sinh, con non có thể bắt chước mẹ trong quá trình tìm kiếm thức ăn. Chúng được cai sữa khi chín tuần tuổi.[5]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Eupleres goudotii tại Wikimedia Commons