Câu Tiễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Câu Tiễn
Quốc quân nước Việt (chi tiết...)
Một hình ảnh của Câu Tiễn.
Một hình ảnh của Câu Tiễn.
Tại vị 496 TCN - 465 TCN
Tiền nhiệm Doãn Thường
Kế nhiệm Lộc Dĩnh
Tên thật
Tự Câu Tiễn
Tước hiệu
Việt Vương
Thân phụ Doãn Thường
Kiếm của Việt Vương Câu Tiễn

Việt Vương Câu Tiễn (chữ Hán: 越王句踐; trị vì 496 TCN - 465 TCN) là quốc quân của nước Việt (ngày nay là Thượng Hải, bắc Chiết Giang và nam Giang Tô) cuối thời kỳ Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.

Mục lục

Nguồn gốc

Theo Sử ký, Câu Tiễn là dòng dõi vua Thiếu Khang nhà Hạ, tên họ là Tự Câu Tiễn (姒句踐). Tổ tiên của ông là con thứ hai của Thiếu Khang, em vua Hạ Trữ.

Câu Tiễn là con trai của Doãn Thường, cháu hai mươi đời của vua Thái Khang, dòng dõi vua Vũ nhà Hạ.

Vua bại trận

Năm 496 TCN, Ngô vương Hạp Lư nghe tin Doãn Thường chết, bèn đem quân đánh Việt. Câu Tiễn mang quân ra chống cự. Ông sai những kẻ sĩ quyết liều chết ra khiêu chiến. Họ dàn thành ba hàng, tiến đến trận tuyến quân Ngô, thét lên rồi tự đâm vào cổ. Quân Ngô đang mải nhìn thì Câu Tiễn thúc quân Việt thừa cơ đánh úp. Quân Việt đại thắng quân Ngô ở thành Huề Lý. Quân Việt bắn trúng Ngô vương Hạp Lư.

Quân Ngô thua to, bỏ chạy về nước. Hạp Lư bị trúng tên, sắp chết, bảo con là Phù Sai:

"Thế nào cũng đừng quên đánh Việt".

Ba năm sau Câu Tiễn được tin Ngô vương Phù Sai ngày đêm luyện quân sĩ, sắp sửa đánh Việt để trả thù. Ông muốn mang quân ra đánh trước khi quân Ngô xuất trận. Phạm Lãi can nhưng Câu Tiễn không nghe, bèn cất quân. Ngô vương Phù Sai nghe tin đem tất cả tinh binh đánh quân Việt thua to ở Phù Tiêu. Câu Tiễn bèn đem 5000 quân còn lại giữ và trốn tránh ở núi Cối Kê.

Phù Sai đuổi đến, bao vây Cối Kê. Câu Tiễn bảo Phạm Lãi:

"Ta vì không nghe lời ngươi cho nên đến nông nỗi này. Bây giờ làm thế nào?"

Phạm Lãi nói:

"Nhà vua hay dùng lời lẽ khiêm nhuợng, lấy lễ hậu để đưa cho người ta. Nếu người ta không nghe thì thân hành đến thờ người ta".

Câu Tiễn nghe theo, bèn sai đại phu Văn Chủng đến cầu hòa với Ngô. Phù Sai sắp ưng thuận thì Ngũ Tử Tư can:

"Trời đem nước Việt cho nước Ngô, xin đại vương đừng nghe".

Văn Chủng trở về báo với Câu Tiễn. Câu Tiễn muốn giết vợ con, đốt của cải châu báu, xông ra đánh để chịu chết. Văn Chủng ngăn Câu Tiễn nói:

Quan thái tể của Ngô tên là Bá Hi là người tham lam có thể dùng lợi để dụ dỗ. Xin nhà vua cho tôi lẻn đến để nói với ông ta.

Câu Tiễn bèn sai Chủng đem gái đẹp, của quý lẻn đến đưa cho Bá Hi. Bá Hi nhận rồi nói giúp với Ngô vương. Phù Sai nghe theo, cho nước Việt đầu hàng. Nước Việt không bị tiêu diệt nhưng Câu Tiễn bị bắt về nước Ngô.

Gian khổ chiến đấu chống quân Ngô

Sau 3 năm phục dịch và chịu nhục cùng với vợ ở nước Ngô, ông đã dành được sự tin tưởng của Ngô Vương và được Ngô Vương cho quay về Việt Quốc. Ông đã tiếp tục cai trị và tiến hành cải cách lớn. Trong thời gian này, ông đã trọng dụng Văn ChủngPhạm Lãi là những nhà quân sư chính trị, quân sự tài ba để xây lại Việt Quốc. Câu Tiễn bên trong nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả vờ tuân phục, hằng năm đều đặn triều cống. Việt vương giao Phạm Lãi bí mật luyện tập quân đội, tích trữ quân lương. Cùng lúc, Phạm Lãi dùng mỹ nhân kế đem người yêu của mình là Tây Thi (một trong Tứ đại Mỹ nhân Trung Hoa) và Trịnh Đán dâng cho Ngô vương Phù Sai làm cho Phù Sai hoang dâm, xa xỉ, bỏ bê chính sự, giết hại trung thần Ngũ Tử Tư (một trong những trụ cột chính của đất nước). Trong thời gian này, các quan chức của Việt Vương cũng phá hoại nội bộ của Ngô Quốc bằng các thủ đoạn hối lộ và tung tin thị phi. Việt Vương Câu Tiễn đã kiên trì theo đuổi mục tiêu phục thù bằng cách tự đày đọa chính mình như kê gối bằng gỗ khi ngủ, ăn thức ăn của những người nghèo khó, … theo như câu thành ngữ Trung Hoa "nếm mật nằm gai" (, "ngọa tân thường đảm").

Sau 10 năm phục hưng kinh tế, quân sự và cải cách chính trị, Việt Quốc đã trở nên hùng mạnh và cuối cùng đã thôn tính Ngô Quốc năm 473 trước Công Nguyên. Ngô Vương Phù Sai bị buộc phải tự vẫn.

Làm bá chư hầu

Cuối cùng Câu Tiễn đã tiêu diệt được Phù Sai, rửa được cái nhục ở Cối Kê. Phù Sai tự vẫn không đầu hàng, ông sai chôn Ngô vương và giết thái tể Bá Hi phản chủ.

Sau khi Câu Tiễn đã bình định được nước Ngô, bèn đem quân về hướng bắc, vượt sông Hoài cùng các nước chư hầu là Tề, Tấn, họp ở Từ Châu, nộp cống cho nhà Chu. Vua Chu Nguyên Vương ban thịt đến Câu Tiễn, cho Câu Tiễn làm bá.

Sau khi đã vượt qua phía nam sông Hoài, Câu Tiễn bèn lấy đất trên sông Hoài cho nước Sở, trả cho nứoc Tống đất Ngô đã lấy của nứoc Tống, trả cho nước Lỗ dải đất một trăm dặm ở phía đông sông Tứ. Bấy giờ quân của Việt làm bá chủ ở phía đông sông Giang, sông Hoài. Chư hầu đều mừng gọi Câu Tiễn là bá vương.

Giết công thần

Khi đại sự thành công, Phạm Lãi cho rằng Câu Tiễn là người hoạn nạn thì có nhau, nhưng vui thì khó lòng mà ở được. Phạm Lãi bèn viết thư từ biệt Câu Tiễn:

Tôi nghe: "Vua lo thì tôi phải khó nhọc, vua nhục thì tôi phải chết"! Hồi xưa nhà vua chịu nhục ở Cối Kê, tôi sở dĩ chưa chết là vì còn phải trả thù. Nay đã rửa được nhục rồi, tôi xin chết theo tội ở Cối Kê!

Rồi bỏ đi ẩn dật. Trước khi đi, Phạm Lãi gửi thư về cho đại phu Văn Chủng nói:

Chim đã hết thì cung tốt phải cất, thỏ khôn đã chết thì chó săn bị nấu. Vua Việt là người cổ dài, miệng diều hâu có thể cùng lúc lo hoạn nạn, nhưng không thể cùng vui sướng với ông ta. Sao ông lại không bỏ đi?

Văn Chủng nhận được thư, cáo bệnh không vào chầu. Có người gièm pha nói với Câu Tiễn rằng Chủng sắp làm phản. Câu Tiễn sai đưa kiếm cho Chủng và nói:

"Nhà ngươi dạy quả nhân bảy thuật để đánh Ngô, quả nhân mới dùng có ba mà nước Ngô đã thua. Còn bốn thuật nữa ở nhà ngươi. Nhà ngươi hãy giúp ta dùng những thuật ấy với tiên vương xem sao".

Văn Chủng bèn tự sát, kết cục đúng như Phạm Lãi dự liệu.

Nhận định

Sử ký có lời nhận định:

Công lao của vua Vũ thực là to lớn! Dẫn nước cho chín sông, làm cho chín châu có thể ở được, đến nay tất cả mọi người đếu sống yên ổn. Con cháu của ông là Câu Tiễn nhọc công, khổ xác, cuối cùng tiêu diệt được nước Ngô mạnh, phía bắc cho quân đội vào xem Trung quốc để tôn nhà Chu, được danh hiệu là bá vương. Câu Tiễn chẳng đáng gọi là hiền sao? Đó cũng là cái vinh quang sót lại của vua Vũ vậy. Phạm Lãi ba lần dời chỗ ở, đều nổi tăm tiếng để lại đời sau. Vua và tôi đều như vậy, thế nào mà chẳng vinh hiển?

Tư Mã Thiên

Xem thêm

Tham khảo