Côban (II) ôxít

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ôxít côban (II)
272px
Danh pháp IUPAC Cobalt (II) Oxide
Tên khác Côban (II) ôxít
Mônôxít côban
Côban mônôxít
Nhận dạng
Số CAS 1307-96-6
Số RTECS GG2800000
Thuộc tính
Công thức phân tử CoO
Phân tử gam 74,93 g/mol
Bề ngoài Bột màu đen
Tỷ trọng 6,1 g/cm3
Điểm nóng chảy 1.933°C (2.206 K)
Độ hòa tan trong nước Không hòa tan trong nước,
hòa tan trong axít mạnh
Các nguy hiểm
Nguy hiểm chính Viêm đường hô hấp
Có thể gây ung thư
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
2
0
 
Chỉ dẫn R 22 43 50-53
Chỉ dẫn S (2-)24-37-60-61
Các hợp chất liên quan
Anion khác Clorua côban (II)
Hợp chất liên quan Ôxít côban (III)

Côban (II) ôxít hay còn gọi là ôxít côban (II) (công thức hóa học CoO) là một ôxít của Côban. Nó có phân tử lượng 74,93 đơn vị cacbon, nhiệt độ nóng chảy 1.933 độ C. Nó có thể ở dạng kết tinh với màu từ xanh lục ôliu tới đỏ hay chất bột màu từ hơi xám tới đen, được sử dụng khá rộng rãi trong công nghiệp gốm sứ như là phụ gia để tạo men và nước men màu xanh lam cũng như trong công nghiệp hóa chất để sản xuất các muối coban (II). Các tinh thể CoO có cấu trúc pericla (muối đá) với hằng số lưới 4,2615Å[1].

Ôxít côban (II) là một chất tạo màu tốt, rất ổn định, được sử dụng nhiều trong thủy tinh, men, enamel và cả cho ngành sơn. Ôxít côban II được sử dụng rộng rãi trong các loại mực đề can, màu men lót, vết màu trên thân và men màu.

Chất này có thể thu từ nguồn tự nhiên. Có nhiều dạng nguyên liệu thô và tất cả đều có thể phân hủy dễ dàng thành CoO là dạng ổn định. Các nguồn này có thể là dạng ôxít màu đen Co3O4, tỉ lệ phân hủy - giải phóng ôxy và chuyển thành CoO là 93% ở 800°C; hay dạng ôxít côban III màu xám (Co2O3) với 90% CoO; và dạng cacbonat côban màu tím nhạt (CoCO3) với 63% CoO. Ngoài ra, có thể dùng điôxít côban (CoO2).

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ôxít côban (II) được sử dụng để chế tạo vật liệu điện từ, bán dẫn, chất tạo màu trong gốm sứ, chất ôxi hóa, chất xúc tác và vật liệu dương cực (anôt) cho các loại pin Ni-MH hay Ni-Cd[2][3].

Trong vật liệu gốm[sửa | sửa mã nguồn]

Ôxít côban (II) được sử dụng trong nhiều thế kỷ như là chất tạo màu cho các đồ gốm sứ, các ví dụ sớm nhất đã biết có từ thế kỷ 12 tại các lò sản xuất gốm tại Đức.[4] Phụ gia côban tạo ra màu xanh lam sẫm có tên gọi xanh côban.

CoO được dùng trong vật liệu gốm thuộc nhóm tạo màu. Ôxít côban (II) là chất tạo màu xanh côban truyền thống và đáng tin cậy ở mọi nhiệt độ nung, trong hầu hết mọi loại men. Nó là một chất tạo màu mạnh, thông thường chỉ dùng ít hơn 1% là màu đã đủ đậm. Sắc độ xanh thì có thể bị ảnh hưởng theo nhiều cách do sự hiện diện của các ôxít khác. Nếu cần giảm sắc xanh, có thể dùng ôxít sắt, titan, rutil hay niken.

Dù ôxít côban (II) có nhiệt độ nóng chảy rất cao, nó vẫn là một chất trợ chảy mạnh, hoà tan dễ dàng trong hầu hết các loại men đặc biệt là các loại men kiềm thổbo. Cũng do hoà tan dễ dàng nên màu xanh do ôxít côban (II) tạo ra dễ bị loang và khó giữ được những nét in rạch ròi, đặc biệt là khi in ở lớp men phủ. Do ôxít côban (II) hoà tan khá tốt trong men nóng chảy, nó không có chức năng làm mờ.

Ôxít côban (II) rất nhạy cảm với môi trường lò (ôxi hoá hay khử, nung nhanh hay nung chậm). Nó thường được nung khô với ôxít nhôm và CaO để làm mực màu cho lớp men lót mềm. Các loại vết màu thường là hỗn hợp alumina, côban và kẽm để đạt được một màu xanh lam mềm hơn.

Kết hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Ôxít côban (II) khi kết hợp với:

  • Ôxít sắt và ôxit mangan cho màu lam đá phiến.
  • Ôxít bari cho màu lục-lam
  • Ôxít magiê cho màu từ tím viôlet đến tím hoa cà.
  • Ôxít crôm và ôxít mangan cho màu lam-đen hay màu đen.
  • Ôxít crôm và đồng có thể cho màu từ thuần xanh côban qua lam ánh lục đến xanh lá crôm (thuận lợi nhất khi hàm lượng silica không cao quá và chỉ vừa đủ alumina).
  • Silica, B2O3 và hàm lượng cao MgO có thể tạo ra các màu đỏ, viôlet, oải hương hay hồng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]