Cư Kuin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huyện Cư Kuin
Địa lý
Huyện lỵ {{{Huyện lỵ}}}
Vị trí: Nằm ở vị trí phía đông nam tỉnh
Diện tích: 288.3 km²
Số xã, thị trấn: 8
Dân số
Số dân: 109.770 (2007)
Mật độ: 381 người/km²
Thành phần dân tộc: Người Kinh, Người Êđê,Người Tày, Người Nùng, khoảng 20 dân tộc trên địa bàn
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Y Xanh BuônDap
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Nguyễn Năng Chung
Bí thư Huyện ủy: Lê Xuân Nhân
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Website: http://cukuin.daklak.gov.vn


Tọa độ: 12°20′29″B 108°06′05″Đ / 12,3415°B 108,1015°Đ / 12.3415; 108.1015 Cư Kuin là một huyện của Việt Nam, thuộc tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột 19 km. Phía Đông giáp huyện Krông PakKrông Bông, phía Tây Nam giáp huyện Krông Ana và huyện Lắk, phía Bắc giáp thành phố Buôn Ma Thuột. Huyện được thành lập theo Nghị định số 137/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ Việt Nam về việc điều chỉnh địa giới hành chính[1].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cư Kuin gồm 8 xã:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vùng này, trước đây các buôn người dân tộc Êđê là chủ yếu. Đất bằng phẳng với rừng đại ngàn cổ thụ cao lớn. Địa hình khá hiểm trở, thú rừng chim chóc phong phú. Có một dãy đồi lớn trong đó có đỉnh Cư Kuin, thực vật nguyên sinh rất nhiều. Việc đi lại chủ yếu dùng voi và đi bộ tính khoảng cách bằng ngày đường.

Khoảng 1954-1956 một số người công giáo di dân từ miền Bắc vào hình thành dần các ngôi làng như: Kim Châu (giáo sứ Kim Châu) được thành lập bởii những người công giáo di dân từ Nam Định (Giáo Phận Bùi Chu), sống láng giềng với các buôn người Êđê. Họ khai hoang núi rùng phát nương làm rẩy, làm ruộng nơi trũng. Người dân tộc tại chỗ cũng ổn định định cư cùng người kinh. Phần khai hoang chỉ canh tác vào mùa mưa, vào khô bắt đầu có các thảo nguyên cỏ tranh, cỏ gấu, cây bớp bớp. Dân số trước và sau năm 1975 dần được tăng lên chủ yếu tăng theo cơ học. Các đồn điền cao su, cà phê bắt đầu được trồng trên diện tích rộng. Quanh các đồn điền này có các dãy nhà công nhân lao động, bảo quản đồn điền. Phần còn lại vẫn rừng núi, rừng cổ thụ, suối nước, hồ rộng. Đất đai hoang sơ nhiều tre, nứa, lồ ô, một số ít đất quảng canh làm lúa rẩy của người Êđê và các đồn điền Cà phê, cao su. Năm 1974 chính quyền miền Nam thành lập xã Cư Bua trực thuộc quận Phước An, xã Ea Tiêu thuộc thị xã Buôn Ma Thuột. Sau 1975 thực hiện kế hoạch đi kinh tế mới, người dân di cư vào lập các nông trường quốc doanh cao su và cà phê. Thời kỳ đầu đang còn nhiều khó khăn, vì phải khai hoang gần như mới hoàn toàn diện tích. Săn bắn, xẻ gỗ đã trở thành một nghề của một số người. Công nhân của các nông trường làm việc tập trung theo chế độ bao cấp, trồng mới được nhiều diện tích cà phê, số ít điện tích được tiếp quản và phát triển từ các đồn điền cà phê cũ.

Đồi Cư Kuin

Thành lập huyện Krông Ana năm 1981[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện này thành lập từ các vùng TP.Buôn Ma Thuột, Lắk, Krông Bông, Cư Jút, Krông Pak. Chia làm hai cánh Nam và cánh Bắc, ngăn cách bởi đèo Ea Na. Cánh bắc nhờ được sự giúp đỡ các chuyên gia CHDC Đức (Đông Đức cũ) về con người và các thiết bị trong sản xuất nông nghiệp. Trong khoảng thời gian ngắn đã có nhiều thay đổi diện tích trồng mới phát triển liên tục, giao thông thủy lợi được mở rộng. Hình thành được 6 nông trường Việt Đức, đơn vị quản lý Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt Đức, quản lý phần diện tích rộng lớn chiếm 65% điện tích của huyện hiện tại. Sau đó chuyên gia Đức về nước, các nông trường được quản lý độc lập trực thuộc tổng công ty cà phê Việt nam. Sau thời kỳ bao cấp các doanh nghiệp quốc doanh khoán vườn cây lại cho công nhân và người dân làm liên kết. Sau khi các nông trường quốc doanh giao khoán, người dân đã phát triển vườn cây trong rẫy nông nghiệp của mình, trong khoãng thời gian ngắn cây cà phê được trồng xen lẫn với cây nông nghiệp. Lúc đầu mang tính thử nghiệm, nhưng với sự lao động người dân, cây cà phê ở các vùng sâu đạt được những bước phát triển nhất định. Nông trường cao su 19/8 được thành lập thuộc tổng công ty cao su Đắk Lắk tiếp quản đồn điền Lệ Xuân (Trần Lệ Xuân), nông trường này được tách từ Nông trường Ea Tiêu, phát triển trồng mới thêm cao su. Nhờ diện tích rộng địa hình bằng phẳng do khai hoang chưa sử dụng hết người dân gia tăng chăn nuôi, bò, trâu, lợn, gà v.v... Lúa rẫy, các loại cây họ đậu được gieo trồng theo mùa của Tây Nguyên. Trong thập niên 80 thế kỷ 20 huyện đã trở thành một nơi Xuất khẩu cà phê, cao su của tỉnh Đắk Lắk.

Công ty cà phê Việt Đức, trước đây là xí nghiệp cà phê Việt Đức đóng chân
Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt Đức năm 1985, chụp phía sau trên đồi cao

Các phía đông nam vẫn là núi rừng mênh mông. Dân di cư từ các vùng miền đông dần, tỉnh phải tiến hành thành lập xã mới. Cây trồng chủ yếu lúa nước và các cây lương thực ngắn ngày, sản lượng lương thực theo kiểu tự cung tự cấp. Cây công nghiệp thích hợp với cây điều nhiều hơn, các cây khác diện tích chiếm khá ít. Về công nghiệp chỉ mang tính sản xuất thô sơ gạch ngói thủ công, khai thác cát cho TP. Buôn Ma Thuột và các vùng xung quanh.

Hàng năm huyện cứ tiếp thêm một lượng di cư dân tự do của miền Bắc chủ yếu là các tỉnh Nghệ An,Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Huế, Thái Bình v.v..., tạo sự hình thành nhiều vùng dân cư mới. Sự thay đổi dân số về cơ học và tự nhiên đã làm thay đổi cho huyện đáng kể về nguồn lực cho lao động. Các ngành nghề thay đổi chuyển biến, cơ giới hóa về sản xuất nông nghiệp tạo sự gia tăng về sản lượng. đầu tư của người dân tăng đáng kể cho nông nghiệp.

Thành lập huyện Cư Kuin năm 2007[sửa | sửa mã nguồn]

Do địa hình phức tại đi lại khó khăn cách trở, huyện cũ được chia thành hai cách Nam và cánh Bắc, quản lý về mặt nhà nước khó khăn. Khoảng cách gần như độc lập giữa hai cánh, việc thành lập mới là điều tất yếu, trong quản lý hai cách gần như độc lập với nhau. Về các phần kinh tế, giao thông, điện, đường, trường, trạm gần như hoạt động độc lập.

Cánh đồng lúa nước của huyện

Kinh tế hai cánh thay đổi các dịch vụ mới để cung ứng phát triển theo, cho nhu cầu tiêu dùng của người dân. Giáo dục và y tế được người dân và chính quyền quan tâm hơn. Từ khoãng thập niên 90 thế kỷ 20, lượng lao động trẻ đổ ra Thành phố ngày một nhiều, mặc dù kinh tế phát triển đều nhưng vẫn là huyện thuần nông. Cơ sở hạ tầng phát triển điện, đường, trường, trạm. Huyện có điều kiện quản lý tốt hơn.

Ngày nay nếu ta lấy ví dụ một người đi xa 28 năm, khi quay lại đây thì phải ngạc nhiên vì sự thay đổi lớn hoàn toàn bộ mặt. Hiện tại kinh tế chủ đạo của huyện vẫn là cây công nghiệp dài ngày cà phê, cao su, cây điều. Người dân tự chủ đầu tư cho vườn cây của mình. Lượng di dân có kế hoạch hay tự do hiện đã dừng lại, người dân ngày càng tìm kiếm thêm nhiều diện tích đất, cho mình hơn để mở rộng nông nghiệp cho gia đình.

Giao thông và thủy lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Ea Krong Ana, đoạn qua Hòa Hiệp, Cư Kuin
  • Huyện có vị trí giao thông thuận lợi cho giao thương, đặc biệt quốc lộ 27 tuyến đi từ Buôn Ma Thuột đi Đà Lạt. Giao thông nông thôn được chỉnh trang phù hợp với sự phát triển của nông thôn. Nhựa hóa 72% các con đường giao thông vào các xã, 100% nhựa hóa đường giao thông vào các buôn. Các đơn vị thôn được chính quyền và cùng nhân dân nâng cấp tiếp tục xây dựng mới các tuyến đường giữa các thôn. Hiện người dân đang sử dụng phổ dụng loại xe công nông. ôtô tải cỡ nhỏ để vận chuyển hàng hóa, được sử dụng rộng rãi trên các tuyến trong thôn, buôn. Cộng vào đó lượng xe máy phát triển hơn xe đạp đã khiến giao thông tại các thôn, buôn, luôn được chú trọng đổi mới sửa chữa để các phương tiện vận hành. Đường đất còn lại hai xã Ea Hu, Cư Êwi.
Con đường đất đỏ dẫn vào các rẩy cà phê của Huyện những con đường này đã đi vào huyền thoại của miền đất Tây Nguyên
  • Thủy lợi được chú ý đặc biệt, về mùa khô phải bơm nước tưới cho các vùng trồng cây nông nghiệp cũng như công nghiệp. Cà phê, hồ tiêu được chú trọng tưới tiêu trong 6 tháng mùa khô của Tây Nguyên, hệ thống thủy lợi được khai thác tại các nguồn tại chỗ, chủ yếu nước ngầm từ các giếng trong lô, rẫy người dân tự túc đào phục vụ tưới tiêu. Các ao hồ cung cấp nước phục vụ 45% diện tích của huyện. Cứ vào mùa tưới là mực nước các ao hồ, lại xuống đến mức thấp nhất. Thời điểm khoảng 8 năm trở lại đây, tình trạng nước ngầm đang tụt xuống đần. Hàng năm người dân lại tổ chức nạo vét, đào sâu thêm xuống tìm thêm mạch nước ngầm. Một số xã vùng sâu nguồn nước ngầm của một số hộ bị ô nhiễm, khó sử dụng cho sinh hoạt.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Là một huyện có gần 20 dân tộc chung sống, dân tộc tại chỗ là Êđê. Còn lại là dân tộc miền núi phía Bắc di cư vào. Tôn giáo: Thiên chúa giáo, phật giáo, tin lành, Cao Đài. Trình độ dân trí vẫn chưa đồng đều, do các điều kiện và phong tục khác nhau được hội tụ từ khắp đất nước. Giống như tỉnh Đắk Lắk, huyện tập hợp dân từ nhiều tỉnh thành từ nơi khác đến. Thể dục thể thao, chưa phát triển mạnh chủ yếu theo hướng tự phát, sân bãi cho dùng cho thể thao diện tích khá ít, bị thu hẹp lại. Trước đây các đội sản xuất của các đơn vị kinh doanh, mỗi đội sản xuất đều có một sân bãi luyện tập thể thao.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cư Kuin là một huyện thuần nông, xen kẻ vào đó các ngành chế biến nông lâm sản phát triển

Cà phê: Các doanh nghiệp sản xuất chế biến cà phê tập trung đông tại vùng sản xuất như: Cty cà phê Việt Đức; Ea Sim; Ea Hnin; Ea Ktur; Ea Tiêu; Nông trường cà phê Cư Kũin.

Cao su: Nông trường cao su 19/8 trồng và thu hoạch mũ cao su. Công ty cà phê Việt Đức vừa sản xuất cà phê vừa trồng và thu hoạch mũ cao su.

Cây điều: Nông trường cà phê Cư Kũin vừa sản suất cà phê và trồng và thu hoạch, thu mua của những vùng khác, sản xuất chế biến thô xuất khẩu.

  • Công nghiệp chưa được định hình rõ ràng. Được thể hiện qua một số nét chấm phá: Gồm cơ khí sửa chữa các loại tại nơi buôn bán dọc các tuyến giao thông trục đường chính; sản xuất gạch ngói, khai thác cát vùng thôn Giang Sơn, Đông Sơn xã Hòa Hiệp. Khai thác đá ở Hòa Hiệp, Ea Bhốk, Ea hu. Hiện đã có một vài nhà máy làm tôn dọc quốc lộ 27.

Thương mại: Có các chợ lớn như: Trung Hòa; Ea Hnin (chợ Việt Đức 4); 19/8; Kim Châu; chợ Việt Đức 3; An Bình và một số chợ nhỏ khác. Việc giao thương buôn bán, hàng hóa tiêu dùng hàng ngày đã đi vào sâu các thôn buôn, hàng quán nhỏ lẻ xen lẫn trong thôn buôn tạo cho người dân mua bán gần hơn.

Dịch vụ: Quán cà phê, bi da, Internet, sữa chữa lắp ráp máy tính, v.v.. phục vụ đa dạng cho người dân về các nhu cầu sinh hoạt, vui chơi phát triển lành mạnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]