Cải cách điền địa (Việt Nam Cộng hòa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong khuôn khổ chương trình "Cải cách nông nghiệp" và "Phát triển nông thôn", ở miền Nam (từ vỹ tuyến 17 trở xuống phiá Nam ) từ 1954-1975 sau Hiệp định Genève do phía Việt Nam Cộng hòa lãnh đạo có 2 đợt Cải cách điền địa.

Mục lục

[sửa] Cải cách điền địa thời Đệ nhất Cộng hòa

[sửa] Hoàn cảnh

Trước khi đợt cải cách điền địa lần đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa do tổng thống Ngô Đình Diệm thi hành, tại các vùng Việt Minh kiểm soát ở phía nam vĩ tuyến 17 - dẻo đất Trung Bộ và một số nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Minh đã tịch thu các nông trại trồng lúa của Pháp và của những người theo chính quyền thuộc địa Pháp và chia những vùng đất này cho tá điền. Ở hầu hết các vùng còn lại, bao gồm những vùng đã từng thuộc về các giáo phái, những người nông dân cũng tự thực hiện cải cách ruộng đất. Nhiều địa chủ đã bỏ những cánh đồng của mình lên thành phố ở để tránh các cuộc xung đột vũ trang và tìm sự an toàn. Những người nông dân đã chia nhau những vùng ruộng đất này hoặc chấm dứt nộp tô cho những khu ruộng mà họ đang trồng cấy. [1]

Người Mỹ đã thúc ép tổng thống Diệm mở một chương trình cải cách điền địa của chính mình nhằm làm giảm uy thế của Cộng sản miền Nam bằng cách loại bỏ hoàn toàn các bất công của tình trạng địa chủ tại miền Nam.

[sửa] Thi hành

Miền Nam Việt Nam đã thực hiện chính sách tư hữu hóa ruộng đất cho các tá điền qua công cuộc Cải Cách Điền Địa do Tổng thống Ngô Đình Diệm thực hiện trong những năm 1955- 1963. Những ruộng đất bỏ hoang không có chủ điền hiện diện khi kiểm kê trở thành quốc gia công thổ và được chia phát "miễn phí" cho tá điền. Chủ điền chỉ được giữ tối đa là 100 mẫu, trong đó 30 mẫu được trực canh và 70 mẫu còn lại phải cho tá điền thuê theo quy chế tá canh. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà lúc đó đã bồi thường số đất bị truất hữu (tước quyền sở hữu) cho chủ điền bằng tiền mặt và công trái phiếu 12 năm. Tá điền được mua trả góp vốn và lãi trong vòng 12 năm, số ruộng đất tối đa là 5 mẫu với giá tiền chính phủ bồi thường chủ điền. Có thông tin cho biết là cuộc cải cách này chưa triệt để, vì đã để lại cho địa chủ 100 mẫu đất, tổng cộng khoảng phần ba diện tích đất canh tác của VNCH trong tay tầng lớp địa chủ.

Với chương trình cải cách điền địa này, Ngô Đình Diệm đã thu lại tất cả các vùng đất mà Việt Minh đã chia cho các tá điền, tịch thu tất cả tài sản từng thuộc về người Pháp. Những vùng đất này được phân chia lại. Rất nhiều đất được dành cho những người di cư từ miền Bắc thay vì nông dân miền Nam. Hầu hết phần còn lại quay trở lại về tay các chủ đất cũ người Việt hoặc tới tay những người có khả năng mua trong số những người ủng hộ chính quyền mới (Tuy theo quy định, mỗi người chỉ được giữ tối đa 100 mẫu, nhưng sở hữu lớn của một gia đình địa chủ có thể được ngụy trang bằng cách chia nhỏ cho các thành viên). Chính phủ còn tịch thu và trả lại cho chủ đất cũ những vùng đất bị bỏ lại mà nông dân địa phương đã chiếm, những người nông dân này lại trở thành người không có ruộng. Trong số những người tá điền, số ít ỏi được chia đất thì phải mua phần đất đó với tiền trả dần từng năm.

Đến năm 1958, Ngô Đình Diệm đã khôi phục được kiểu sở hữu đất tại đồng bằng Nam Bộ về lại như thời trước chiến tranh khi 2% chủ đất sở hữu 45% đất đai và khoảng một nửa số người cày không có ruộng.[2]

[sửa] Cải cách điền địa thời Đệ nhị Cộng hòa

Từ ngày 26 tháng 3 năm 1970, Tổng thống Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Luật "Người cày có ruộng" qui định ruộng đất không trực canh (không canh tác) đương nhiên bị truất hữu và phải được bồi thường thỏa đáng theo thời giá và chính phủ phát hành công khố phiếu để chi trả những khoản này. Ruộng đất truất hữu được ưu tiên cấp phát miễn phí cho tá điền (3 mẫu ở Nam phần và 1 mẫu ở Cao Nguyên và Trung phần). Điền chủ trực canh chỉ được giữ tối đa 15 mẫu. Tuy nhiên, Luật "Người cày có ruộng" không được phép áp dụng đối với ruộng đất của các tổ chức tôn giáo và ruộng đất hương hỏa gia đình của người dân. Mục tiêu của việc cải cách này là cấp miễn phí 1,5 triệu hecta ruộng lúa cho 80 vạn hộ nông dân, đồng thời cấp giấy chứng nhận sở hữu ruộng đất cho nông dân. Ba năm sau khi triển khai chương trình này, tổng cộng có 75 vạn hộ gia đình, gồm khoảng 5 triệu người, đã được cấp đất [3]. Theo ông Nguyễn Tiến Hưng trong sách Khi đồng minh tháo chạy : "Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình "Người cày Có ruộng" là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất ở các nước hậu tiến. Nó là điểm vàng son của nền Đệ nhị Cộng hòa." [4]. Chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Nông dân hăng hái sản xuất và năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Đời sống của nông dân được cải thiện [3] .

[sửa] Kết quả và tình hình nông nghiệp

Ở miền Nam, trong đợt 1, đất đai của địa chủ được chính phủ thu mua giá cả sòng phẳng rồi bán trả góp 12 năm cho dân nghèo. Trong đợt 2, đại địa chủ chỉ được giữ tối đa 15 mẫu nếu trực canh, sau năm 1973 đã chấm dứt nạn "Tá canh " làm thuê ruộng của chủ điền vì nông dân đã được cấp, bán trả góp. Ở miền Nam Việt Nam, phương thức sản xuất nông nghiệp kiểu phong kiến đã bị xoá sạch. Những phương pháp canh tác mới có tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng để gia tăng năng suất. Sau khi hoàn tất chương trình Người cày có ruộng trong những năm 1970-1973, Việt Nam Cộng hoà đã có 80 phần trăm tư sản trung nông hóa và thành phần nông dân này là lực lượng chính của sản xuất nông nghiệp ở miền Nam Việt Nam.

Còn lại khoảng 20 phần trăm là phú nông và tư sản trung nông giàu sở hữu chừng 10 phần trăm ruộng đất canh tác. Số người nông dân giàu có này ngoài việc canh tác số ruộng đất sau khi đã truất hữu còn lại, họ cũng kinh doanh các dịch vụ cơ khí nông nghiệp, lưu thông hàng hoá nông sản phẩm, chế biến thực phẩm nông sản trong một thị trường thương nghiệp nông thôn và lao động nông nghiệp rất tự do. Sau khi Việt Nam Cộng hòa hoàn tất chương trình Người cày có ruộng thì không còn thành phần đại-địa-chủ ở miền Nam Việt Nam. Trong ba năm 1970-1973, kết quả của chương trình Người cày có ruộng là đã chấm dứt chế độ tá canh ở miền Nam Việt Nam khi tá điền trở thành điền chủ.

Mặc dù trong thời chiến tranh, miền Nam vẫn còn xuất cảng được gạo. Năm 1960 đánh dấu mức cao nhất trong lịch sử kinh tế Việt Nam Cộng hoà, với tổng xuất là 340.000 tấn. Từ năm đó, nông thôn bắt đầu thiếu an ninh, ruộng đất thiếu người cày, xuất cảng gạo xuống dần, và tới năm 1962, còn 85 ngàn tấn. Từ năm 1965, đã có lúc phải nhập cảng gạo. Nhờ những chính sách phát triển nông thôn, từ năm 1970, sản xuất lúa gạo tại miền Nam đã tăng trưởng. Thêm vào đó là nhờ tiến bộ kỹ thuật : loại lúa giống IR-3 phát xuất ở Philippines được đem vào đồng bằng Cửu Long, nhờ phát triển nhanh và tốt, còn được gọi là lúa thần nông. Đến năm 1971 thì lúa thần nông đã phủ được trên 2,6 triệu mẫu ruộng, bằng 42% diện tích canh tác.

[sửa] Xem thêm

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Neel Sheehan, A Bright Shining Lie, Random House, 1988, tr. 182
  2. ^ Neel Sheehan, A Bright Shining Lie, Random House, 1988, tr. 183
  3. ^ a b Đặng Phong (2004), Kinh tế Miền Nam Việt nam thời kỳ 1955 - 1975, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tháng 12 năm 2004
  4. ^ Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh tháo chạy, phần 2 chương 5, dẫn tại Xuất & Nhập khẩu Gạo trước 1975

[sửa] Tham khảo và Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân