Cảm giác kèm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ví dụ phỏng theo cách mà người bị chứng cảm giác kèm có thể cảm giác (nhưng không nhất thiết phải thấy) một số chữ và số.

Cảm giác kèm (tiếng Anh: synesthesia hay synæsthesia) là một hiện tượng cảm giác có vẻ hiếm có nguồn gốc thần kinh làm cho tự động kích thích một đường cảm giác hay nhận thức khi nào cảm giác một cách khác.[1][2][3][4]

Với một loại cảm giác kèm thường gặp, được gọi cảm giác kèm tự vị → màu (grapheme → color synesthesia), các chữ cáichữ số được cảm giác là có màu sắc cố hữu.[5][6] Với tính cách hóa số-chữ (ordinal linguistic personification, OLP), các số, ngày trong tuần, và tháng trong năm gợi lên tính cách,[7][8] trong khi với loại không gian–dãy hoặc khuôn số (number form), chúng gợi lên những vị trí chính xác trong không gian (chẳng hạn 1980 có thể "xa hơn" 1990) hoặc có thể cảm giác một năm là một bản đồ ba chiều.[9][10][11] Một loại nữa mới được khám phá, cảm giác kèm chuyển động thị giác → âm thanh, làm cho nghe tiếng động khi nào thấy chuyển động thị giác và ánh sáng lung linh.[12] Hơn 60 loại cảm giác kèm được báo cáo,[13] nhưng chỉ có một số loại được các nhà khoa học nghiên cứu.[14] Ngay cả trong nhóm người có cùng loại, mỗi người có thể cảm giác kèm đến độ khác nhau,[15] và mỗi người nhận thấy khả năng cảm giác kém đến độ khác nhau.[16]

Tuy các ẩn dụ đa giác quan (thí dụ như "câu văn sáng sủa") đôi khi được coi là có tính "cảm giác kèm", nhưng cảm giác kèm thật sự là vô tình. Có ước lượng rằng tỷ lệ người có cảm giác kèm có thể cao đến 1 trong 23 người khi tính vào các loại.[17] Chứng cảm giác kèm truyền mãi trong gia đình, nhưng cách di truyền chưa rõ. Nó cũng được báo cáo trong lúc sử dụng ma túy, sau khi bị đột quỵ, trong lúc lên cơn động kinh thùy thái dương (temporal lobe epilepsy), hoặc do mắt hay điếc tai. Cảm giác kèm không có nguồn gốc di truyền được gọi "cảm giác kèm tự sinh" (adventitious) để phân biết với những loại "bẩm sinh" thông thường hơn. Cảm giác kèm tự sinh do ma túy hoặc đột quỵ (nhưng không do mù điếc) hình như chỉ gây ra một số liên kết giác quan như âm thanhthị giác hoặc tiếp xúcthính giác; không có hay không có nhiều trường hợp được biết đến có liên quan đến kiến thức hay văn hóa, như là tự vị, từ vị, ngày trong tuần, hoặc tháng trong năm.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu rất nhiều về cảm giác kèm vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhưng hội chứng chủ yếu bị bỏ rơi vào giữa thế kỷ 20 và chỉ mới được nhà nghiên cứu hiện đại khám phá lại.[18] Các nhà nghiên cứu tâm lý học đã chứng minh rằng sự kiện cảm giác kèm có thể có ảnh hưởng dáng điệu đo được, và các bài nghiên cứu dùng hình ảnh thần kinh chức năng đã nhận ra những kiểu mẫu kích thích não khác nhau.[6] Nhiều người có cảm giác kèm lợi dụng khả năng đặc biệt của họ trong quá trình sáng tạo, và nhiều người không có cảm giác kèm đã sơn vẽ tác phẩm nghệ thuật để cố gắng bắt chước hội chứng này. Các nhà tâm lý học và nhà thần kinh học nghiên cứu về cảm giác kèm để rút kinh nghiệm về những quá trình nhận thức và tri giác đều có trong người thường và người có cảm giác kèm.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cytowic, Richard E. (2002). Synesthesia: A Union of the Senses (bằng tiếng Anh) (ấn bản 2). Cambridge, Massachusetts: NXB MIT. ISBN 0-262-03296-1. OCLC 49395033.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  2. ^ Cytowic, Richard E. (2003). The Man Who Tasted Shapes (bằng tiếng Anh). Cambridge, Massachusetts: NXB MIT. ISBN 0-262-53255-7. OCLC 53186027.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  3. ^ Cytowic, Richard E.; David M. Eagelman (2009). Wednesday is Indigo Blue: Discovering the Brain of Synesthesia (bằng tiếng Anh). Lời bạt: Dmitri Nabokov. Cambridge, Massachusetts: NXB MIT. tr. 309. ISBN 0-262-01279-9 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp).  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  4. ^ Harrison, John E.; Simon Baron-Cohen (1996). Synaesthesia: classic and contemporary readings (bằng tiếng Anh). Oxford: Blackwell Publishing. ISBN 0-631-19764-8. OCLC 59664610.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  5. ^ Rich, Anina N.; Jason B. Mattingley (tháng 1 năm 2002). “Anomalous perception in synaesthesia: a cognitive neuroscience perspective”. Nature Reviews Neuroscience (bằng tiếng Anh) 3 (1): 43–52. doi:10.1038/nrn702. PMID 11823804. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  6. ^ a ă Hubbard, Edward M.; V. S. Ramachandran (tháng 11 năm 2005). “Neurocognitive mechanisms of synesthesia”. Neuron (bằng tiếng Anh) (NXB Cell) 48 (3): 509–520. doi:10.1016/j.neuron.2005.10.012. PMID 16269367.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  7. ^ Simner, Julia; Emma Holenstein (tháng 4 năm 2007). “Ordinal linguistic personification as a variant of synesthesia”. Journal of Cognitive Neuroscience (bằng tiếng Anh) 19 (4): 694–703. doi:10.1162/jocn.2007.19.4.694. PMID 17381259. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  8. ^ Smilek, Daniel; Kelly A. Malcolmson, Jonathan S. A. Carriere, Meghan Eller, Donna Kwan, Michael Reynolds (tháng 6 năm 2007). “When '3' is a jerk and 'E' is a king: personifying inanimate objects in synesthesia”. Journal of Cognitive Neuroscience (bằng tiếng Anh) 19 (6): 981–992. doi:10.1162/jocn.2007.19.6.981. PMID 17536968. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  9. ^ Galton, Francis (1880). “Visualized Numerals” (PDF). Nature (bằng tiếng Anh) 22: 494–495. doi:10.1038/021494e0.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  10. ^ Seron, Xavier; Mauro Pesenti; Marie-Pascale Noël; Gérard Deloche; Jacques-André Cornet (tháng 8 năm 1992). “Images of numbers, or 'When 98 is upper left and 6 sky blue'”. Cognition (bằng tiếng Anh) 44 (1–2): 159–196. doi:10.1016/0010-0277(92)90053-K. PMID 1511585.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  11. ^ Noam Sagiv; Simner, Julia; James Collins; Brian Butterworth; Jamie Ward (tháng 8 năm 2006). “What is the relationship between synaesthesia and visuo-spatial number forms?”. Cognition (bằng tiếng Anh) 101 (1): 114–128. doi:10.1016/j.cognition.2005.09.004. PMID 16288733. 
  12. ^ Saenz, Melissa; Christof Koch (tháng 8 năm 2008). “The sound of change: visually-induced auditory synesthesia”. Current Biology (bằng tiếng Anh) (NXB Cell) 18 (15): R650–R651. doi:10.1016/j.cub.2008.06.014. PMID 18682202. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2008.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  13. ^ Day, Sean (2009). “Types of synesthesia”. Synesthesia (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2009.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  14. ^ Campen, Crétien van (2007). The Hidden Sense: Synesthesia in Art and Science (bằng tiếng Anh). Cambridge, Massachusetts: NXB MIT. ISBN 0-262-22081-4. OCLC 80179991.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  15. ^ Hubbard, Edward M.; A. Cyrus Arman; Vilayanur S. Ramachandran; Geoffrey M. Boynton (tháng 3 năm 2005). “Individual differences among grapheme-color synesthetes: brain-behavior correlations” (PDF). Neuron (bằng tiếng Anh) (NXB Cell) 45 (6): 975–85. doi:10.1016/j.neuron.2005.02.008. PMID 15797557.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  16. ^ Campen, Cretien van (2009). “The Hidden Sense: On Becoming Aware of Synesthesia” (PDF). Revista Digital de Tecnologias Cognitivas (TECCOGS) (bằng tiếng Anh) (Đại học Công giáo São Paulo) 1: 1–13.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  17. ^ Julia Simner; Catherine Mulvenna; Noam Sagiv; et al. (2006). “Synaesthesia: the prevalence of atypical cross-modal experiences”. Perception (bằng tiếng Anh) (Pion) 35 (8): 1024–1033. doi:10.1068/p5469. PMID 17076063. 
  18. ^ Campen, Crétien van (tháng 2 năm 1999). “Artistic and psychological experiments with synesthesia”. Leonardo (bằng tiếng Anh) 32 (1): 9–14. doi:10.1162/002409499552948.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)