Cảnh sát biển Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cảnh sát biển Hàn Quốc
Hàn Quốc Hải cảnh
해양경찰청

Logo của lực lượng Cảnh sát biển Hàn Quốc
Hoạt động 1953
Quốc gia  Hàn Quốc
Phân loại Bảo vệ bờ biển
Quy mô 10.095 nhân viên
292 tàu, 23 máy bay(2011)[1]
Bộ phận của Bộ Hàng hải và Thủy sản
Lễ kỷ niệm 23 tháng 12
Các tư lệnh
Chỉ huy
hiện thời
Cao ủy Kim Suk Kyoon
Huy hiệu
Lá cờ Hàn Quốc Flag of South Korea.svg
Biểu tượng
nhận dạng
Korea Coast Guard racing stripe.png
Phi cơ sử dụng
Tuần tra CN-235, CL-604, C-212
Tàu 3006 của Cảnh sát biển Hàn Quốc cùng với Bản mẫu:USCGC của Tuần duyên Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 2007.

Cảnh sát biển Hàn Quốc (Tiếng Triều Tiên: 해양 경찰청; Hanja: 海洋警察厅, Romaja quốc ngữ: Haeyang-gyeongchal-cheong / Hải dương Cảnh sát Sảnh) là lực lượng an ninh chịu trách nhiệm về an toàn và kiểm soát ngoài khơi bờ biển Hàn Quốc. Trong thời bình, cảnh sát biển Hàn Quốc thuộc Bộ Hàng hải và Thủy sản. Gần đây, với việc biên giới liên tục có sự xuất hiện của tàu thuyền Trung Quốc, cảnh sát biển Hàn Quốc đã triển khai một số lượng lớn các tàu lớn đến vùng biển Hoàng Hải.

Trụ sở chính của Cảnh sát biển Hàn Quốc là tại Songdodong, Incheon. Ngoài ra, đơn vị cũng có hàng trăm trạm điều hành nhỏ dọc theo bờ biển của bán đảo Triều Tiên. Cảnh sát biển Hàn Quốc hoạt động được trang bị 4 lớp tàu lớn (trên 1.000 tấn), 3 lớp tàu trung bình (hơn 250 tấn), và 3 lớp tàu cao tốc (tàu cao tốc trên 30 tấn) cùng với tàu chữa cháy, sà lan, tàu trinh sát tốc độ cao, tàu tuần tra cao tốc. Các đơn vị hàng không của Cảnh sát biển Hàn Quốc gồm 6 thủy phi cơ và 16 máy bay trực thăng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay trực thăng Kamov Ka-32 của Cảnh sát biển Hàn Quốc.
Đơn vị cứu hộ 122 của Cảnh sát biển Hàn Quốc tại Yeosu.

Cơ quan Cảnh sát biển Hàn Quốc được thành lập vào ngày 23 tháng 12 năm 1953 tại Busan như là một phần của Cơ quan cảnh sát quốc gia.Trong tháng 10 năm 1962, cơ sở mới được thành lập tại Incheon, Yeosu, Pohang và Kunsan. Vào tháng 2 năm 1963, các đơn vị hàng không của Cảnh sát biển Hàn Quốc đóng cửa, mặc dù nó mở cửa trở lại trong những năm 80. Kể từ năm 1980, đội tàu phục vụ đã được tăng cường đáng kể, và vào tháng 8 năm 1991, đơn vị đã được đổi tên thành Cơ quan Cảnh sát Hàng hải Quốc gia Hàn Quốc. Năm 2007, Cơ quan cảnh sát Hàng hải Quốc gia Hàn Quốc đã được hợp nhất trở thành cơ quan Cảnh sát biển. Trong những năm đầu thế kỷ 21, Cảnh sát biển Hàn Quốc được trang bị các tàu trên 3.000 tấn, và tháng 1 năm 2002, Đơn vị đặc biệt của Cảnh sát biển Hàn Quốc đã chính thức được thành lập. Tháng 5 năm 2008, đơn vị Bảo vệ và Cứu nạn đã được xây dựng mới, cùng với việc các cơ sở hạ tầng được nâng cấp. Cảnh sát biển Hàn Quốc có kế hoạch trang bị thêm các tàu 5.000 tấn vào năm 2015, và mở rộng lực lượng bằng cách khuyến khích sự tham gia của các ngành cảnh sát khác sang.

Mục tiêu hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phát triển và duy trì khả năng hoạt động để đảm bảo chủ quyền biển quốc gia.
  • Được các quốc gia coi như giám hộ an ninh hàng hải.
  • Trở thành cơ quan an ninh hàng hải quan trọng nhất trong khu vực Đông Bắc Á.
  • Phát triển và nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu về tìm kiếm cứu nạn hàng hải trên toàn khu vực kiểm soát.
  • Phát triển và cải thiện khả năng bảo vệ môi trường biển.
  • Đáp ứng yêu cầu về các dịch vụ hành chính công cộng.
  • Tiếp tục hoàn thiện tổ chức và bộ máy hoạt động của cơ quan.

Nhiệm vụ chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tìm kiếm và Cứu hộ
  • Đảm bảo An ninh Hàng hải
  • Bảo vệ môi trường biển
  • Ngăn ngừa tội phạm Hàng hải quốc tế
  • Quản lý an toàn giao thông biển
  • Kiểm soát ô nhiễm biển

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Hạm đội[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh sát biển Hàn Quốc được chia thành các hạm đội hoạt động bao gồm:

  • Hạm đội Tuần tra
  • Hạm đội Phi cơ
  • Hạm đội Tìm kiếm Cứu hộ
  • Hạm đội Bảo vệ môi trường biển
  • Hạm đội Ngăn chặn tội phạm biển

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Korea Coast Guard 2012 White Paper”. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]