Cần Giuộc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cần Giuộc
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 10°34′43″B 106°38′35″Đ / 10,57861°B 106,64306°Đ / 10.57861; 106.64306Tọa độ: 10°34′43″B 106°38′35″Đ / 10,57861°B 106,64306°Đ / 10.57861; 106.64306
Diện tích 210.198 km2[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 170.670 [1]
 Mật độ 812 người/km2
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Long An
Huyện lỵ Thị trấn Cần Giuộc
 Chủ tịch HĐND Ông Thái Văn Ô[2]
Phân chia hành chính
Website cangiuoc.longan.gov.vn

Cần Giuộc là một huyện thuộc vùng hạ nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Long An. Cần Giuộc nằm ở vành đai vòng ngoài của vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, là cửa ngõ của Thành phố Hồ Chí Minh tới các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long qua Quốc lộ 50, từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp và hệ thống đường thủy thông thương với các tỉnh phía Nam.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí, diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

Cần Giuộc ngày nay là một huyện thuộc tỉnh Long An, nằm về phía Đông của tỉnh, diện tích tự nhiên 210.1980 km², dân số trung bình 169.020 người (năm 2009), mật độ khá đông: 804 người/km²; phía Bắc – Đông Bắc giáp huyện Bình Chánh và huyện Nhà Bè thuộc thành phố Hồ Chí Minh (dài 32,5 km), phía Đông giáp huyện Cần Giờ, có chung dòng sông Soài Rạp (dài 7,91 km), phía Tây Bắc giáp huyện Bến Lức, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Cần Đước.


Biểu đồ gió huyện Bến Lức huyện Bình Chánh huyện Nhà Bè Biểu đồ gió
huyện Cần Đước B huyện Cần Giờ
T    huyện Cần Giuộc    Đ
N
huyện Cần Đước huyện Cần Đước sông Soài Rạp
Enclave: {{{enclave}}}

Điều kiện khí hậu thời tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Cần Giuộc mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa và ảnh hưởng của đại dương nên độ ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày và đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa. Nhiệt độ không khí hàng năm tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm là 26,9 0 C, nhiệt độ trung bình mùa khô là 26,5 0 C và mùa mưa là 27,3 0 C; tháng nóng nhất là tháng 4 và 5 (29 0 C), tháng mát nhất là tháng 12 và tháng 1 (24,7 0 C). Nhiệt độ cao nhất trong năm có thể đạt 40 0 C và thấp nhất 14 0 C. Nắng hầu như quanh năm với tổng số giờ nắng trên dưới 2.700 giờ/năm. Một năm chia ra 2 mùa rõ rệt:

  • Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, với tổng số lượng mưa chiếm từ 95 – 97% lượng mưa cả năm. Tổng lượng mưa bình quân 1.200 – 1.400 mm/năm. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 và tháng 10.
  • Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, lượng mưa mùa nầy chỉ chiếm từ 3 – 5% tổng lượng mưa cả năm.

Ẩm độ không khí trung bình trong năm 82,8%, trong mùa khô độ ẩm tương đối thấp: 78%. Lượng bốc hơi trung bình 1.204,5 mm/năm. Chế độ gió theo 2 hướng chính: mùa khô thịnh hành gió Đông Bắc, mùa mưa thịnh hành gió Tây Nam.

Địa hình và tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình Cần Giuộc mang đặc trưng của đồng bằng gần cửa sông, tương đối bằng phẳng, song bị chia cắt mạnh bởi sông rạch. Địa hình thấp (cao độ 0,5 – 1,2 m so với mặt nước biển), nghiêng đều, lượn sóng nhẹ và thấp dần từ Tây Bắc sang Đông Nam. Sông Rạch Cát (còn gọi sông Cần Giuộc) dài 32 km, chảy qua Cần giuộc theo hướng Bắc – Nam, đổ ra sông Soài Rạp, chia Cần Giuộc ra làm 2 vùng với đặc điểm tự nhiên, kinh tế khác biệt. Vùng thượng có cao độ so với mặt biển 0,8 – 1,2 m, địa hình tương đối cao ráo. Hiện nay hầu hết diện tích đã được ngăn mặn nhờ hệ thống công trình thủy lợi đê Trường Long, đê Phước Định Yên và cống – đập Trị Yên, cống – đập Mồng Gà[4].

Đất Cần Giuộc thành tạo bởi phù sa trẻ của hệ thống sông Đồng Naisông Vàm Cỏ, tạo nên đồng bằng gần cửa sông với các đặc trưng sau:

  • Đất mặn, phèn chiếm 48,34% diện tích tự nhiên với 10.103 ha, có thành phần cơ giới nặng (tỉ lệ sét vật lý cao 50 – 60%) và nồng độ độc tố cao (SO 4 --, Cl -, Al +++, Fe ++, …), ít thích hợp cho sản xuất cây trồng cạn, nhưng lại là nơi trồng lúa thơm và lúa đặc sản (Tài nguyên, Nàng thơm, Hương lài – khaodawk Mali, …) cho chất lượng cao và nuôi thủy sản nước mặn – lợ (tôm sú, cá nước lợ, cua lột, …) có hiệu quả.
  • Đất phù sa 4.132 ha, phân bố chủ yếu ở các xã Vùng thượng là loại đất tốt nhất, có thành phần cơ giới thịt trung bình, do khai thác lâu đời nên hàm lượng N, P, K tổng số từ trung bình đến nghèo, độ pH KCL 5,5 – 6,2; đặc biệt có một số nguyên tố vi lượng với nồng độ khá cao (Bore, Cobal, Kẽm, Molipden). Đây là vùng đất thích hợp cho trồng rau và lúa đặc sản chất lượng cao, do tính chất đất tạo nên lợi thế cho sản phẩm hàng hóa có hương vị đặc biệt.

Tài nguyên nước và chế độ thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên nước mặt của Cần Giuộc khá dồi dào, với sông Cần giuộc, Cầu Tràm, Mồng Gà, Kinh Hàn, Soài Rạp và hơn 180 kinh rạch lớn nhỏ khác. Tuy nhiên, do gần biển Đông, chịu ảnh hưởng của thủy triều nên nguồn nước các sông đều bị nhiễm mặn (độ mặn các sông chính Vùng hạ từ 7 – 15% vào mùa khô), ảnh hưởng không tốt đến nguồn nước dùng cho sản xuất và đời sông dân cư, song lại thích hợp cho nuôi thủy sản nước lợ. Từ sau ngày giải phóng đến nay, Nhà nước và nhân dân Cần Giuộc đã có nhiều nỗ lực xây dựng các công trình thủy lợi ngăn mặn, trữ ngọt như Đập Ông Hiếu, Mồng Gà, Trị Yên, hàng trăm km kinh nội đồng, nhiều cống đầu mối, đã đáp ứng một phần nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

Nguồn nước ngầm phân bố không đều trên địa bàn Cần Giuộc. Ở các xã Vùng thượng nguồn nước ngầm có trữ lượng khá, các giếng khoan ở độ sâu 100 – 120 m chất lượng nước có thể khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, ở các xã Vùng hạ trữ lượng nước ngầm từ ít đến rất ít, tầng nước xuất hiện ở độ sâu 200 – 300 m, chất lượng kém, hàm lượng Fe ++, muối cao nên việc khai thác nước ngầm phục vụ đời sống và sản xuất phải qua các khâu xử lý rất tốn kém. Hiện trên địa bàn Cần Giuộc có trên 1.200 giếng nước ngầm, hiện tượng khai thác quá mức có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước (đã có hiện tượng khai thác quá mức, gây tụt áp 1 – 2 m vào mùa khô). Nhà nước khuyến cáo dân không nên lạm dụng khai thác nước ngầm cho sản xuất mà cố gắng tận dụng nguồn nước mặt bằng cách nạo vét kinh rạch, vận hành các cống hợp lý để tăng trữ lượng nước ngọt phục vụ nhu cầu trong mùa khô. Cần Giuộc có vị trí gần biển Đông, lại ở ngay cửa sông lớn (sông Soài Rạp) nên sông rạch ở Cần Giuộc chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều của biển Đông với biên độ triều lớn. Biên độ triều trong năm biến thiên trong khoảng 3,95 m. Đỉnh triều trong năm cao nhất vào tháng 3, 4 (H max – 170 cm); mặt nước triều thấp nhất vào tháng 8, 9 (H min – 284 cm). So với cao trình mặt đất bình quân 0,5 – 1,2 m, chế độ triều như vậy rất thích hợp cho việc đào ao đầm nuôi thủy sản; việc cấp nước và tiêu nước hoàn toàn tự chảy theo triều. Tuy nhiên, nếu triều cường kết hợp với mưa cường độ cao, nhất là khi có lũ đầu nguồn, nhiều nguy cơ phá vỡ đê đập ngăn mặn hoặc đê bao nuôi thủy sản. Trên thực tế hàng trăm huyện đã phải chi hàng trăm triệu đồng để tu bổ hệ thống đê, đập ngăn mặn và cũng có vài năm dân Vùng hạ bị thiệt hại hàng trăm hecta nuôi thủy sản do mực nước triều vượt đê.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ trước năm 1859[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ trước năm 1859: thời khẩn hoang mở đất, xác lập tổ chức hành chính của Nhà nước triều Nguyễn.

Cần Giuộc thuộc đất Gia Định xưa – một thời còn gọi là “xứ Đồng Nai”, nơi đã hình thành nước Phù Nam vào thế kỷ thứ nhất và bị Chân Lạp chinh phục vào thế kỷ VI. Các kết quả khảo cổ tại di tích lịch sử khảo cổ học Chùa Núi (thuộc xã Đông Thạnh) cho thấy vùng đất Cần Giuộc cách nay 2000 - 3000 năm đã có người sinh sống nhưng do địa thế đất đai chưa ổn định nên đến cuối thế kỷ XVI hầu hết vùng này vẫn còn là rừng rậm hoang vu. Vào đầu thế kỷ XVII, một lớp lưu dân người Việt từ phía Bắc tha phương cầu thực, hoặc chạy nạn thiên tai, nạn Nhà TrịnhNhà Nguyễn phân tranh, nội loạn Trịnh, vào xứ Đồng Nai, Sài Gòn khai hoang lập ấp; có một bộ phận là những người tù tội bị lưu đày biệt xứ. Về sau còn có thêm những binh lính đào ngũ, rã ngũ trong thời kỳ tranh chấp Nguyễn ÁnhTây Sơn. Đặc biệt, vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, những quan lại, những người có tiền của, quyền thế mang theo nô tỳ và chiêu mộ dân nghèo vào phương Nam khẩn đất theo chính sách “dinh điền” của nhà Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được cử vào Nam kinh lý, lấy đất Nông Nại (từ bờ biển Vũng Tàu vào Sài Gòn đến Sông Vàm Cỏ) đặt làm phủ Gia Định. Phủ Gia Định gồm 2 huyện: Phước Long trên vùng đất Đồng Nai, Tân Bình trên vùng đất Sài Gòn. Vùng Cần Giuộc thuộc huyên Tân Bình.

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, đổi phủ Gia Định thành trấn Gia định, năm 1808 đổi trấn Gia Định làm thành Gia Định.

Năm 1832, Minh Mạng thứ 13, thành Gia Định được phân chia lại từ 5 trấn thành 6 tỉnh (gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) với 14 phủ, 41 huyện, lúc đó Cần Giuộc nằm trong huyện Phước Lộc, thuộc phủ Tân An, tỉnh Phiên An.

Năm 1836, sau khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng lại đổi tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định và gọi toàn thành Gia Định là Nam Kỳ. Khái niệm Nam Kỳ - Lục tỉnh ra đời từ đấy.

Đến năm 1859 Pháp bắt đầu xâm lược Nam Kỳ. Lúc này tổ chức hành chính đã ổn định toàn cõi Nam Kỳ. Đất Cần Giuộc vẫn nằm trong huyện Phước Lộc, là một trong trong 4 huyện của phủ Tân An, thuộc tỉnh Gia Định.

Thời kỳ 1859 – 1975 : Thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường), chia tỉnh Gia Định làm 7 hạt; cai trị là chức quan tham biện nên còn gọi hạt là khu tham biện. Hạt nhỏ hơn phủ nhưng lớn hơn huyện. Phước Lộc thành khu tham biện riêng (tiền thân 2 huyện Cần Giuộc, Cần Đước). Tên Cần Giuộc xuất hiện với tư cách là một đơn vị hành chính cấp huyện từ ngày 09 tháng 11 năm 1864.

Năm 1877 khu tham biện Phước Lộc giải thể, sáp nhập vào khu tham biện Chợ Lớn.

Năm 1899 bãi bỏ khu tham biện, Chợ Lớn đổi thành tỉnh, Cần Giuộc trở thành một quận của tỉnh Chợ Lớn (Cần Giuộc gồm cả Cần Đước).

Năm 1923 tỉnh Chợ Lớn có 4 đại lý, sau gọi là quận: Cần Giuộc, Cần Đước, Trung Quận, Đức Hòa.

Sau Cách mạng tháng tám năm 1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập ở Nam bộ 3 khu: 7, 8, 9. Cần Giuộc là một quận nằm trong tỉnh Chợ Lớn thuộc khu 7. Tỉnh Chợ Lớn lúc này gồm 4 quận: Đức Hòa, Trung Quận, Cần Giuộc, Cần Đước.

Tháng 7 năm 1957, Liên Tỉnh ủy Tân An – Chợ Lớn hợp nhất hai tỉnh thành tỉnh Long An, tách Mộc Hóa ra thành lập tỉnh Kiến Tường.

Cuối năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm nhập tỉnh Chợ Lớn với tỉnh Tân An, chia thành hai tỉnh Long An, Kiến Tường theo địa giới mới. Hai huyện Cần Giuộc, Cần Đước thuộc tỉnh Long An, được đổi tên là Thanh ĐứcCần Đức. Cuối năm 1963 chế độ Diệm đổ, hai huyện trở lại với tên cũ.

Năm 1967, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tách 8 xã của huyện Cần Đước, nhập thêm một phần huyện Cần Giuộc gồm xã Phước Lý, ấp Thuận Tây (của xã Thuận Thành), ấp Long Đức, ấp Phước Thuận (của xã Phước Lâm), ấp Long giêng (của xã Phước Hậu), thành lập quận Rạch Kiến.

Thời kỳ thống nhất đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hợp nhất hai tỉnh Kiến TườngLong An thành tỉnh Long An. Huyện Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, gồm 16 xã, một thị trấn như hiện nay.[5]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội tín ngưỡng dân gian (97 lễ hội)[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Có 49 lễ hội là Lễ Cầu An, chủ yếu vào tháng Giêng, một vài nơi cuối tháng Chạp hoặc đầu tháng 2, đối tượng thờ là Thành Hoàng Bổn Cảnh. Lễ Cầu An ở Cần Giuộc, tuy là lễ hội được tổ chức trọng thể nhất trong các lễ hội khác ở đình làng các xã so với các lễ hội Hạ điền, Cầu bông … nhưng về mặt qui mô vẫn ở mức trung bình, nghi thức vẫn chưa đầy đủ nên toàn bộ lễ hội ở Cần Giuộc vẫn là hội lệ[6].
  2. Có 2 lễ hội gắn với nhân vật được thờ là Hai Bà Trưng (miếu Lộc Trung, ấp Lộc Trung, xã Mỹ Lộc) và Nguyễn Văn Thành (đình Phú Thành, ấp Phú Thành, xã Phước Lý).
  3. Có 1 lễ hội có đối tượng thờ đặc biệt là Anh hùng liệt sĩ (miếu Vong Uất, ấp Phước Hưng, xã Phước Lâm).
  4. Có 6 lễ hội là cúng Hạ điền, thời gian khoảng tháng 4 đến tháng 5, thờ Thần Nông.
  5. Có 8 lễ hội là cúng Cầu bông, thời gian khoảng từ tháng 9 đến tháng 11, thờ Thần Nông.
  6. Có 5 lễ hội cúng bà Chúa Xứ, thờ Chúa Xứ Nương Nương chủ yếu vào tháng 2 đến tháng 3.
  7. Có 19 lễ hội là cúng Bà Ngũ Hành, thờ Ngũ Hành Nương Nương, thời gian chủ yếu vào tháng 2 đến tháng 3.
  8. Có 1 lễ hội là cúng Thổ Thần.
  9. Có 1 lễ hội là cúng Tống phong.
  10. Có 6 lễ hội là cúng Tiên sư.
Tất cả lễ hội ở Cần Giuộc, múa hát thờ trong khi tế chỉ có một hình thức là nhạc lễ và diễn trò lễ.
  • Lễ vật dâng thánh trong Lễ Cầu An hầu hết là tế lợn sống, hoặc đầu lợn sống.
  • Lễ vật dâng thánh trong lễ cúng Hạ điền, Cầu bông là gà, xôi nếp.
  • Lễ vật dâng thánh trong lễ cúng Bà Chúa Xứ, bà Ngũ Hành là gà, xôi nếp.
  • Có 1 lễ hội duy nhất lễ vật là đồ chay (cơm chay, trái cây) là lễ Cầu An, đình Lộc Tiền, ấp Lộc Tiền, xã Mỹ Lộc. Lý giải: do cộng đồng cư dân vùng này đa số là tín đồ đạo Cao Đài.
Không lễ hội nào ở Cần Giuộc có trò chơi dân gian.
Tất cả lễ hội ở Cần Giuộc đều đọc sớ bằng âm Hán Việt chữ quốc ngữ.
Không lễ hội nào ở Cần Giuộc có tổ chức rước (rước sắc, rước văn, rước nước, rước thánh).
Việc tổ chức hát cho dân làng xem trong lễ hội, chỉ có hình thức tuồng và cải lương, nhưng hiện nay không còn.
Lễ hội là cúng Miếu Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, đa số có hát bóng rỗi, múa mâm vàng.[7]

Nghề truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cần Giuộc còn 6 nghề truyền thống[8]
  1. Nghề mộc: nằm rải rác ở các xã trong huyện.
  2. Nghề rèn: còn 50 hộ làm nghề tại xã Trường Bình:
  3. Nghề se nhang: còn 71 hộ làm nghề tại 2 xã: Phước Lâm, Thuận Thành.
  4. Nghề đóng ghe: chủ yếu ở các xã vùng hạ.
  5. Nghề chằm lá: chủ yếu ở các xã vùng hạ.
  6. Nghề đan mây tre: chủ yếu ở các xã vùng thượng (Phước Lý, Phước Lâm, Phước Hậu).
  • Nghề cổ truyền có số lượng người tham gia làm nghề đông nhất: Nghề chằm lá.
  • Nghề cổ truyền có số lượng người tham gia làm nghề ít nhất nhưng trên nhiều địa bàn nhất: Nghề mộc.

Nghệ thuật cổ truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cần Giuộc còn tồn tại 6 loại hình nghệ thuật cổ truyền, đó là nhạc lễ, nhạc tài tử, múa lân, dân ca (hò đối đáp, hò cấy, hát lý), lò võ, bóng rỗi tại 16 xã, thị trấn [9].

  • Loại hình nghệ thuật còn tồn tại phổ biến nhất: nhạc tài tử (35 nơi), dân ca (19 nơi), nhạc lễ (15 nơi).
  • Loại hình nghệ thuật còn nhiều nghệ nhân nhất: nhạc lễ, nhạc tài tử: 24 nghệ nhân, dân ca: 17 nghệ nhân, bóng rỗi: 12.

Phong tục tập quán[sửa | sửa mã nguồn]

Phong tục tập quán ở Cần Giuộc về cơ bản cũng giống như ở Cần Đước. Trong 19 phong tục, tập quán truyền thống, đa số nhân dân ở Cần Giuộc không còn theo các tục lệ đầy cử, đổi tên (phần âm) cho con, bán con cho phật cho thánh, xuống đồng, hàn thực, cơm mới. Các tục lệ mừng thọ, lên lão, cúng thổ địa ít người còn theo. Tục dựng nêu, hạ nêu rất hiếm người theo và hầu như không còn ai theo. Cụ thể[10]:

Tại 17 xã, thị trấn huyện Cần Giuộc còn lưu giữ được 11 phong tục, tập quán truyền thống, trong đó:

Việc bảo lưu phong tục tập quán ở Cần Giuộc không mang giá trị tuyệt đối về mức độ bảo lưu từng phong tục. Cụ thể trong 8 phong tục tập quán còn bảo lưu ở Cần Giuộc, có những phong tục cộng đồng còn lưu giữ nhưng không còn giữ đúng như giá trị của nó do nhiều điều kiện khác nhau.

Văm hóa ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cần Giuộc hiện còn các món ăn đặc sản là mắm còng, cua lột, tôm sú, cốm ngò, lịch cũ.
  • Món ăn nổi tiếng nhất ở Cần Giuộc: cốm ngò.

Tri thức dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cần giuộc hiện còn[11]:
  • 34 người biết chữ nho.
  • 19 người biết bói toán, xem phong thủy.
  • 45 thầy lang gia truyền.
  • 30 thầy cúng

Di tích - Danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện hiện còn lại tổng cộng khoản 13 di tích[12]:
  • Di tich lịch sử Khu vực “Rạch Bà Kiểu”: ở ấp Lũy, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  • Di tích lịch sử Khu vực Cầu Kinh – nơi xảy ra trận đánh đầu tiên và ác liệt nhất trong chiến dịch 45 ngày đêm đánh Mỹ ở vùng Hạ Cần giuộc (từ 5/6 đến 20/07/1967): ở ấp 1, xã Phước Vĩnh Tây, huyện Cần Giuộc.
  • Di tích lịch sử Khu vực ”Ngã ba mũi tàu”: địa điểm tập trung cuộc biểu tình ngày 22 tháng 7 năm 1961 (năm Tân Sửu) của nhân dân huyện Cần Giuộc (ở xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An).
  • Di tích lịch sử khu vực sân banh Cần Giuộc – (thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An).
  • Di tích lịch sử Khu vực Cầu Tre – địa điểm ghi dấu chiến công của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược (cuối tháng 10 – A6L năm 1967) ở ấp Thạnh Trung, xã Phước Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  • Di tích lịch sử “Khu vực Gò Sáu Ngọc” ở ấp Phước Thuận, xã Phước Lâm, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  • Di tích lịch sử “Khu lưu niệm Nguyễn Thái Bình” ở ấp Trị Yên, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc.
  • Di tích lịch sử Đình Chánh Tân Kim
  • Di tích lịch sử văn hóa chùa Tôn Thạnh gắn liền sự tích ông Tăng Ngộ (ở ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc).
  • Di tích khảo cổ học Rạch Núi (ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần giuộc, tỉnh Long An).
  • Di tích kiến trúc nghệ thuật “Miếu Bà Ngũ Hành” (xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An).
  • Di tích lịch sử văn hóa “Chùa Thới Bình” tọa lạc tại ngã ba vàm Rạch Dừa thuộc ấp Phước Thới, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  • Di tích chùa Thạnh Hòa

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]