Cắt Mỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cắt Mỹ
AmericanKestrel02.jpg
Con trống
Female American Kestrel.jpg
Con mái
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Phân giới (subregnum)

Eumetazoa

Nhánh Bilateria
Liên ngành (superphylum) Deuterostomia
Ngành (phylum)

Chordata

Nhánh Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Tetrapoda
Lớp (class)

Aves

Nhánh Ornithothoraces
Nhánh Ornithurae
Nhánh Carinatae
Phân lớp (subclass) Neornithes
Phân thứ lớp (infraclass) Neognathae
Liên bộ (superordo)

Neoaves

Nhánh Coronaves
Bộ (ordo) Accipitriformes
Họ (familia) Accipitridae
Chi (genus) Falco
Loài (species) F. sparverius
Danh pháp hai phần
Falco sparverius
Linnaeus, 1758
Phạm vi sinh sống của Cắt Mỹ    Quanh năm   Mùa hè (sinh sản)   Mùa đông (không sinh sản)
Phạm vi sinh sống của Cắt Mỹ
  Quanh năm
  Mùa hè (sinh sản)
  Mùa đông (không sinh sản)

Cắt Mỹ (danh pháp hai phần: Falco sparverius) là một loài cắt nhỏ, loài cắt duy nhất tại Mỹ. Nó là loài cắt phổ biết nhất Bắc Mỹ, và được tìm thấy tại nhiều loại môi trường sống. Với chiều dài 19–21 cm (7–8 in), nó cũng là loài cắt nhỏ nhất Bắc Mỹ. Chế độ ăn uống của nó gồm châu chấu, thằn lằn, chuột và các loài chim nhỏ. Nó làm tổ trên cây, vách đá, tòa nhà và các công trình khác. Con mái đẻ từ ba tới bảy trứng, cả con trống và mái đều giúp ấm trứng. Nó là loài thường dùng trong nghề nuôi chim cắt, đặt biệt cho người mới nuôi. Mặc dù không phải chim săn hung dữ như nhiều loài cắt khác, nuôi dạy đúng cách và kiểm soát cân nặng giúp chúng này trở thành chim săn hiệu quả.[2]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cắt Mỹ là loài cắt nhỏ nhất Bắc Mỹ, và theo phân loại truyền thống, là loài chim ăn thịt nhỏ nhất châu Mỹ.[3] Chiều dài của loài chim này là 12 đến 27 cm (4,7 đến 10,6 in) với sải cánh 50–61 cm (20–24 in), con mái lớn hơn con trống. Con trống nặng 80–105 g (2,8–3,7 oz), con mái nặng 100–120 g (3,5–4,2 oz). Theo số đo tiêu chuẩn, xương cánh dài 16–21 cm (6,3–8,3 in), đuôi dài 11–15 cm (4,3–5,9 in) và xương cổ chân là 3,2–4 cm (1,3–1,6 in).[4][5][6]

Khác với các loài chim khác, dị hình giới tính của loài này ở bộ lông nhiều hơn ở kích thước. Con trống có cánh màu xanh-xám với đốm đen. Lưng màu đỏ hoe với sọc đốm. Bụng và hai bên sườn có màu trắng với đốm đen. Đuôi cũng màu đỏ hoe, mút đuôi màu trắng.[7] Lưng và cánh của com mái màu đỏ hoe với sọc đốm nâu sậm. Mặt bụng của con mái màu kem với vàng sẫm với các vệt màu nâu đậm. Con chưa trưởng thành cũng có màu sắc giống con trưởng thành.[7] Ở cả hai giới, đầu có màu trắng với trắng đen-xanh xanh. Ngoài ra còn có vạch hẹp, thẳng đứng màu đen ở mỗi bên của mặt.[8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BirdLife International (2012). Falco sparverius. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ American Kestrels in Modern Falconry by Matthew Mullenix. Western Sporting Publications (2002), ISBN 1-888357-05-03.
  3. ^ The American Kestrel: Falcon of Many Names by Wauer and Clark. Johnson Books (2005), ISBN 1555663532
  4. ^ McCollough, Kathryn (2001). “American Kestrel Falco sparverius. Animal Diversity Web. University of Michigan Museum of Geology. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  5. ^ Raptors of the World by Ferguson-Lees, Christie, Franklin, Mead & Burton. Houghton Mifflin (2001), ISBN 0-618-12762-3
  6. ^ American Kestrel, Life History, All About Birds – Cornell Lab of Ornithology. Allaboutbirds.org. Retrieved on 2013-02-25.
  7. ^ a ă “American Kestrel, Falco sparverius. Cornell Lab of Ornithology. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  8. ^ Tveten & Tveten (2004), p. 210

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]