Cổ Nhuế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cổ Nhuế
Địa lý
Diện tích 6,5 km2
Dân số  
 Tổng cộng 77.000 [1]
 Mật độ 10769,2
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Thành phố Hà Nội
Huyện Từ Liêm
Thành lập 1960
 Trụ sở UBND Số 601 Phạm Văn Đồng, Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội

Cổ Nhuế là một của huyện Từ Liêm (cũ), Hà Nội. Đến khi chia tách để thành lập 2 phường Cổ Nhuế 2Cổ Nhuế 1, Xã có dân số 77 nghìn người) diện tích: 6,5 km². Đây là xã kinh tế phát triển nhất huyện Từ Liêm cũ [2]. Xã có nghề may truyền thống.

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Cổ Nhuế (cũ) gồm 12 thôn và 1 tổ dân phố: Hoàng 1, Hoàng 2, Hoàng 3, Hoàng 4 (Khu dân cư trên đường Trần Cung, khu chợ bệnh viện E, từ đường Hoàng Quốc Việt, chưa có số nhà, mọi người hay lầm tưởng là của Quận Cầu Giấy), Hoàng 5 (Khu Đại học Điện lực, Cao đẳng Du Lịch, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Triển làm Nông nghiệp, Nhà máy in tiền Quốc Gia mọi người hay lầm tưởng là quận Cầu Giấy) Hoàng 6, Đống 1, Đống 2, Trù 1, Trù 2, Viên 1, Viên 2 và tổ dân phố Phú Minh. Ngoài ra địa bàn còn được chia làm nhiều khu dân cư (Tổ dân phố, ngày xưa gọi là xóm) 1A, 1B, 1C, 2A, 2B, 2C, 3A, 3B, 4A, 4B, 5A, 5B, 6A, 6B, 7A, 7B, 8A, 8B, 9A, 9B, 10A, 10B, 11A, 11B, 12A, 12B, 13A, 13B, 14A, 14B, 15A, 15B, 16A, 16B, 17A, 17B, 18A, 18B, 19A, 19B, Tổ dân phố Phú Minh, Tổ dân phố khu TT Công Ty XD số 2, Tổ dân phố Học viện Cảnh sát Nhân dân...

Nhiều tuyến đường quan trọng chạy qua phường: Đường Phạm Văn Đồng, Đường Hoàng Quốc Việt, Phố Trần Cung, Đường Cổ Nhuế, Đường Văn Tiến Dũng, Phố Đặng Thùy Trâm, Phố Phạm Tuấn Tài, Đường Phan Bá Vành, Phố Tăng Thiết Giáp(Tên chưa chính thức), Phố Cầu Noi (Tên chưa chính thức), phố Nguyễn Văn Thạc(Ngõ 43 Đường Cổ Nhuế)(Tên Chưa chính thức, trên phố có Nhà văn hóa Nguyễn Văn Thạc - Xóm 8B), ngoài ra còn có sông Nhuệ. Đường sắt Bắc Nam chạy qua.

Ngày 27 tháng 12 năm 2013, thành lập quận Bắc Từ Liêm, xã Cổ Nhuế được chia thành 2 phường: Cổ Nhuế 1Cổ Nhuế 2.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cuốn Từ điển Hà Nội - địa danh thì Cổ Nhuế (xã) xưa có tên Nôm là Kẻ Noi, thuộc tổng Cổ Nhuế, phủ Hoài Đức. Thời Pháp thuộc, trước năm 1942, sau khi bỏ cấp tổng, Cổ Nhuế gồm 3 xã (xã thời nhà Nguyễn) là Trù Đống, Hoàng (còn gọi là Cổ Nhuế Hoàng), Viên (còn gọi là Cổ Nhuế Viên). Năm 1945, 3 xã này (mà nay là xã Cổ Nhuế) thuộc quận 5 ngoại thành. Tới năm 1961, xã Cổ Nhuế được thành lập, các xã cũ trở thành thôn và tách Trù Đống thành 2: Cổ Nhuế Trù (Trù hay Chùa (thôn)), Cổ Nhuế Đống. Từ đó, xã Cổ Nhuế gồm 4 thôn.[3] Hai làng Cổ Nhuế Trù và Đống vốn từ một làng Cổ Nhuế (tên Nôm là Kẻ Noi) tách ra vào giữa thời Lý. Từ xa xưa đến đầu thế kỷ XX, hai làng nằm trong xã Cổ Nhuế (cùng với các làng Cổ Nhuế Hoàng và Cổ Nhuế Viên) thuộc tổng Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây (từ năm 1888 trở đi là tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi làm tỉnh Hà Đông). Năm 1926, hai làng tách ra thành một xã riêng gọi là Cổ Nhuế Trù - Đống, dân số có 2034 người.

Sau Cách mạng Tháng Tám, xã Cổ Nhuế Trù - Đống nhập với hai xã Cổ Nhuế Hoàng và Cổ Nhuế Viên thành xã Cổ Nhuế thuộc quận 5 ngoại thành Hà Nội, đến năm 1961 là một xã của huyện Từ Liêm. Tháng 12 năm 2013, xã Cổ Nhuế được tách thành 2 phường mới: Cổ Nhuế 1Cổ Nhuế 2 thuộc quận Bắc Từ Liêm vừa mới thành lập.

Hai làng Cổ Nhuế Trù và Cổ Nhuế Đống xưa cũng là làng nông nghiệp, có truyền thống thâm canh lúa và hoa màu giỏi. Song đến năm Ất Mão niên hiệu Duy Tân (1915), đê Liên Mạc bị vỡ làm phần lớn đồng ruộng của hai làng bị cát bồi lấp, từ chỗ cấy được hai vụ đến đây chỉ cấy được một vụ mùa, còn vụ chiêm phải chuyển sang trồng ngô, khoai lang xen đậu đỗ các loại. Nhờ kinh nghiệm thâm canh nên dân làng tạo được giống ngô nếp rất dẻo và thơm, có tiếng trong vùng. Từ năm 1920, do sản xuất nông nghiệp bị sút kém nên dân hai làng đã tìm học được nghề may để sinh sống. Từ một vài nhà ban đầu, đến năm 1935 cả hai làng đã có vài trăm hộ làm, rồi lan sang hai làng Cổ Nhuế Hoàng và Cổ Nhuế Viên. Rất đông thợ ma của hai làng vào nội thành may thuê cho các nhà thầu hoặc may quần áo cho binh lính, nhiều người có vốn mở hiệu may riêng. Một số chủ hiệu thợ may ở phố Hàng Trống phải lấy tên một thợ may giỏi người Cổ Nhuế làm tên cửa hiệu của mình để thu hút khách hàng.

Về di tích lịch sử, thôn Đống còn ngôi nhà thờ ông Nguyễn Hữu Đạo là quan Thái y viện - cơ quan chăm sóc sức khỏe của vua và hoàng tộc vào thời Lê - Trịnh, từng chữa khỏi bệnh cho Hoàng hậu - vợ vua Lê Hiển Tông. Về sau, ông Đạo còn theo quân ra trận, lập được nhiều công nên được phong làm Thống suất binh Nam, Thượng tướng quân. Nhà thờ được làm bằng 36 cột đá, do chính vua Lê Hiển Tông tặng sau khi ông Đạo về hưu. Trong nhà thờ hiện còn một bảng khắc gỗ ghi lại bài thơ thất ngôn bát tuyệt ca ngợi tài đức của ông Đạo, song điều đặc biệt là một câu có một từ chỉ một vị thuốc quý mà ông đã dùng để chữa bệnh.

Thôn Trù còn một ngôi miếu nhỏ, bên trong còn tấm bia dựng năm Vĩnh Khánh thứ hai (1731) ghi việc ông ông Đỗ Pháp Hiển làm quan trong đội Cấm quân, có công hộ vệ vua đi tuần thú thoát khỏi bị bão đánh đắm thuyền ở cửa biển Thần Phù (Nga Sơn, Thanh Hóa) nên được thăng làm tước Siêu Hải hầu. Vì không có con nên ông bà hiến toàn bộ số ruộng của mình cho làng và được làm tôn làm hậu thần làng.

Đình chùa[sửa | sửa mã nguồn]

Xã có nhiều đình, chùa tập trung ở cả bốn làng Hoàng, Đống, Trù và Viên với 3 ngôi chùa: Chùa Sùng Quang (Thôn Đống 2), Chùa Anh Linh (Thôn Viên 1), Chùa Trùng Hưng (Thôn Hoàng 2). Có hai ngôi đình ở 2 thôn Viên 2 và Hoàng 2, thờ thành hoàng làng (Hoàng Tử Đông Chinh Vương- Lý Công Lực, con trai vua Thái tổ Lý Công Uẩn), Đền Bà chúa thờ Túc Trinh công chúa, con gái vua Trần Thánh Tông. Lễ hội của làng thường được tổ chức vào ngày 10 tháng 2 âm lịch hàng năm. Lễ tế thành Hoàng làng vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. Ngoài ra ở thôn Viên 1 và Viên 2 còn có Lễ mộc dục và Lễ cúng thực(Công chúa Túc Trinh thời Trần) vào ngày 1 tháng 8 âm lịch hàng năm.

Từ thập niên 1970 các nhà khảo cổ đã đào được một số di vật dưới lòng đất ở đây như: rìu đá, hòn nghiền, hòn cà bằng đá, hòn gạch vuông có hoa văn trám lồng đời Hán, tượng cá hóa rồng thời Lý - Trần[cần dẫn nguồn].

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư hiện nay tại xã gồm người bản địa và rất đông những người dân từ nhiều miền đến đây sinh sống, học tập. Rất nhiều người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề may truyền thống. Nhiều công ty may đã và đang được thành lập ở Cổ Nhuế, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động trong vùng, cũng như lao động ngoại tỉnh.

Truyền thống nghề may của xã[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những năm đầu thế kỷ 20, nghề may không chỉ đem lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho dân làng Cổ Nhuế mà còn tạo ra những thay đổi về cơ cấu dân cư, quan hệ xã hội của làng, đặc biệt là làm hình thành đội ngũ công nhân may mặc có tay nghề cao, có ý thức cao về vị thế xã hội của mình. Đây là cơ sở để làng Cổ Nhuế sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng. Mùa hè năm 1938, đã thành lập Hội ái hữu thợ may Cổ Nhuế, sau đó đông đảo thợ may Cổ Nhuế cùng nông dân đã đưa đơn kiện bọn cường hào làng xã thu lạm tiền thuế thân từ 2,5 đồng lên 3 đồng một suất và đã giành được thắng lợi. Đại tướng Văn Tiến Dũng (người thôn Cổ Nhuế Trù) là Thư ký Hội ái hữu thợ dệt Hà Nội đã viết bài trên báo Tin tức - tờ báo công khai của Đảng CSVN để cổ động cuộc đấu tranh. Năm 1939, diễn ra cuộc đấu tranh đòi tăng lương của 600 thợ may Cỏ Nhuế ở Sở Quân nhu. Sau đó, Cổ Nhuế trở thành một điểm trong An toàn khu của Trung ương. Cuối năm 1940, Chi bộ Cổ Nhuế được thành lập, lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Bộ máy Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bí thư đảng ủy, Kiêm chủ tịch UBND Chu Văn Đoàn
Phó bí thư thường trực Đảng ủy, chủ tịch HĐND Nguyễn Thị Thanh Thảo
Phó bí thư Đảng ủy, phó chủ tịch UBND(Phụ trách kinh tế) Nguyễn Tiến Hùng
Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân Nguyễn Ngọc Quang
Phó chủ tịch UBND, phụ trách Văn hóa xã hội Chu Thanh Hà
Chủ tịch Ủy ban MTTQ Phí Kim Bảng
Phó chủ tịch Thường trực UB MTTQ Văn Thị Minh Ánh
Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự Hoàng Tuấn Cải
Trưởng công an Nguyễn Văn Hùng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thống kê UBND Huyện Từ Liêm 2011
  2. ^ Thống kê của UBND huyện Từ Liêm năm 2007
  3. ^ Từ điển Hà Nội-địa danh, tác giả Bùi Thiết, nhà Xuất bản Văn hóa - Thông tin, trang 75.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]