Cảnh sát biển Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Tư lệnh cảnh sát biển Việt Nam
Vietnam Marine Police insignia.jpg

Phù hiệu Cảnh sát biển Việt Nam
Hoạt động 1998 - nay
Quốc gia Việt Nam
Phân loại Tuần tra
Chức năng Lực lượng có chức năng như công an trên biển, bao gồm: tuần tra kiểm soát và quản lý về an ninh, trật tự, an toàn trên biển, bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, chống tội phạm, TKCN,..trên biển
Bộ phận của Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Lực lượng chấp pháp trên biển Việt Nam
Trụ sở Cục Hà Nội, Việt Nam
Màu chủ đạo                 Xanh biển, Trắng, Cam
Lễ kỷ niệm 28 tháng 8, 1998
Trang bị Tàu tuần tra, Tàu cứu hộ, Máy bay tuần thám, Máy bay trực thăng
Các tư lệnh
Tư lệnh Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm
Chính ủy Thiếu tướng Nguyễn Văn Tương
Phó Cục trưởng Thiếu tướng Ngô Ngọc Thu, Đại tá Nguyễn văn Sơn,..
Huy hiệu
Phù hiệu trên thân tàu Vietnam Marine Police Racing Stripe.jpg
Huy hiệu
Vietnam Marine Police insignia 2.jpg

Cảnh sát biển Việt Nam (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Vietnam Coast Guard) là lực lượng chuyên trách thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của nước này.

Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Chính phủ.

Bộ Quốc phòng Việt Nam trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Cục Cảnh sát biển Việt Nam thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1998 theo quyết định số 1069/1998-QĐ-BQP, với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động được quy định tại Pháp lệnh về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam số 04/1998/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 7 tháng 4 năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định số 53/1998/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam.

Trước đây, nước này không có một cơ quan Cảnh sát biển chuyên dụng nào mà chỉ có lực lượng hải quân tuần tra ngoài khơi cùng các hoạt động quân sự khác. Ngoài ra là các đội tàu tuần tra thuộc Bộ Tư lệnh Biên phòng, trong đó có các trạm kiểm soát ở cửa sông, cảng biển. Còn lại, tất cả trách nhiệm tuần tra sông thuộc về Cảnh sát Giao thông đường thủy (Cục Cảnh sát giao thông đường thủy - C68) dưới sự chỉ đạo của Công an các tỉnh và thành phố.

Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trở thành đơn vị độc lập vào ngày 28 tháng 8 năm 1998 theo quyết định số 1069/1998-QĐ-BQP. Với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động được quy định tại Pháp lệnh về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam số 04/1998/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 7 tháng 4 năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định số 53/1998/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ.

Lực lượng này đổi tên thành Bộ Tư lệnh cảnh sát biển theo Nghị định số 96/2013/NĐ-CP, ngày 27 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quy định tại pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gọi là Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam [1].

Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động trong vùng nước nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, có nhiệm vụ chính như kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hoá, vũ khí, chất nổ, chất ma tuý, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Cùng với đó là nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, hoà bình và ổn định trên các vùng biển.[2] Các vấn đề Cảnh sát biển có nhiệm vụ giải quyết bao gồm:

  • Buôn lậu ma túy
  • Buôn bán người
  • Các chất thải phóng xạ độc hại
  • Thực thi pháp luật hàng hải
  • Hỗ trợ hàng hải
  • Tìm kiếm cứu nạn (SAR)
  • Quốc phòng - Phối hợp cùng với lực lượng Hải quân.[3]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cảnh sát biển Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo quy định của Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 5 tháng 2 năm 2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bộ Quốc phòng là đơn vị trực tiếp tổ chức, quản lý và điều hành mọi hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển.[4]
  • Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là Vietnam Coast Guard theo Điều 4, Nghị định 96/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2013 [5]
  • Trụ sở chính: Số 94 Lê Lợi, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
  • Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm (tháng 10, 2012)[6]
  • Chính ủy: Thiếu tướng Nguyễn Văn Tương
  • Phó tư lệnh: Thiếu tướng Ngô Ngọc Thu, Đại tá Phan Thanh Minh, Đại tá Nguyễn Văn Sơn

Hệ thống tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển
  2. Đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển:
    • Các Vùng Cảnh sát biển.[7]
    • Hải đoàn Cảnh sát biển;
    • Cụm trinh sát số 1, 2;
    • Cụm đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy 1,2,3,4;
    • Trung tâm thông tin Cảnh sát biển;
    • Trung tâm huấn luyện Cảnh sát biển.[5]

Vùng cảnh sát biển[sửa | sửa mã nguồn]

Các Vùng Cảnh sát biển Việt Nam

Vùng hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nội thủy, lãnh hải và vùng nước cảng biển của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hoá, vũ khí, chất nổ, chất ma tuý, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, vận chuyển trái phép và buôn bán người, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy.

Hệ thống cấp bậc trong Cảnh sát biển[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp bậc trong Cảnh sát biển Việt Nam Insignia Lapel
Trung tướng
Vietnam Marine Police Lieutenant General.jpg
Vietnam Marine Police general rank lapel.jpg
Thiếu tướng
Vietnam Marine Police Major General.jpg
Vietnam Marine Police general rank lapel.jpg
Đại tá
Vietnam Marine Police Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png
Thượng tá
Vietnam Marine Police Senior Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png
Trung tá
Vietnam Marine Police Lieutenant Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png
Thiếu tá
Vietnam Marine Police Major.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png
Đại úy
Vietnam Marine Police Captain.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png
Thượng úy
Vietnam Marine Police Senior Lieutenant.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png
Trung úy
Vietnam Marine Police Lieutenant.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png
Thiếu úy
Vietnam Marine Police SubLieutenant.jpg
Vietnam Marine Police Captain rank lapel.png

Tư lệnh qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiếu tướng Hồ Minh Giáp (1998-2006)
  • Trung tướng Phạm Đức Lĩnh (2006-2012)
  • Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm (từ tháng 9, 2012).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]