Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cục tình báo trung ương Mỹ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Central Intelligence Agency (Cơ quan Tình báo Trung ương)
Biểu trưng của CIA
Biểu trưng của CIA
Khái lược
Thành lập 18 tháng 9, 1947
Tiền thân Central Intelligence Group
Trụ sở Langley, Virginia, Hoa Kỳ 38°57′06″B 77°08′48″T / 38,951796°B 77,146586°T / 38.951796; -77.146586
Nhân sự Tài liệu mật[1]

khoảng 20.000 nhân viên[2]

Ngân quỹ Tài liệu mật[3][4]

$27 tỷ USD vào năm 1998[1]

Lãnh đạo David Petraeus, Giám đốc
 
Michael Morell, Phó giám đốc
 
Sue Bromley, Phó giám đốc Phụ tá
Trang chủ
www.cia.gov

Cơ quan Tình báo Trung ương (tiếng Anh: Central Intelligence Agency; viết tắt: CIA) là một trong những Cơ quan Thu thập Tình báo quan trọng của Chính quyền Liên bang Hoa Kỳ. CIA có tổng hành dinh nằm ở Langley, Virginia, một vài dặm về phía Tây Thủ đô Washington, D.C. Nhân viên của cơ quan hoạt động từ các Đại sứ quán của Hoa Kỳ và nhiều địa điểm ở khắp thế giới. CIA là cơ quan Độc lập duy nhất của Hoa Kỳ và chỉ báo cáo thông tin đến Giám đốc Tình Báo Quốc Gia.

CIA có ba họat động truyền thống chính thức, là thu thập thông tin về chính phủ của các nước ngòai, công ty và cá thể; Phân tích dữ liệu đó cùng với các Cơ quan thu thập tình báo khác của Hoa Kỳ với mục đích để cung cấp các đánh giá về Tình báo An ninh Quốc gia đến các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ; và, khi nhận được lệnh từ Tổng thống Hoa Kỳ, sẽ thực hiện và giám sát các họat động mật và các hoạt động chiến thuật bởi nhân viên của chính Cơ quan, bởi binh sỹ của Quân đội Hoa Kỳ hoặc là các đối tác của Cơ quan. Nó có thể, ví dụ, làm tăng sức ảnh hưởng của chính trị tại các nước qua các bộ phận chiến thuật, như là Bộ phận Hoạt động Đặc biệt.

Năm 2013, tờ Washington Post thông báo rằng CIA phần chia đều trong Chương trình Tình báo Quốc gia (National Intelligence Program - NIP), một tổ chức phi quân sự và là một phần của Quỹ Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ đã tăng 28% trong năm 2013, vượt quá phần chia bởi NIP đến các Cơ quan Quân sự như Cơ quan Trinh sát Quốc gia (National Reconnaissance Office - NRO)Cơ quan An ninh Quốc gia (National Security Agency - NSA). CIA đã tăng cường trong việc đóng vai trò chủ động, bao gồm các chiến dịch bán quân sự mật. Một trong số các bộ phận lớn nhất của Cơ quan, Trung tâm Thông tin Chiến dịch (Information Operations Center - IOC) đã chuyển mục tiêu từ chống khủng bố sang các Hoạt động Điện tử Chủ động.

Nhiều hoạt động của CIA rất thu hút dư luận. Chúng bao gồm các Thí nghiệm trên con người, Dẫn độ bất hợp pháp, thực nghiệm các phương thức tra tấn, thủ tiêu, ám sát và tài trợ cũng như đào tạo các đội dân binh có nhiệm vụ giết dân thường.

Mục đích[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan Tình báo Trung Ương, với tiền nhiệm là Cơ quan Công tác Chiến thuật (Office of Strategic Services - OSS), thành lập trong Đệ nhị Thế Chiến để phối hợp các Hoạt động Nội gián Mật chống lại phe Trục cho Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ. Đạo luật An ninh Quốc Gia năm 1947 thiết lập ra CIA, với tư cách "Không phải là Cơ quan Cảnh sát hoặc Nhà nước, kể cả ở trong nước đến ngoài nước."

Đã có các dư luận nhiều đáng kể về CIA liên quan đến an ninh và các thất bại chống lại các hoạt động nội gián, thất bại trong việc phân tích thông tin tình báo, các mối lo về quyền con người, các cuộc điều tra và công bố tài liệu, làm ảnh hưởng đến ý kiến của công chúng và các Cơ quan hành luật, buôn lậu ma túy và nói dối với Quốc Hội Hoa Kỳ. Những ý kiến khác, như từ kẻ ly khai Cộng Sản, Ion Mihai Pacepa, đã bảo vệ CIA khi nói "CIA cho đến nay là Tổ chức Tình báo tốt nhất thế giới," và tranh luận rằng các hoạt động của CIA nằm trong số các hoạt động được giám sát cẩn thận ở mức độ chưa từng thấy ở các Cơ quan Tình báo của thế giới.

Dựa vào ngân sách của Cơ quan trong Năm tài chính 2013, CIA có năm ưu tiên:

  • Chống khủng bố, ưu tiên hàng đầu, được xác định qua Cuộc chiến Với Khủng bố đang diễn ra.
  • Ngăn sự phổ biến của vũ khí hủy diệt hàng loạt với mục tiêu khó nhất là Triều Tiên.
  • Cảnh báo thủ lĩnh của Hoa Kỳ về các sự kiện quan trọng quốc tế, với Pakistan được mô tả là "Mục tiêu bất kham."
  • Phản gián, với Trung Quốc, Nga, Iran, CubaIsrael được mô tả là các mục tiêu ưu tiên.
  • Tình báo mạng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

CIA được thành lập năm 1947 theo Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947 do Quốc hội thông qua và Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman ký ban hành, có tiền thân là Cơ quan Tình báo chiến lược (OSS) thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổ chức OSS đã giải tán vào tháng 11 năm 1945 và các hoạt động được chuyển giao cho Bộ Ngoại giao và Bộ Chiến tranh. Do sự cần thiết của một hệ thống tình báo tập trung sau chiến tranh nên 11 tháng trước đó, vào năm 1944, William J. Donovan, người khai sinh OSS, đã đệ tình lên Tổng thống Franklin D. Roosevelt một bản kế hoạch thành lập một tổ chức tình báo chịu sự giám sát trực tiếp của Tổng thống.

Mặc dù gặp phải sự phản đối từ phía Bộ ngoại giao và Cục Điều tra Liên bang nhưng Tổng thống Truman vẫn quyết định thành lập Khối Tình báo trung ương vào tháng 1 năm 1946. Sau đó theo Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947 (có hiệu lực từ ngày 18 tháng 9 năm 1947), Hội đồng An ninh quốc gia và Cơ quan Tình báo Trung ương chính thức ra đời. Thiếu tướng hải quân Roscoe H. Hillenkoetter là người đầu tiên được bổ nhiệm vào chức Giám đốc Tình báo Trung ương.

Cổng chính tại tổng hành dinh mới của CIA

Năm 1949, điều lệ 81-110 được thông qua, cho phép cơ quan này được quyền sử dụng các thủ tục về mật vụ, tài chính và hành chính và được miễn khỏi hầu hết những hạn chế trong việc sử dụng ngân quỹ liên bang. Sắc lệnh này cũng cho phép CIA không cần công bố các thông tin về tổ chức, nhiệm vụ, văn tự, tiền lương, số lượng nhân viên. sắc lệnh này cũng bao gồm cả chương trình "PL-110" để lợi dụng những kẻ đào ngũ và một số cá nhân nước ngoài, đồng thời cung cấp tài chính họ. Năm 1949, cơ quan tình báo của Tây Đức Bundesnachrichtendienst dưới quyền lãnh đạo của Reinhard Gehlen, đã nằm trong sự điều khiển của CIA.

Năm 1950, CIA thành lập Tập đoàn Pacific, một trong những tổ chức kinh doanh đầu tiên của CIA. Cũng trong thời gian đó, Giám đốc Hillenkoetter lần đầu tiên phê chuẩn chương trình điều khiển nhận thức (mind control) mang tên Dự án BLUEBIRD. Năm 1951, hệ thống truyền thanh Columbia (CBS) bắt tay hợp tác cùng CIA. Sau đó, Tổng thống Truman quyết định đổi tên Dự án BLUEBIRD thành Dự án ARTICHOKE.

Trong những năm đầu mới đi vào hoạt động, CIA không chịu nhiều sự điều khiển từ các cơ quan khác của chính phủ. Tuy nhiên mọi chuyện đã thay đổi vào khoảng những năm 70, thời điểm xảy ra vụ Watergate.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng của CIA bao gồm 3 phần mang ý nghĩa tượng trưng: đầu chim đại bàng quay sang trái, ngôi sao 16 cánh và một cái khiên. Đại bàng là linh vật quốc gia, tượng trưng cho sức mạnh và sự tỉnh táo. Ngôi sao 16 cánh mang hàm ý CIA là tổ chức tìm kiếm thông tin tình báo từ khắp mọi nơi trên thế giới ngoài biên giới Hoa Kỳ và những thông tin đó được quy tụ về trụ sở đầu não để phân tích, kiểm tra và phân bố đến các nhà làm luật. Ngôi sao được đặt trên cái khiên, tượng trưng cho sự phòng thủ vững chắc.

Kết cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức của CIA thay đổi theo từng thời kỳ. Dưới đây là một số sơ đồ tổ chức ví dụ.

Thành phần lãnh đạo (tính đến hết năm 2009)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giám đốc (Director of the Central Intelligence Agency - D/CIA): Leon E. Panetta
  • Phó giám đốc (Deputy Director of the Central Intelligence Agency - DD/CIA): Stephen R. Kappes
  • Phó giám đốc Phụ tá (Associate Deputy Director of the Central Intelligence Agency - ADD/CIA): Stephanie O'Sullivan
  • Giám đốc Ban Hỗ trợ (Director for Support - D/S): khuyết
  • Giám đốc Sở Mật vụ Quốc gia (Director of the National Clandestine Service - D/NCS): Michael Sulick.
  • Giám đốc Ban Tình báo (Director of Intelligence - D/I): Michael J. Morell
  • Giám đốc Ban Khoa học & Công nghệ (Director of Science & Technology - D/S&T): khuyết
  • Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tình báo (Director of the Center for the Study of Intelligence - D/CSI): Carmen A. Medina
  • Giám đốc Phòng Đối ngoại (Director of Public Affairs - D/PA): khuyết
  • Tổng cố vấn (General Counsel - GC): khuyết

Mối quan hệ với các cơ quan khác[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ, quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại ngân sách của CIA vẫn được giữ kín. Tuy nhiên số tiền mà tổ chức này tiêu tốn hàng năm có thể lên tới nhiều tỉ đô la, một phần do quốc hội cung cấp, còn một phần là hoạt động kinh doanh và bán những thông tin tình báo của mình cho các cơ quan khác của nước Mỹ. Vào năm 1997, lần đầu tiên chính phủ Mỹ công khai các số liệu tổng hợp với mọi hoạt động liên quan đến tình báo (trong đó CIA chỉ là một phần) với ngân sách khoảng 22,6 tỉ USD trong năm tài chính 1997. Ngân sách tình báo của những năm khác vẫn được giữ bí mật.

CIA và Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời chiến tranh và cả hậu chiến, CIA đã hoạt động mạnh ở Việt Nam. Trong chiến tranh Đông Dương, Mỹ coi Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chính trị của họ nên bắt đầu các hoạt động can thiệp. Đúng 20 ngày sau khi Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đô đốc Mỹ Sabin đến Hà Nội, họp với phái đoàn quân sự Mỹ tại đây. Năm 1955, phái đoàn quân sự này của Mỹ do Edward Lansdale chỉ huy, nhân viên cao cấp của CIA và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền chiến tranh tâm lý để kêu gọi dân chúng miền Bắc di cư vào Nam[5].

Trong chiến tranh Việt Nam, chiến dịch Phượng hoàng với sự hậu thuẫn của CIA, đã được triển khai nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam[6].

Hiện nay CIA đang tuyển các nhân viên người Việt, bao gồm cả những người mới sang Mỹ. Một số người Việt khi được hỏi về vấn đề hoạt động gián điệp ở Việt Nam thì họ cho biết rất sẵn sàng[7].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “CIA Frequently Asked Questions”. cia.gov. 28 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2008. 
  2. ^ Crile, George (2003). Charlie Wilson's War. Grove Press. ISBN 0871138549. 
  3. ^ Kopel, Dave (28 tháng 7 năm 1997). “CIA Budget: An Unnecessary Secret”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2007. 
  4. ^ “Cloak Over the CIA Budget”. 29 tháng 11 năm 1999. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2008. 
  5. ^ Bernard B. Fall, The Two Vietnams (New York: Praeger, 1964) pp. 153-4
  6. ^ http://www.archive.org/stream/vietnampolicypro00unit#page/4/mode/2up
  7. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/10/121022_cia_recruiment_roadshow.shtml

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh:

Tiếng Việt: