Cừu Hành Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cừu Hành Vương
Hangul 구형왕 hay 구해왕
Hanja (Hán tự) 仇衡王 hay 仇亥王
Hán-Việt Cừu Hành Vương hay Cừu Hợi Vương
Romaja quốc ngữ Guhyeong wang hay Guhae wang
McCune-Reischauer Kuhyŏng wang hay Kuhae wang

Cừu Hành Vương, hay còn gọi là Cừu Hợi (trị vì 521-532)[1] là vị vua thứ 10 và cuối cùng của Kim Quan Già Da, một thành bang của liên minh Già Da thuộc Triều Tiên cổ đại. Ông là con trai của Kiềm Tri Vương và Thục phu nhân. Ông kết hôn với phu nhân Quế Hoa (Gyehwa), người là con gái của suijil Bunjil. Ông có ba người con trai, mỗi người trong họ về sau trở thành gakgan, hay tướng quân: Sejong, Mudo và Muduk.

Đối mặt với một cuộc tấn công của Tân La thời Pháp Hưng Vương (Beopheung), Cừu Hành Vương đã lựa chọn đầu hàng và đưa gia đình cùng của cải châu báu đến Tân La. Ông và gia đình được xếp vào hàng cao thứ hai trong chế độ cốt phẩm của Tân La là "chân cốt" và bản thân ông được xếp hạng Thượng đại đẳng (Sangdaedeung), và cho phép giữ lãnh thổ trước đây. Theo Tam quốc di sự, điều này xảy ra vào năm 520 hoặc 490 sau ngày thàng bang được Thủ Lộ Vương thành lập theo truyền thuyết.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thời điểm này được chấp thuận rộng rãi. Tuy nhiên, Tam quốc di sự chép là 521-562 và cũng có số liệu thay thế là 507-549.