Cửa Việt (thị trấn)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bản mẫu:Underlinked

Cửa Việt là thị trấn trải dài dọc bờ biển, ngọn nước bao quanh, nằm phía tả ngạn con sông Hiếu bốn mùa xanh biếc. Thị trấn Cửa Việt có con đường xuyên Á chạy qua, là tuyến giao thông huyết mạch trên trục kinh tế Đông Tây nối từ cảng Cửa Việt đến Myanma - Lào - Đông Bắc Thái Lan, rất thuận tiện cho giao thông buôn bán và đi lại của người dân. Từ Thị trấn Cửa Việt đến thành phố Đông Hà khoảng 15 km về phía Tây Nam, đến huyện lỵ Gio Linh 10 km về phía Tây Bắc và về phía Bắc đến Thị trấn Cửa Tùng 15 km. Ngoài ra, đến với Cửa Việt chúng ta có thể đi bằng đường thủy qua cửa biển hay theo dọc sông Hiếu.

Cửa Việt nằm trong khoảng 160 90’ - 160 93’ vĩ độ Bắc và 1060 28’ - 1600 31’ kinh độ Đông.

Hình thể Cửa Việt chạy dọc theo bờ biển. Phía Đông là biển cả bao la, có bờ cát dài trắng mịn, nước biển ngút tầm mắt xanh biếc quanh năm, xa xa trong sương sớm, hòn đảo Cồn Cỏ nhô lên trên nền trời trong vắt tạo nên một bức tranh bình minh tuyệt đẹp. Đảo Cồn Cỏ với vị trí quan trọng trong thế vươn ra biển, là địa điểm đánh bắt hải sản và là nơi trú ngụ của tàu thuyền khi gặp bão. Từng hàng dương liễu rì rào reo trong gió, tỏa bóng hiền hòa soi mình xuống biển cả. Phía Nam là hạ lưu sông Hiếu, là cửa biển thuận tiện, trên bến dưới thuyền nhộn nhịp đông vui. Từng dãy nhà, từng hàng cây đua nhau mọc lên. Phía Bắc giáp địa bàn xã Gio Hải là nơi cung ứng lương thực, thực phẩm tương đối lớn trong vùng. Phía Tây giáp xã Gio Việt và xã Gio Thành là bước đệm cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thị trấn.

Với vị trí địa lý như trên đã tạo cho Cửa Việt có một vị trí chiến lược quan trọng trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch biển hiện tại và tương lai. Vị trí địa lý tác động rất lớn đối với việc phát triển quá trình đô thị hóa nhanh hay chậm, mạnh mẽ hay yếu ớt. Thị trấn Cửa Việt cũng vậy chính nhờ sự thuận lợi của vị trí mà bộ mặt đô thị phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Vị trí thuận lợi, giao thông thuận tiện giúp cho việc lưu thông hàng hóa, đi lại dễ dàng đó là điều liện để phát triển lớn kinh tế - xã hội về mọi mặt. Đồng thời, đây là điều kiện vô cùng quan trọng để đẩy nhanh quá trình đô thị hóa trong chiến lược phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình Quảng Trị hẹp và dốc, nghiêng từ Tây sang Đông với dãy núi cao Trường Sơn ở phía Tây, kế tiếp là đồi bát úp dải đồng bằng nhỏ hẹp và cuối cùng là bãi cát ven biển, Cửa Việt là thị trấn ven biển nên độ dốc không đáng kể. Địa hình Cửa Việt chủ yếu là vùng biển bãi ngang, bãi cát và cồn cát ven biển, bị chia cắt bởi đầm phá, khe suối.

Sông Hiếu bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn hàng năm bồi đắp các đồng bằng ven sông hàng chục ngàn tấn phù sa. Sông chảy qua Thị trấn Cửa Việt rồi đổ ra biển. Cửa Việt có cảng biển thuận lợi để phát triển kinh tế thương mại dịch vụ trong vùng và tỉnh nhà. Địa hình Cửa Việt còn thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nước mặn.

Vào mùa khô, nước mặn xâm nhập sâu vào trong nội địa do đó đất thường bị nhiễm mặn. Ngược lại, vào mùa mưa nước dồn hết ra sông, nước dâng lên ngập cả một vùng gây khó khăn cho sinh hoạt của người dân và làm tổn hại mùa màng, cây cối.

Với địa hình cát nội đồng nằm giữa đồng bằng và biển, đây là vùng có trữ lượng cát biển lớn và là tiềm năng phát triển kinh tế nhưng lại thường xảy ra nạn cát bay làm lấp đất trồng trọt.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Trị là khúc ruột miền Trung, là vùng nằm trọn trong khí tiết nhiệt đới, là vùng đất được mệnh danh là "gió Lào cát trắng". Cửa Việt chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới chung toàn tỉnh lại rất điển hình, mang tính phức tạp và khắc nghiệt, có nhiều yếu tố bất lợi như: bão lụt, hạn hán, gió nóng Tây Nam gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt.

Bên cạnh cái dịu mát của cơn gió Đông Nam đưa lại vào từng buổi chiều, Cửa Việt lại phải chịu từng cơn gió Tây Nam khô nóng gay gắt vào mùa hạ và khô hanh đến nứt cả môi của gió Đông Bắc vào mùa Đông. Nền nhiệt ở đây tương đối cao, tổng lượng nhiệt cả năm lên đến trên dưới 90000C, chính điều này cho phép canh tác nhiều vụ cây trồng trong một năm.

Cửa Việt nói riêng hay Quảng Trị nói chung một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa lạnh từ cuối tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10. Lượng mưa trung bình khá cao: 2300 - 2700mm, tập trung chủ yếu vào tháng 9, tháng10 và tháng 11 chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm, mưa tập trung với cường độ lớn gây nên ngập úng, rửa trôi, xói mòn đất khá mạnh. So với toàn tỉnh, Cửa Việt chịu ảnh hưởng nhiều của gió Tây Nam khô nóng thổi từ tháng 3 đến tháng 8, là địa phương có thời gian và cường độ gió Tây Nam thổi nhiều và mạnh nhất. Gió khô nóng đã làm tăng đáng kể tính khắc nghiệt của thời kì khô hạn. Tuy nhiên biển Cửa Việt sẽ được làm dịu đi bằng những cơn gió biển (gió Đông Nam) vào các buổi chiều làm giảm hẳn cảnh nóng nảy của mùa hè. Đó là một trong những lý do mà lượng khách du lịch về bãi tắm Cửa Việt ngày càng đông nhưng lại làm tăng lượng bốc hơi nước giảm độ ẩm không khí gây cạn kiệt nguồn nước, ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống.

Bên cạnh mùa khô nóng lại là thời kỳ chịu ảnh hưởng của bão lụt nặng nề, mùa bão thường là mùa mưa, khi có bão mưa càng lớn, nước biển dâng cao gây ra tình trạng lụt lội nghiêm trọng.

Thị trấn Cửa Việt nằm bên tản ngạn con sông Hiếu, bắt nguồn từ dãy trường sơn hùng vĩ, sông chảy theo hướng Tây - Đông và là hạ lưu của hệ thống sông Thạch Hãn gồm các sông: Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Vĩnh Phước, sông Ái Tử, sông Vĩnh Định, sông Canh Hòm và sông Nhúng. Hệ thống sông Thạch Hãn có tổng chiều dài là 768 km đổ ra biển qua Cửa Việt. Trên địa bàn thị trấn có một đầm nước lớn nối với các khe nước đổ ra sông Hiếu, là điều kiện thuận lợi cho việc lấy nước trồng trọt. Ở Cửa Việt cũng có nguồn nước ngầm dồi dào, chất lượng tốt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Nhân dân Cửa Việt có truyền thống văn hóa lâu đời, điển hình nhất là tiếng nói mang đặc điểm thổ ngữ vùng Trung bộ và còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán như: ma chay, cưới xin, giỗ chạp… hết sức đa dạng, nhất là đối với ngư dân việc cúng thần sông, thần biển rất quan trọng và thiêng liêng.

"Ngoài văn hóa Đại Việt, con người nơi đây còn mang yếu tố Chăm - Việt" [49:14], ý thức hệ phong kiến, những yếu tố tiêu cực của Nho giáo trong đời sống ứng xử của gia đình, dòng tộc, cộng đồng làng xã không nặng nề, nghiệt ngã như các vùng ở Bắc Bộ nước ta. Dù nguồn gốc của họ chủ yếu là cư dân vạn đò sống lênh đênh sông nước, đặc biệt định cư muộn nhất trên cạn là một bộ phận cư dân ở làng Đại Lộc (sau 1945), văn hóa làng của người Việt vẫn còn in đậm trong tâm thức của người dân Cửa Việt. Ranh giới làng luôn được giữ kín, đất làng nào làng ấy giữ, trai làng này không được lấy gái làng khác…, mỗi làng đều có đình thờ vị Thành hoàng riêng của làng ghi nhận công ơn người có công khai khẩn lập nên làng mình. Dù sống trong thời hiện đại nhưng đời sống tâm linh mà người dân vẫn hay gọi một cách dân dã là " âm hồn" rất đậm nét, phong phú và đa dạng. Mọi người dân vẫn luôn tin rằng có một thế giới khác đang tồn tại xung quanh mình, một thế giới của "ma" _ của những người đã khuất.

Các phong tục tập quán như: cưới xin, ma chay, cúng giỗ ông bà tổ tiên vào những ngày lễ Tết (Tết Đoan Ngọ, Tết Nguyên Đán), thắp hương vào những ngày Rằm, mồng Một hàng tháng, tục lễ chạp mả, cúng đất… đặc biệt cũng giống như các vùng biển khác ở dọc miền Trung Việt Nam. Người dân Cửa Việt có lễ Cầu Ngư, tôn thờ Cá Ông _ người dân thường là cá "Ngài", họ tin tưởng rằng chính "Ngài" là người cứu vớt những ngư dân gặp nạn trên biển. Nhưng sự khác biệt trong lễ Cầu Ngư ở đây với các nơi khác ở chỗ họ không tổ chức thành lễ hội mà chỉ là "lễ cúng" của từng gia đình, trong lễ cúng thường có tục thả thuyền giấy như một biểu tượng thế mạng cho chính "thân chủ" của nó, tất cả tai ương, hoạn nạn, rủi ro thuyền giấy sẽ đưa đi đem lại sự may mắn, niềm hạnh phúc cho "gia chủ". Cho dù bằng hình thức nào đi chăng nữa thì việc cúng giỗ cũng thể hiện mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và con người với nhau, giữa cõi âm và cõi dương, tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên, cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, làm ăn phát đạt, cầu cho mọi người sức khỏe dồi dào, vui tươi và thành công trong cuộc sống. Hằng năm vào dịp tết Nguyên Đán các lễ hội bơi chải, các giải bóng chuyền cũng được tổ chức… Đó là những hoạt động tinh thần giúp con người thư giãn, thoải mái sau những ngày tháng mệt mỏi trong công việc, đã đến lúc được nghỉ ngơi và gặp nhau chuyện trò, cổ vũ động viên nhau trong cuộc sống, những truyền thống tốt đẹp đó cần được gìn giữ và phát huy. Ở Cửa Việt các hoạt động cúng tế, lễ bái trong các chùa chiền, đền quán vẫn tấp nập, không gian tâm linh của người dân hiện nay vẫn rất đậm nét. Có thể nói rằng, nhân dân Cửa Việt rất tin vào các tín ngưỡng, tôn giáo, 80% dân số theo Phật giáo. Trong xu hướng phát triển như hiện nay, một thị trấn nhỏ như Cửa Việt mà có đến 3 ngôi chùa tọa lạc, từ già đến trẻ cứ đến ngày Rằm, mồng Một lại đến chùa niệm Phật cầu phúc. Người dân cũng rất tin vào Đạo giáo. Đầu năm mới nhà nhà đi bói toán, xem vận hạn trong năm của gia đình và tất cả những việc từ nhỏ cho đến trọng đại: làm nhà, cưới xin… người người đi bói toán để mong được bình yên, hạnh phúc. Là cư dân miền biển nên người dân thường có tục xem "nước đầy, nước cạn" theo thủy triều lên xuống. Mọi người đều tin tưởng rằng việc gì được làm lúc nước đang lên cũng may mắn hơn và thuận lợi hơn, chính vì vậy mà họ dùng "âm lịch" nhiều hơn. Lịch âm được người Trung Quốc sáng tạo ra dựa theo chu kỳ hoạt động của Mặt Trăng nên người dân Cửa Việt cũng có kinh nghiệm là "lúc trăng lên là lúc nước lên".

Có nhiều và rất nhiều những kinh nghiệm, những phong tục trong lối sống của con người Cửa Việt mà ta chưa thể nói hết được. Tất cả những điều đó đã tạo nên một lối sống riêng cửa người dân có bề dày lịch sử và truyền thống này. Quá trình tồn tại và phát triển của mảnh đất này là quá trình con người tự chinh phục, đấu tranh và sáng tạo để khẳng định mình. Con người Cửa Việt có truyền thống cần cù lao động, chịu thương chịu khó và tinh thần lạc quan trước khó khăn gian khổ không bao giờ chịu lùi bước. Ý thức tin tưởng vào ngày mai "còn da lông mọc, còn chồi nảy cây" đã trở thành nền tảng cho người dân đất này vượt lên tất cả để giành chiến thắng. Quân dân Cửa Việt có một lòng nồng nàn yêu nước, nhất là trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cứu nước, quân dân địa phương được tuyên dương là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 2007, đài tưởng niệm chiến thắng Cửa Việt được dựng lên ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ quê hương. Trên bia ghi rõ: "trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đoàn đặc công hải quân 126 được sự giúp đỡ của quân dân địa phương và các đơn vị bạn (mặt trận B5, phân đội 23 hải quân) qua 7 năm chiến đấu trên chiến trường Cửa Việt - Đông Hà (1966 - 1972) đã trực tiếp chiến đấu trên 300 trận, đánh chìm, đánh hạ vạn tàu hàng hóa và phương tiện chiến tranh, bắn cháy 28 xe tăng, bắn rơi 3 máy bay, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, cùng quân và dân Quảng Trị đã tham gia các chiến dịch đường 9 - bắc Quảng Trị (1967 - 1968), tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, chiến dịch đường 9 - Nam Lào (1971), chiến dịch mùa hè năm 1972, góp phần giải phóng tỉnh Quảng Trị". Đoàn 126 vinh dự 2 lần được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang hân dân, 3 đơn vị thuộc đoàn được tuyên dương anh hùng là: đội 1, đội 2, đội 4 (trong đó đội 1 ba lần được tuyên dương) và 10 đồng chí cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

Trong đấu tranh người Cửa Việt anh dũng, trong lao động người Cửa Việt cần cù sáng tạo. Dù thiên nhiên không ưu đãi cho vùng đất này nhưng con người nơi đây vẫn cứ sống tốt và luôn cố gắng vươn lên. Từ những chiếc thuyền "bé tẻo teo" năm xưa, giờ đây họ làm chủ những chiếc tàu "dự án" lớn, đánh bắt xa bờ với đầy đủ các thiết bị máy móc hiện đại, việc đánh bắt đạt hiệu quả kinh tế lớn, thu nhập cao và đem lại cuộc sống sung túc cho người dân. Đây cũng chính là một trong những điều kiện để Cửa Việt đẩy nhanh quá trình đô thị hóa.

Tiềm năng kinh tế lớn và ngày càng được khai thác phát huy thế mạnh là điều kiện để Thị trấn Cửa Việt phát triển giàu mạnh so với các vùng khác. Đó là thế mạnh của nền kinh tế biển, hải cảng tiếp với biển Đông, sự phát triển thương mại - dịch vụ tài chính, ngân hàng và của sự phát triển du lịch biển.

Cá không chỉ đem lại nguồn thu nhập cho người dân Cửa Việt, mà đó còn là nguồn thực phẩm chính trong mỗi người dân Việt Nam mang lại nguồn dinh dưỡng cho sự sống con người, thế mới biết cá quan trọng thế nào và vai trò của ngư dân trong xã hội Việt Nam. Được xây dựng năm 1997, với vai trò quan trọng của một cảng biển, cảng Cửa Việt là cầu nối quan trọng trong tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây: Việt Nam - Lào - Myanma - Đông Bắc Thái Lan. Bến cảng Cửa Việt thực sự đã trở thành một trung tâm giao lưu buôn bán, thuyền bè đi lại tấp nập, không lúc nào ngưng. Có thể nói rằng, từ khi cảng Cửa Việt được xây dựng cũng là lúc mọi hoạt động kinh tế - xã hội của người dân Cửa Việt đã thay đổi hẳn đi, chính đó là nền tảng cho quá trình đô thị hóa ở Thị trấn Cửa Việt diễn ra.

Cửa Việt là địa bàn trọng điểm khai thác cá biển cùng với giao thông thuận lợi nên việc lưu thông buôn bán hàng hóa trở nên sôi động đẩy nhanh quá trình thương mại dịch vụ, kèm theo đó là sự hoạt động mạnh mẽ của lĩnh vực tài chính ngân hàng cung ứng tiền tệ cho hoạt động đầu tư buôn bán, sản xuất của người dân.

Có lẽ một trong những điều kiện quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế xã hội của thị trấn chính là sự phát triển du lịch biển. Với bờ biển đẹp lại nằm ở vị trí thuận lợi nên bãi tắm Cửa Việt hằng năm thu hút lượng khách du lịch rất lớn trong và ngoài tỉnh, tạo công ăn việc làm cho hàng chục lao động ở địa phương. Kinh tế phát triển, đô thị hình thành đi kèm với nó là lối sống đô thị trong văn hóa Cửa Việt. Tuy nhiên, với Cửa Việt quá trình tăng trưởng nhanh tiềm năng kinh tế, phát triển xã hội và quá trình đô thị hóa cần kết hợp với sự phát triển giáo dục nhằm đưa đô thị Cửa Việt phát triển mạnh mẽ hơn, sôi động hơn, bền vững hơn và thực sự trở thành vùng phát triển kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quảng Trị.

Từ xưa tới nay, người dân Cửa Việt sống dưới nhiều triều đại với nhiều thiết chế chính trị - xã hội khác nhau. Cửa Việt được xem là một trong những "tiêu điểm" ác liệt nhất của những cuộc kháng chiến chống xâm lăng, đây cũng đã từng là ranh giới của 2 nước Chăm - Việt. Năm 1068, vua Budravarman III - của Chămpa đem quân đánh Đại Việt và thắng trận ở Ma Linh, Địa Lý. "Thế là, đến năm 1069 với cuộc tấn công vào Vijaya của vua Lý Thánh Tôn, biên giới phía nam của Đại Việt đã được mở rộng tới tận vùng đất tỉnh Quảng Trị ngày nay và Chămpa đã mất đi một phần đất vốn thuộc nước Lâm Ấp khởi thủy". Để đổi lấy mạng sống của mình vua Chămpa đã cắt 3 châu: Ma Linh, Địa Lý, Bố Chính cho Đại Việt. "Châu Ma Linh là miền Bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay. Thời thuộc Minh đổi là Nam Linh, nhà Lê đặt làm huyện và đổi là Minh Linh, nay là đất 2 huyện Vĩnh Linh và Gio Linh - Quảng Trị" Nghĩa là Cửa Việt sáp nhập vào Đại Việt sớm hơn so với các vùng đất phía Nam Quảng Trị. Năm 1306, sau cuộc hôn nhân của Chế Mân cùng Huyền Trân công chúa dãi đất dài Châu Ô, Châu Lý (Rí) được trao cho Đại Việt. Cùng với mảnh đất Quảng Trị, Cửa Việt vốn có một quá trình lịch sử dài hàng ngàn năm. Đến đời Hán, thuộc quận Nhật Nam, sau là đất châu Ma Linh của vương quốc Chămpa cổ… "Năm Hồng Đức thứ 21(1490), vua Thánh Tông cải chính chia đất nước làm 13 xứ" từ đó Cửa Việt thuộc châu Minh Linh, phủ Tân Bình, xứ Thuận Hóa.

Sau khi thành lập Thuận Hóa là vùng tranh chấp giữa 2 nước Chăm - Việt, các cuộc nổi loạn của Hoàng Công Châu, Mạc Chính Trung… ở Thuận Hóa, chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra liên miên. Nhưng dù phải trải qua nhiều biến cố, loạn ly nhưng xứ Thuận Hóa vẫn được phồn thịnh, Dương Văn An đã viết về phủ Tân Bình thế kỷ XVI như sau: "đồng bằng thì nông trang vốn sẵn nghiệp nhà, bờ biển thì cá muối là kho vô tận. Của thổ nghi đã sẳn thứ rượu tăm rất ngon, hải vị, sơn hào, của nhiều chan chứa. Cá tôm sẵn ở sông bể, gỗ cây lấy ở rừng. Xóm làng trù mật nên gà, chó từng đàn, cỏ nước ngon lành, nên trâu bò béo tốt". Đất Thuận Hóa trù phú là thế, quan trọng là thế cùng với lời phán của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân", Nguyễn Hoàng nhờ chị gái của mình xin Trịnh Kiểm được trấn giữ ở đây. Trịnh Kiểm muốn không phải lo đến miền Nam nên đã dâng biểu lên vua Lê xin đồng ý cho Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp chỉ mỗi năm nạp cống phú mà thôi. "Vào khoảng 10/11 - 10/12/1558 Nguyễn Hoàng cùng đoàn tùy tùng vào Cửa Việt lên sông Quảng Trị, đóng dinh tại làng Ái Tử: "Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, nhẹ xâu thuế, dân chúng vui phục, bấy giờ thường gọi là chúa Tiên, nghiệp đế dựng lên, thực lấy nền từ đấy" [30:32]. "Năm 1570, Nguyễn Hoàng kiêm lãnh trấn thủ cả vùng Thuận - Quảng" [8:13]. Vùng đất Thuận - Quảng được yên bình dưới sự trị vì của "chúa Tiên".

Thời thế thay đổi, nơi đây chịu sự tác động mạnh mẽ của luồng thương nghiệp thế giới và các nước trong khu vực về việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ và trao đổi hàng hóa. Các mặt hàng được thuyền buôn các nước đưa đến: gia vị, tơ lụa… ngược lại vùng Thuận - Quảng lại xuất khẩu hồ tiêu, nước ngọt… nhất là vùng Gio Linh. "Vậy trong hạn chế nguồn thông tin từ thế kỷ XVI cho biết: vào thời kỳ này thương nhân các nước Nhật Bản, Hà Lan, Anh quốc, Bồ Đào Nha, Pháp, Trung Quốc… đã đến Thuận Hóa thuộc vùng đất Quảng Trị" [8:23] qua 2 cửa biển: Cửa Việt, Cửa Tùng. Đây chính là mầm mống cho sự hình thành "phố cảng" Cửa Việt hiện nay.

Thuận Hóa vẫn thuộc xứ Đàng Trong cho đến khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ (1771 - 1786), Nguyễn Huệ ra dựng nghiệp ở Phú Xuân - Thuận Hóa và là người có công xóa bỏ sự chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài. Ngày 1/06/1802, Nguyễn Ánh lên ngôi đặt niên hiệu Gia Long đã lập dinh Quảng Trị bao gồm đất các huyện Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh và đạo Cam Lộ. Năm 1806, Quảng Trị trở thành dinh trực lệ kinh sư Huế. Năm 1827, dinh Quảng Trị đổi thành trấn Quảng Trị, năm 1832 trấn Quảng trị đổi thành tỉnh Quảng Trị, năm 1853 hợp nhất tỉnh Quảng Trị với phủ Thừa Thiên thành đạo Quảng Trị. Năm 1900, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách Quảng Trị ra khỏi Thừa Thiên lập thành một tỉnh riêng biệt gồm 4 phủ: Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh, Cam Lộ và huyện Gio Linh.

Tháng 12/2005, Thị trấn Cửa Việt chính thức được thành lập theo Nghị định số 103/NĐ - CP ngày 09/08/2005 của chính phủ, với 416,74 ha gồm phần đất của 3 thôn: Long Hà, An Trung, Đại Lộc thuộc xã Gio Việt và 318,54 ha phần đất của 2 thôn: Tân Lợi, Hà Lộc của xã Gio Hải.

Sau khi thành lập Thị trấn Cửa Việt được sự giúp đỡ to lớn của chính phủ, các cấp, các bộ, ngành Trung ương, sự quan tâm tạo điều kiện của các Sở, Ban, Ngành trong tỉnh, Đảng bộ và nhân dân Cửa Việt đã phát huy truyền thống cách mạng và ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, thống nhất vượt lên trên mọi khó khăn, tập trung trí tuệ và tâm lực để xây dựng quê hương. Bộ máy chính quyền nhanh chóng được ổn định và hoạt động có hiệu quả. Cùng với sự trưởng thành về mọi mặt, quá trình đô thị hóa của Cửa Việt cũng đã diễn ra với tốc độ và quy mô nhanh chóng. So với các thị trấn, thị xã khác trong toàn tỉnh, điều kiện nền tảng, xuất phát điểm của Cửa Việt còn nhiều khó khăn do sự khắc nghiệt của thời tiết, điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật cò nhiều thiếu thốn. Song vượt qua tất cả, những sự nỗ lực, kiên cường và tập trung trí lực của toàn dân. Thị trấn Cửa Việt ngày một phát triển mạnh mẽ và diện mạo đô thị đang được chỉnh trang hoàn thiện.

Bảng thay đổi địa danh hành chính từ năm 1975 đến nay

Năm Thị trấn Cửa Việt Huyện Gio Linh Tỉnh Quảng Trị 1975 Xã Gio Hải Huyện Gio Linh Tỉnh Quảng Trị 1976 Xã Gio Hải + Gio Việt Huyện Bến Hải Tỉnh Bình Trị Thiên 1989 Xã Gio Hải + Gio Việt Huyện Bến Hải Tỉnh Quảng Trị 1990 Xã Gio Hải + Gio Việt Huyện Gio Linh Tỉnh Quảng Trị 2005 Thị trấn Cửa Việt Huyện Gio Linh Tỉnh Quảng Trị 2010 Thị trấn Cửa Việt Huyện Gio Linh Tỉnh Quảng Trị

Mọi điều tốt đẹp luôn bắt nguồn từ một nền tảng vững chắc và cũng chính từ những nền tảng đó tạo nên sự phát triển bền vững. Thị trấn Cửa Việt từ những tiền đề và nền tảng vững chắc sẵn có về tự nhiên, về con người và về điều kiện xã hội của vùng đất đã thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng trên mọi lĩnh vực: ngư nghiệp được mạnh dạn đầu tư phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch biển là thế mạnh kinh tế của thị trấn đó là nhờ tiếp giáp với một bờ biển dài và đầy tiềm năng. Thương mại tăng trưởng từng ngày nhờ giao thông thuận tiện, gần với các trung tâm tỉnh lỵ. Và điều quan trọng hơn là bản chất con người nơi đây, cần cù, năng động, và sáng tạo luôn bắt đúng nhịp của thời đại… Tất cả những điều đó làm cho thị trấn thay đổi từng ngày và đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, đô thị Cửa Việt đổi sắc từng ngày.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]