Võ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cửu Dương chân kinh)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Võ thuật là nội dung chính trong các tác phẩm của Kim Dung. Dưới đây là danh sách các bộ võ công, sách võ thuật, chiêu thức, bí kíp võ thuật đáng chú ý.

Mục lục

Ảm nhiên tiêu hồn chưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ảm nhiên tiêu hồn chưởng là loại chưởng pháp kỳ lạ bậc nhất do Dương Quá sáng tạo nên trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ và cũng chỉ có mình Dương Quá sử dụng được. Muốn sử dụng môn võ tương tư sầu khổ vô cùng đau đớn tuyệt vọng. Khi tâm trạng vui vẻ hạnh phúc, vô ưu vô lo thì lộ chưởng pháp này mất đi thần hiệu.

Môn võ này được sáng tạo khi Dương Quá chỉ còn một tay nên lấy nội công làm gốc không dùng các biến hóa đa đoan để thủ thắng. Nhiều chiêu thức trong Ám nhiên tiêu hồn chưởng được bắt nguồn từ các võ công mà Dương Quá đã biết ví dụ như: Cửu Âm Chân Kinh, Nghịch Hành Kinh Mạch.

Ảm nhiên tiêu hồn chưởng có 17 chiêu thức:

  • Tâm Kinh Nhục Khiêu
  • Khởi Nhân Ưu Thiên
  • Vô Trung Sinh Hữu
  • Đà Nê Đới Thủy
  • Bồi Hồi Không Cốc
  • Lực Bất Tòng Tâm
  • Hành Thi Tẩu Nhục
  • Đảo Hành Nghịch Thi
  • Phế Tẩm Vong Thực
  • Cô Hình Chích Ảnh
  • Âm Hận Thôn Thanh
  • Lục Thần Bất Thân
  • Cùng Đồ Mạt Lộ
  • Diện Vô Nhân Sắc
  • Tường Nhập Phi Phi
  • Ngai Nhược Mộc Kê

Bách Biến Quỷ Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi ở núi Hoa Sơn, Mộc Tang đạo nhân không dạy môn khinh công tuyệt tác Bách Biến Quỷ Ảnh (Bóng ma trăm biến) cho Viên Thừa Chí là vì lúc ấy võ nghệ của Thừa Chí hãy còn non nớt, học được cũng vô dụng, và cũng chưa chắc đã hiểu.

Lần này vì Thừa Chí có hẹn ở Vũ Hoa đài với Quy nhị nương, vợ Thần Quyền Vô Địch Quy Thân Thụ, nhị sư huynh của Thừa Chí. Biết chàng không ra tay thì Quy nhị nương không để yên nhưng lại không thể đánh thật được nên Mộc Tang đạo nhân mới mượn Ôn Thanh Thanh gián tiếp truyền cho chàng.

Võ nghệ tuy không được tinh xảo, nhưng Thanh Thanh nhờ có trí nhớ hơn người lại thêm tinh khôn, biết Mộc Tang truyền cho mình là giả, mà truyền cho Thừa Chí là thật. Nên lúc đó, nàng cứ cố nhớ từ khẩu quyết, hành động, tay chân, thân pháp, vân vân. Nàng đều nhớ thuộc không sót một tí nào và đọc lại nguyên văn và biểu diễn cho Thừa Chí xem.

Sau đó Viên Thừa Chí cố công suy nghĩ đem hỗn hợp "Trường quyền Thập Đoạn Cẩm" của phái Hoa Sơn với "Bách Biến Quỷ Ảnh" như vậy kiêm cả sở trường của hai môn sáng tạo một môn võ tuyệt kỹ mới. Chàng nhờ Tiêu Uyển Nhi và mười vị sư huynh đệ của Kim Long bang, mỗi người xách một thùng nước đứng chung quanh luyện võ trường, chàng đứng ở giữa. Mỗi người tạt nước vào trong lúc chàng nhảy nhót luồn cúi, tránh Đông né Tây. Chờ mấy thùng nước đã tạt hết, chỉ có tay áo bên phải và chân trái hơi bị ướt thôi.

Bắc Minh Thần Công - Hóa Công Đại Pháp - Hấp Tinh Đại Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Minh Thần Công là một loại thượng thừa nội công tâm pháp trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Có nguồn gốc từ phái Tiêu Dao được Đoàn Dự phát hiện cùng lúc với Lăng Ba Vi Bộ. Đây là một môn nội công có tác dụng hút nội lực của người khác để cho bản thân sử dụng. Toàn bộ Bắc Minh Thần Công gồm 36 bức hình dùng để miêu tả. Có ba người học được bộ võ công này là Vô Nhai Tử, Đoàn Dự, Hư Trúc. Trong đó, chỉ có Vô Nhai Tử là học xong toàn bộ còn Đoàn Dự chỉ học xong bức đầu tiên, Hư Trúc thì chỉ nhận được cách vận khí từ Thiên Sơn Đồng Mỗ.

Hóa Công Đại Pháp là một môn nội công trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Hóa Công Đại Pháp được sáng tạo bởi Đinh Xuân Thu, bộ võ công này được sáng tạo dựa theo Bắc Minh Thần Công có cùng mục đích là làm suy yếu nội lực của đối phương nhưng không giống như Bắc Minh Thần Công có thể đem nội lực của đối phương để cho bản thân sử dụng. Hóa Công Đại Pháp nguyên lý là hút chất độc từ các loài độc vật vào cơ thể sau đó đánh vào cơ thể của đối thủ để hóa giải đi nội công của đối thủ. Bộ võ công này khuyết điểm là phải hút chất độc hằng ngày để luyện công và cần dùng Thần Mộc Vương Đỉnh để luyện công. Đây cũng là nguyên nhân khi A Tử đánh cắp Thần Mộc Vương Đỉnh khiến cho Đinh Xuân Thu từ Tinh Túc hải trở về trung nguyên.

Hấp Tinh Đại Pháp là một môn nội công trong truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung. Bộ võ công này dùng để hút nội lực của người khác để cho chính mình dùng hoặc đem nội lực của người khác xóa bỏ. Hấp Tinh Đại Pháp bắc nguồn từ Bắc Minh Thần Công cùng Hóa Công Đại Pháp tàn thiên được truyền lại từ nước Đại Lý cùng với phái Tinh Túc sau đó dung hợp lại mà thành nhưng thiên hướng theo Hóa Công Đại Pháp nên gọi là Hấp Tinh Đại Pháp. Bộ võ công này có những chỗ thiếu hụt là:

  • Phải tán đi toàn bộ công lực trong cơ thể không còn có chút chân khí nào nếu như tán không hết hoặc là nội lực đi nhầm thì sẽ tẩu hỏa nhập ma. Nhẹ thì toàn thân tê liệt, nặng thì kinh mạch nghịch chuyển mà chết.
  • Sau khi tán công phải hấp thu nội lực của người khác để cho mình sử dụng. Bước này càng thêm khó khăn vì bản thân không có võ công lại phải đi hấp thụ nội lực của người khác chẳng khác nào lấy trứng chọi đá.
  • Lúc bắt đầu hấp thu sẽ không có cảm giác gì nhưng mà về sau thì những nội lực được hút vào cơ thể có thể sẽ đột nhiên cắn trả hút vào càng nhiều thì cắn trả càng mạnh.

Để thoát khỏi nội lực cắn trả thì chỉ có thể như Nhậm Ngã Hành tự tìm ra cách để áp chế hoặc là dùng Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm để hóa giải.

Bích Ba Chưởng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Bích Ba Chưởng Pháp, khi đánh ra, chưởng thế như sóng, tuy nông cạn nhưng hàm chứa đạo lý cơ bản trong võ học của đảo Đào Hoa.

Bích Hải Triều Sinh Khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Bích Hải Triều Sinh Khúc là bài tiêu khúc của Đông Tà Hoàng Dược Sư. Bài Bích Hải Triều Sinh Khúc này có ma lực rất lớn. Khúc tiêu này mô phỏng biển cả mênh mông, vạn dặm phẳng lì, xa xa sóng biển từ từ tiến tới, càng gần càng mau, sau cùng thì cuồn cuộn dâng lên, sóng trắng như núi nối nhau, mà trong làn sóng thì cá nhảy kình bơi, trên mặt biển thì gió thổi âu bay, lại thêm yêu ma quỷ mị, quái vật giỡn sóng, thoắt thì núi băng trôi tới, thoắt thì biển nóng như sôi, biến ảo đủ vành, mà sau khi triều lui thì mặt nước phẳng lặng như gương, dưới đáy biển lại là những dòng chảy ngầm rất xiết, trong chốn không có tiếng động hàm chứa sự hung hiểm, càng khiến người nghe khúc nhạc này bất giác rơi vào chỗ mai phục, lại càng không thể đề phòng.

Càn Khôn Đại Na Di[sửa | sửa mã nguồn]

Càn Khôn Đại Na Di (乾坤大挪移) là bộ võ công tâm pháp thất truyền của Minh giáo nơi Tây Vực, sử dụng để di chuyển nội lực trong cơ thể đồng thời giảm sát thương của các chiêu thức do kẻ địch gây ra hoặc ném trả chiêu thức lại cho kẻ thù hoặc qua kẻ khác. Tất cả có 7 tầng (cấp độ), theo Kim Dung viết thì người có tư chất cao thì sẽ mất 7 năm để luyện tầng 1, còn người có tư chất thấp thì là 14 năm.

Giáo chủ Minh Giáo đời thứ 33 là Dương Đỉnh Thiên đang luyện Càn khôn đại na di đến tầng thứ 4 thì bị tẩu hỏa nhập ma do Thành Côn cùng phu nhân của ông ta gây nên, dẫn đến cái chết. Dương Tả Sứ (Dương Tiêu) là sứ giả của Minh Giáo, cũng chỉ luyện đến tầng thứ 2.

Giáo chủ Minh Giáo đời thứ 34 Trương Vô Kị trong một lần tình cờ đang đuổi theo Thành Côn đã tìm ra bí kíp võ học này. Nhờ có cửu dương thần công thâm hậu nên đã tu luyên đến tầng thứ 6 chỉ trong 1 đêm (người thường phải mất đến gần 20 năm mới tu luyện thành công, ngay cả người sáng lập ra Minh Giáo cũng chỉ luyện đến tầng thứ 6 trong 5 năm). Sau này nhờ đoạt được Thánh hỏa lệnh nên chàng học được tầng thứ 7 của Càn khôn đại na di tâm pháp uy trấn giang hồ.

Cáp Mô Công[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Cáp Mô Công là công phu mà Tây Độc Âu Dương Phong nhiều năm khổ luyện. Cáp Mô Công của Âu Dương Phong chuyên lấy tĩnh chế động, y toàn thân vận kình chứa thế, nén khí không phát, chỉ cần địch nhân ra chiêu tấn công sẽ lập tức phát đòn phản kích mãnh liệt không gì bằng.

Cửu Âm Bạch Cốt Trảo[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Cửu Âm Bạch Cốt Trảo là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh. Nổi danh nhất với võ công này là Hắc Phong Song Sát, Đồng Thi Trần Huyền Phong và Thiết Thi Mai Siêu Phong, 2 trong 6 đệ tử ban đầu của Đông Tà Hoàng Dược Sư. Ngoài Hắc Phong Song Sát ra chỉ có Dương Khang (đã bái Mai Siêu Phong làm sư phụ), Chu Chỉ Nhược phái Nga Mi và truyền nhân phái cổ mộ (cô gái áo vàng trong Ỷ thiên đồ long ký) là có sử dụng võ công này.

Cửu Âm Bạch Cốt Trảo mà Chu Bá Thông truyền thụ cho Quách Tĩnh tên là Cửu Âm Thần Trảo. Khi luyện Cửu Âm Thần Trảo thì chỉ dùng tay đánh vào vách đá để luyên tập, nhưng do Mai Siêu Phong cùng sư huynh Trần Huyền Phong ăn cắp được nửa quyển hạ Cửu âm chân kinh, sau đó tập luyện theo mà không hiểu yếu chỉ đạo gia trong khẩu quyết võ công nên khi luyện dùng tay đánh vào sọ người sống, khi luyện tập thường chất rất nhiều sọ người xung quanh nơi mình tập, từ đó tên gọi Cửu Âm Bạch Cốt Trảo.

Quyển hạ Cửu Âm Chân Kinh viết: "Năm ngón phát kình, không gì cứng không phá được, chụp vào đầu óc như xuyên vào đậu hũ". Câu "Chụp vào đầu óc" ý là tấn công vào chỗ yếu hại của địch nhân, Mai Siêu Phong lại tưởng là phải chụp vào đầu người thật nên lúc luyện công cũng theo đó mà làm.

Yếu chỉ của bộ Cửu Âm Chân Kinh này vốn là đường lối học theo tự nhiên của Ðạo gia, xua quỷ trừ tà để trường sinh dưỡng mệnh, há lại dạy người ta luyện thành võ công hung ác tàn nhẫn như thế sao?

Ngoài Mai Siêu Phong ra,trong tiểu thuyết của Kim Dung chỉ có Dương Khang (đã bái Mai Siêu Phong là sư phụ), Chu Chỉ Nhược phái Nga Mi và truyền nhân phái cổ mộ (cô gái áo vàng trong Ỷ thiên đồ long ký) là có sử dụng võ công này.

Cửu Âm Chân Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Cửu Âm Chân Kinh (九陰真經) là tên gọi của một bộ sách võ công lần đầu xuất hiện trong bộ truyện Anh hùng xạ điêu (tiểu thuyết đầu tiên của bộ Xạ điêu tam khúc), qua lời kể của Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông cho Quách Tĩnh nghe lý do tại sao mình bị Hoàng Dược Sư giam giữ trên Đào Hoa đảo. Theo lời kể của Lão Ngoan đồng, người viết nên Cửu Âm Chân Kinh là Hoàng Thường mà nguyên nhân sâu xa là từ những thù oán của Hoàng Thường với giới võ lâm.

Hoàng Thường vốn là một quan lại trong triều đình dưới triều đại vua Huy Tông triều Tống, theo lệnh của hoàng đế thu thập hết sách của Đạo gia 5481 quyển viết thành bộ sách Vạn thọ Đạo tàng (theo lời Chu Bá Thông thì việc này diễn ra vào năm Chính Hòa thứ năm, vua Huy Tông). Nhờ trí thông minh và kiên trì, Hoàng Thường đã học được toàn bộ các bí kíp võ học Đạo gia và trở thành một cao thủ võ lâm. Sau đó, theo lệnh của Huy Tông hoàng đế, Hoàng Thường dẫn quân đến tiêu diệt Minh giáo và quân lính bị đại bại. Tuy nhiên, Hoàng Thường học được toàn bộ bí kíp võ công cao cường nên đánh bại hầu hết các cao thủ Minh giáo, nhưng sau đó vì đơn thương độc mã nên vẫn thất bại, kết quả là toàn bộ gia đình của Hoàng Thường bị sát hại, chỉ một mình Hoàng Thường thoát nạn chạy lên núi ẩn náu quyết rèn luyện võ công cao cường để trả thù.

Sau một thời gian dài tu luyện và ngộ được đạo lý võ học, Hoàng Thường trở lại với ý định trả thù nhưng thời gian đã trôi quá lâu tất cả các đối thủ đều đã qua đời, thậm chí con cái đối thủ cũng đã già nữa, Hoàng Thường hết ý định trả thù, nhưng tiếc những kiến thức võ học Đạo gia mà mình học được viết thành bộ Cửu âm chân kinh gồm 2 quyển: Quyển thượng bao gồm các bí kíp rèn luyện nội công căn bản của Đạo gia, Quyển hạ gồm các chiêu thức khắc địch và bảo vệ thân thể. Sau khi Hoàng Thường qua đời, Cửu âm chân kinh lưu lạc trong nhân gian khiến giới võ lâm tranh đoạt và gây ra sự chém giết để giành lấy bí kíp này.

Trước thời kỳ xảy ra những nội dung chính của câu chuyện trong tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu, có năm người võ công cao siêu nhất cùng đấu với nhau trên đỉnh Hoa Sơn để tranh nhau Cửu âm chân kinh gồm Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng, Bắc Cái Hồng Thất Công, và Trung Thần Thông Vương Trùng Dương. Võ công của Vương Trùng Dương cao nhất và giành được Cửu âm chân kinh. Ông định đốt sách để tránh chuyện tàn sát trong võ lâm, nhưng lại tiếc công người xưa nên giấu quyển sách đi. Trước khi chết, ông đã giao cho Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông là sư đệ của mình đi giấu hai quyển sách ở hai nơi nhằm tránh cho quyển sách rơi vào tay kẻ xấu.

Trên đường đi giấu sách, Lão Ngoan đồng bị vợ Hoàng Dược Sư đánh lừa, dùng trí nhớ siêu phàm đọc lại một lần nhớ hết quyển hạ. Bà về viết lại cho chồng, nhưng Hoàng Dược Sư chưa tu luyện thì bị học trò là cặp vợ chồng Mai Siêu Phong, Trần Huyền Phong lấy trộm quyển hạ trốn đi, luyện ra những võ công âm độc (ví dụ như Cửu âm bạch cốt trảo...). Hoàng Dược Sư nổi giận đánh gãy chân các học trò còn lại và đuổi ra khỏi đảo Đào Hoa. Vợ Hoàng Dược Sư lúc đó mang thai cố gắng nhớ lại viết lại sách cho chồng nên bị kiệt sức và mất sau khi sinh con. Chu Bá Thông thấy vậy đến Đào Hoa đảo đòi sách và đánh nhau với Hoàng Dược Sư, thua trận bị nhốt trong động đá.

Vô tình từ những ân oán giữa Giang nam thất quái và vợ chồng Mai Siêu Phong khiến cho Quách Tỉnh có được nội dung Cửu âm chân kinh phần quyển hạ được ghi lại trên da bụng của Trần Huyền Phong. Khi Quách Tỉnh gặp Chu Bá Thông trên Đào Hoa đảo, Chu Bá Thông đã dạy cho Quách Tĩnh thuộc lòng cả bộ Cửu âm chân kinh và cũng vô tình đó, Chu Bá Thông cũng luyện thành và trở thành một nhân vật võ công cao nhất. Một phần của Cửu âm chân kinh viết bằng tiếng Phạn được Nhất Đăng đại sư dịch lại sang Trung văn. Sau này, Quách Tĩnh trở thành một cao thủ nhờ tu luyện Cửu Âm Chân Kinh.

Khi đến bộ Thần điêu hiệp lữ, Cửu âm chân kinh một lần nữa xuất hiện. Vương Trùng Dương trước khi chết đã ghi lại một phần nội dung Cửu âm chân kinh trong thạch động Hoạt tử nhân mà Dương QuáTiểu Long Nữ là hai người có duyên luyện được bí kíp này.

Cửu âm chân kinh được vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung giấu trong kiếm Ỷ Thiên, được Chu Chỉ Nhược luyện tập. Thành tựu nhất trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký có lẽ là cô gái áo vàng,hậu nhân của Dương QuáTiểu Long Nữ.

Cửu Âm Thần Công[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Cửu Âm Thần Công nội công thượng thặng trong thiên Tổng Cương của Cửu Âm Chân Kinh.

Sau khi bị Tây Độc Âu Dương Phong đánh lén sau lưng mất hết võ công, Cửu Chỉ Thần Cái Hồng Thất Công đã dùng Cửu Âm Thần Công tự đả thông kinh mạch, qua nửa năm thì đã khỏi hẳn, lại qua nửa năm thì khôi phục được toàn bộ võ công.

Cửu Dương Chân Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Cửu Dương Chân Kinh (hay Cửu Dương Thần Công) là pho sách võ thuật chỉ dẫn cách luyện nội công xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký của nhà văn Trung Quốc Kim Dung.

Cửu Dương Thần Công được phát hiện bởi Giác Viễn thiền sư - một người gác Tàng kinh các trong Thiếu Lâm tự được kẹp bên trong Lăng Già Kinh. Lăng Già Kinh là một quyển kinh Phật được viết bằng chữ Phạn do Đạt Ma sư tổ để lại nên Giác Viễn cho rằng Cửu Dương Thần Công là của Đạt Ma sư tổ để lại. Nhưng có nhiều chứng cứ để lại cho thấy bộ kinh văn này la do người khác viết chứ không phải Đạt Ma sư tổ của Thiếu Lâm

Cửu Dương Thần Công lần đầu được nhắc đến là khi Giác Viễn thiền sư truy đuổi Doãn Khắc TâyTiêu Tương Tử đến Hoa Sơn ở phần cuối Thần điêu hiệp lữ. Doãn Khắc TâyTiêu Tương Tử trong khi tạm lánh ở chùa Thiếu lâm đã ăn trộm bộ sách này và đã bị Giác Viễn truy đuổi đến Hoa Sơn để đòi lại. Tuy nhiên, hai người này đã khéo léo giấu bộ sách vào bụng con vượn trắng nên dù Giác Viễn được sự trợ giúp của Quách TươngTrương Quân Bảo vẫn không thể tìm thấy và buộc phải quay về. Về sau, Giác Viễn vì lý do này bị Thiếu Lâm tự phạt phải xích chân gánh nước đổ vào giếng hàng ngày. Về phần Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử, hai người bỏ trốn đến dãy Côn Luân thì đánh nhau để tranh giành bộ kinh đến mức cả hai cùng kiệt sức mà chết. Trước khi chết, họ có lời nhờ Côn Luân tam thánh Hà Túc Đạo chuyển lời đến Giác Viễn về sách là "Sách để trong hầu" (hầu chỉ con khỉ già) nhưng do kiệt sức phát âm không nổi cộng thêm Hà Túc Đạo là người Tây Vực không hiểu tiếng Hán lắm nên Hà Túc Đạo nghe nhầm là "Sách để trong dầu" nên cả Giác Viễn lẫn Thiếu Lâm tự đều không hiểu và bộ sách đã gần như bị thất truyền.

Có nhiều người học được một phần hoặc toàn phần Cửu Dương Thần Công, nhưng chỉ có Giác Viễn và sau này là Trương Vô Kỵ học được toàn vẹn Cửu Dương Thần Công nguyên bản. Giác Viễn là một người mê đọc sách, khi gác Tàng Kinh Các của Thiếu lâm đã đọc hết các sách và vô tình đọc cả bộ Kinh Lăng Già. Vì đọc nhiều lần nên vô tình Giác Viễn đã mang trong mình nội công hùng hậu (Cửu Dương Thần Công) mà không hề hay biết. Khi đó, Trương Quân Bảo (sau này thành Trương Tam Phong-tổ sư phái Võ Đang) là học trò của Giác Viễn cũng vô tình luyện được một phần của Cửu Dương Thần Công và mang trong mình nội công Cửu Dương Thần Công. Do nhiều biến cố, trước khi Giác Viễn qua đời đã đọc lại toàn bộ Cửu Dương Thần Công, lúc đó có mặt cả Trương Quân Bảo, Quách Tương (sau này lập nên phái Nga Mi) và Vô Sắc thiền sư, mỗi người đã học một phần của bộ kinh này. Vì thế, các chiêu số, nội công của các phái Thiếu lâm, Võ ĐangNga Mi đều có màu sắc của Cửu Dương Thần Công nhưng không toàn vẹn.

Hơn một trăm năm sau, Trương Vô Kỵ khi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào thung lũng nơi con vượn mà Tiêu Tương TửDoãn Khắc Tây từng ở. Ở đó, Vô Kỵ đã mổ bụng cứu con vượn già (vì bộ sách bị nhét vào bụng, con vượn đã mang bệnh suốt trăm năm) và vô tình học được toàn bộ nội công Cửu Dương Thần Công trong bộ sách này. Vô Kỵ đã dùng nội công này đẩy toàn bộ hơi hàn độc của Huyền Minh thần chưởng đang đe dọa mạng sống của mình, đồng thời trở thành người có nội lực hùng hậu nhất. Sau này, cùng với võ công Càn khôn đại nã di, Vô Kỵ đã trở thành cao thủ võ công tuyệt đỉnh trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký. Trước khi rời khỏi hẻm núi hoang này, Vô Kỵ đã chôn bộ kinh trong hẻm núi và sau đó không ai còn nghe về hành trình của bộ sách này.

Theo mô tả của Kim Dung, nếu như Cửu Âm chân kinh (thuộc về tính Thái Cực nhiều người nhầm tưởng rằng là Âm-Nhu, vậy nên có thể nói Cửu Âm Chân Kinh mang màu sắc của Đạo Giáo) là sách dạy các chiêu số võ công để thắng địch thì Cửu Dương Thần Công lại là bộ sách tu luyện nội công và bảo vệ thân thể. Khi luyện thành, trong mình người học sẽ có nội công Cửu Dương Thần Công mang tính Dương (nóng). Cửu Dương Thần Công có thể hóa giải sự tấn công của các nguồn lực khác, đồng thời phản kích lại tỉ lệ thuận với độ mạnh của lực tấn công bên ngoài. Vì thế, Trương Vô Kỵ luôn được sự bảo vệ của Cửu Dương Thần Công và không bị bất kỳ một nguồn nội lực hay độc tính nào xâm phạm. Ngoài Trương Vô Kỵ, Giác Viễn, Trương Quân Bảo, Quách Tương, Vô Sắc, còn có Không Kiến thần tăng của Thiếu Lâm cũng là cao thủ về Cửu Dương thần công.

Dã Hồ Quyền Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Dã Hồ Quyền Pháp là tuyệt học bình sinh của Sâm Tiên Lão Quái Lương Tử Ông.

Năm xưa Lương Tử Ông đào sâm trên núi Trường Bạch thấy chó săn và chồn hoang đánh nhau trên mặt tuyết. Con chồn hoang giảo trá đa đoan, săn đông lật tây vô cùng linh động, chó săn nanh móng tuy sắc bén nhưng đánh nhau hồi lâu vẫn không sao thủ thắng. Y nhìn thấy con chồn hoang nhảy nhót, trong lòng chợt ngộ, lập tức không đào nhân sâm nữa, bèn ở lại trong lều tranh trên núi tuyết vất vả suy nghĩ mấy tháng, sáng chế ra bộ Dã Hồ Quyền Pháp. Bộ quyền pháp này lấy bốn chữ Lanh, Nốt, Phác, Diệt làm yếu chỉ, đối phó với cường địch rất phù hợp, trước tiên khiến địch nhân không thể tiến tới cạnh mình, lách phải né trái, sau đó thừa cơ tập kích

Di Hình Hoán Vị [sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Di Hình Hoán Vị là công phu của Quỷ Môn Long Vương Sa Thông Thiên dù gối không co, chân không nhích nhưng di chuyển rất nhanh.

Di Hồn Đại Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Di Hồn Đại Pháp là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh.

Dịch Cân Đoàn Cốt[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Dịch Cân Đoàn Cốt là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh.

Đàn Chỉ Thần Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Đàn Chỉ Thần Thông là một trong những công phu của Đông Tà Hoàng Dược Sư.

Đại Lực Ưng Trảo Công[sửa | sửa mã nguồn]

Vinh Thái, Bang chủ Long Du Bang, đã xưng hùng xưng bá ở vùng Triết Nam (miền nam tỉnh Triết Giang), nhờ môn Đại Lực Ưng Trảo Công.

Đại Thủ Ấn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Đại Thủ Ấn là võ công của Linh Trí Thượng Nhân, một nhân vật nổi tiếng trong phái Mật Tông ở Tây Tạng.

Đả cẩu bổng pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đả cầu bổng pháp là một trong những tuyệt chiêu trấn phái của Cái Bang (dùng côn). Song hành cùng đó là "Hàng Long Thập Bát Chưởng". Đả cẩu bổng pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau, là một loại Côn pháp chí cao. Từ lâu côn pháp này đã nổi danh nhưng song đến đời Hồng Thất Công, bang chủ thứ 18 của Cái Bang, thì mới thật sự uy trấn giang hồ. Và đến đời Hoàng Dung - con gái của Đông Tà Hoàng Dược Sư thì được biết đến rộng rãi. Bộ bổng pháp này dùng nhu thắng cương bao đời, nên Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà nổi danh giang hồ những cao thủ về bộ Côn pháp này có thể kể đến như: Hồng Thất Công, Hoàng Dung, Tống Nguyên Ân (trưởng lão đời thứ 12 của Cái Bang)... Đả Cẩu Bổng Pháp có tổng cộng 36 chiêu, mỗi chiêu có nhiều thức biến hóa khác nhau tạo thành vô số chiêu thức tinh diệu. Đả Cẩu Bổng Pháp được thi triển theo đường lối "Tứ lạng bạt thiên cân" (Bốn lạng bạt ngàn cân), võ công được áp dụng theo 8 chữ khẩu quyết: buộc, đập, trói, đâm, khều, dẫn, khoá, xoay.

Theo khẩu quyết chữ khóa, ngọn bổng hoàn toàn không đưa ngang, cũng không tấn công vào thân thể địch nhân, ngọn bổng hóa thành một bức tường màu xanh, cản trở trước mặt, chỉ cần địch nhân không bước lên một bước thì không việc gì, nếu ra tay công kích sẽ lập tức bị đánh.

Nhà văn Kim Dung có nêu một số chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp:

  • Ác Cẩu Lan Lộ
  • Áp Kiên Cẩu Bối (khẩu quyết chữ Khoá)
  • Bát Cẩu Triều Thiên (chữ Khoá)
  • Bát Thảo Tầm Xà (chữ Đâm)
  • Bổng Đả Ác Cẩu (chữ Đập)
  • Bổng Đả Song Khuyển (chữ Đập)
  • Lục Phản Cẩu Điện (chữ Đâm)
  • Ngao Khẩu Đoạt Trượng (Cướp gậy từ tay địch nhân)
  • Phản Lục Cẩu Điện
  • Phản Tiệt Cẩu Đồn
  • Tà Đả Cẩu Bối
  • Thiên Hạ Vô Cẩu (chữ Xoay)

Độc Cô Cửu Kiếm[sửa | sửa mã nguồn]

Độc Cô Cửu Kiếm (獨孤九劍) là một bí kíp kiếm thuật tối thượng xuất hiện trong bộ Tiếu ngạo giang hồ, bắt nguồn từ nhân vật không xuất hiện mang tên Độc Cô Cầu Bại và có hai nhân vật sử dụng thành thục là Phong Thanh DươngLệnh Hồ Xung. Độc cô cửu kiếm được coi là triết lý đặc sắc của Đạo gia đề cao việc sử dụng kiếm thuật một cách linh hoạt theo phương châm "Dùng vô chiêu thắng hữu chiêu".

Độc Cô Cửu Kiếm được tạo ra bởi Độc cô cầu bại, nhân vật chưa bao giờ xuất hiện thật sự trong các tiểu thuyết của Kim Dung, mà chỉ xuất hiện qua các huyền thoại bởi lời kể của các nhân vật khác về một cao thủ có võ công đạt mức lư hỏa thuần thanh do năm xưa tự mình sáng chế để tiêu diệt kẻ thù đã hại chết cha mẹ mình là Bạch Thành Trung, đặc biệt là trình độ kiếm thuật cao siêu không ai địch nổi. Ông ta tung hoành giang hồ suốt một đời mà không từng bị thất bại, không tìm được đối thủ của mình. Ông ta cô độc cho đến chết mà chỉ mong được một lần bại trận bởi đối thủ nên có tên là Độc cô cầu bại. Tuy nhiên, đôi khi cũng có thể hiểu chính những người sử dụng Độc cô cửu kiếm là những "Độc cô cầu bại". Nhân vật Độc cô Cầu bại xuất hiện qua lời kể của Phong Thanh Dương trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ và trong tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ khi con thần điêu (người bạn còn sống sót của Độc cô Cầu bại) đưa Dương Quá đến mộ Độc cô cầu bại và qua đó học được triết lý kiếm thuật của Độc cô. Tuy nhiên, qua miêu tả về kiếm pháp của Dương Quá trong tiểu thuyết Thần điêu đại hiệp và kiếm pháp của Độc cô cửu kiếm trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, ta có thể rút ra nhận xét đây là hai môn võ công có nhiều điểm khác biệt, thậm chí theo một số nhận xét là hoàn toàn tương phản. Do vậy giả thuyết cho rằng Độc Cô Cầu Bại vẫn còn có truyền nhân khác được ủng hộ hơn cả.

Theo lời của Phong Thanh Dương, Độc cô cửu kiếm có 9 nguyên lý chính:

  • Tổng quát thức: Là các quy luật chung, các quy tắc biến hóa trong kiếm thuật: di chuyển, quan sát, tấn công... Các biến hóa trong tổng quát thức dựa trên các quy luật biến hóa của bát quái trong Kinh Dịch với 360 cách biến hóa.
  • Phá kiếm thức: Là các quy tắc phá kiếm thuật.
  • Phá đao thức: Các quy tắc tấn công đối thủ dùng đao.
  • Phá thương thức: Quy tắc tấn công các đối thủ sử dụng thương, giáo, kích, gậy...
  • Phá tiên thức: Hóa giải cương tiên, thiết giản, điểm huyệt...
  • Phá sách thức: Phá trường sách, nhuyễn tiên, tam thiết côn, trùy...
  • Phá chưởng thức: Hóa giải quyền, cước, chỉ, chưởng (võ công sử dụng trực tiếp tay, chân, công lực...)
  • Phá tiễn thức: Dùng để phá các tên, ám khí.. chẳng những dùng kiếm gạt ám khí mà có thể phản công trở lại. Một minh họa điển hình của chiêu thức này là Lệnh Hồ Xung dù mất hết nội lực vẫn sử dụng một chiêu kiếm xuất thần đâm mù mắt 15 đại cao thủ vây quanh trong miếu Dược Vương.
  • Phá khí thức: Dùng để hóa giải các đối thủ có nội công thượng thặng.

Trong tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, Độc cô cầu bại sống cô độc trên núi hoang với con chim điêu, trước khi chết đã chôn các thanh kiếm của mình trong đá với ba triết lý:

  • Lúc trai trẻ lòng đầy nhiệt huyết mà thiếu sự chín chắn thì sử dụng tử vi kiếm là thanh bảo kiếm sắc, nhẹ và linh hoạt.
  • Khi đạt độ chín của suy nghĩ và sức lực, sử dụng thanh kiếm sắt nặng nề mà không sắc bén.
  • Khi bắt đầu về già, suy nghĩ và kiếm thuật đạt trình độ cao, vũ khí chỉ còn là thanh kiếm gỗ và đạt mức thượng thừa thì không kiếm mà thắng đối thủ, bất cứ thứ gì cũng là kiếm.

Trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, không ai rõ Phong Thanh Dương học Độc cô cửu kiếm qua người nào, chỉ biết ông ta là một truyền nhân của triết lý Độc cô cầu bại với kiếm thuật Độc cô cửu kiếm thần kỳ tung hoành trên giang hồ khi trai trẻ. Đồng thời, Phong Thanh Dương là người phát triển lý luận của Độc cô cửu kiếm đến trình độ tối thượng: "Chiêu số là phần tĩnh, người phát chiêu mới là động. Chiêu số tĩnh phá giải kỳ tuyệt đến đâu mà khi gặp chiêu số động liền chịu bó tay, vì vậy người học võ luôn cần nghĩ đến chữ động.... Luyện võ và sử chiêu linh động mới chỉ là bước đầu, luyện đến trình độ ra tay không còn chiêu thức mới tiến vào trình độ tuyệt luân. Theo người thì những chiêu luyện tới chỗ tối cao là không tài nào phá giải được. Ý nghĩ đó chỉ đúng có một điểm là chiêu thức dù có cao đến đâu mà để đối phương tìm thấy đường lối là có thể nhận ra kẽ hở phá mình ngay. Còn như đã không có chiêu thức thì địch nhân còn phá vào đâu?". Theo Phong Thanh Dương, kiếm thuật thượng thừa đòi hỏi người sử dụng kiếm sử dụng chiêu thức biến hóa liên tục như nước chảy mây trôi, tùy theo sự thay đổi của đối thủ mà điều chỉnh lại chiêu thức của mình, lấy sự tấn công làm phòng thủ.

Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung đã phát huy năng lực của Độc cô cửu kiếm và đã trở thành những cao thủ bất bại trên giang hồ. Theo lý luận của Phong Thanh Dương, Độc cô cửu kiếm tối kị tính học thuộc mà đòi hỏi một chữ Ngộ và khi đó thì dù có quên thì lại càng phát huy khả năng phong phú của kiếm thuật. Và bản thân Phong Thanh Dương cũng đã trở thành một Độc cô cầu bại khi cuối đời ẩn cư một mình trên đỉnh Ngọc Nữ phong hoang vắng trên núi Hoa Sơn và mong chờ được thất bại dưới tay một đối thủ chân chính.

Với những lý luận này, Độc cô cửu kiếm đã thoát ra khỏi sự hạn hẹp của kiếm thuật, mà đã trở thành triết lý sống của Phong Thanh Dương cũng như Lệnh Hồ Xung, và trở thành một triết lý đặc sắc của Tiếu ngạo giang hồ. Triết lý này đề cao sự tự do, sống và hành động linh hoạt phù hợp với các quy luật tự nhiên, phát huy sự sáng tạo và hạn chế sự dập khuôn máy móc.

Hạc Hình Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Lã Nhị tiên sinh chỉ cậy có thế võ Hạc Hình quyền mà khắp Giang Nam và Giang Bắc không ai địch nổi.

Hai bàn tay tượng trưng đôi cánh hạc dùng để bổ và đập đối phương. Còn hai chân một thẳng một co lại, bỗng dài bỗng ngắn, tựa như bạch hạch lúc tranh đấu đá và đạp vậy.

Hàn Băng Chưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn băng chưởng là một môn võ công do Tả Lãnh Thiền trưởng môn phái Tung Sơn sáng tạo trong Tiếu Ngạo Giang Hồ. Môn võ công này dựa vào phối hợp với hàn băng chân khí mà sử dụng có tác dụng dùng hàn băng kình đánh vào thân thể và kinh mạch đối thủ làm đóng băng kinh mạch đối thủ. Tả Lãnh Thiền sáng tạo môn võ công này là vì khắc chế Hấp Tinh Đại Pháp của Nhậm Ngã Hành.

Hàng long thập bát chưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng long thập bát chưởng là tên một loại tuyệt kỹ võ công xuất hiện trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung,. Được mô tả trong loạt truyện kiếm hiệp gồm Thiên Long bát bộXạ điêu tam bộ khúc (Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữỶ thiên Đồ long ký), Hàng long thập bát chưởng là 1 trong 2 tuyệt kỷ của Cái Bang bên cạnh "Đả cẩu bổng pháp".

Đả cẩu bổng pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau, còn Hàng long thập bát chưởng thì chỉ có những đệ tử cái bang từ hàng 9 túi trở lên mới được truyền dạy và mỗi người chỉ được dạy một vài chiêu chứ không được học hết cả pho chưởng pháp, ngoại trừ các đồ đệ truyền nhân của bang chủ.

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Hàng long thập bát chưởng đã vang danh thiên hạ từ lâu, song đến đời Hồng Thất Công, bang chủ thứ 18 của Cái Bang, thì mới thật sự uy trấn giang hồ, và đến đời Quách Tĩnh (đồ đệ của Hồng Thất Công) thì được biết đến rộng rãi nhất.

Theo truyện Thiên long bát bộ, trước thời Hồng Thất Công một nhân vật nữa làm cho Hàng long thập bát chưởng đi vào huyền thoại là Tiêu Phong, một nhân tài kiệt xuất của Cái Bang. Với tấm lòng hào hiệp, chính nghĩa, không chịu khuất phục cường địch, Tiêu Phong cùng với Hàng long thập bát chưởng là nỗi khiếp sợ của tà môn ngoại đạo. Trong bản chỉnh sửa mới nhất của Thiên Long Bát Bộ, thì Hàng long thập bát chưởng mới đầu có 28 chiêu là Hàng Long nhị thập bát chưởng. Về sau Tiêu Phong nhận thấy vẫn còn thiếu uy lực, lại có nhiều chiêu lập lại nên đã bổ sung, sửa chữa, rút gọn lại, tạo thành Hàng long thập bát chưởng, đồng thời khiến uy lực của bộ chưởng pháp tăng thêm. Cũng trong bản sửa đổi này thì Tiêu Phong còn nhờ Hư Trúc học Hàng long thập bát chưởng và Đả Cẩu Bổng Pháp với mục đích sau này khi Cái Bang tìm được bang chủ mới thì Hư Trúc sẽ truyền lại võ công cho người đó.

Theo Kim Dung, bộ chưởng pháp này là võ công chí cương của thiên hạ, bao đời Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà thành danh giang hồ, uy lực tùy theo người sử dụng. Những cao thủ về môn chưởng pháp này có thể kể là Tiêu Phong, Hồng Thất Công, Quách Tĩnh. Gia Luật Tề cũng biết tất cả các chiêu nhưng không thể phát huy uy lực được như Tiêu Phong,Quách Tĩnh và Hồng Thất Công. Về sau Hàng Long thập bát chưởng chỉ còn truyền lại được 12 chiêu như bang chủ Sử Hoả Long (Ỷ Thiên Đồ Long Ký) luyện nhưng không ai có được thành tựu cao, vật đổi sao dời, Hàng long thập bát chưởng cũng theo đó mà thất truyền cùng với sự suy vi của Cái Bang.Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký,một lần nữa Hàng long thập bát chưởng được Tống Thanh Thư tái xuất do Chu Chỉ Nhược đã lấy ra từ Ỷ Thiên Kiếm đưa cho Tống Thanh Thư tập để đối phó Trương Vô Kỵ.

Chiêu thức của bộ chưởng pháp này bao gồm:

  1. Phi long tại thiên 飛龍在天 hào Cửu ngũ của quẻ Kiền, có nghĩa: "rồng bay lên trời". Khí dương đã phát huy rực rỡ, hoặc con người đã khai mở được bản tâm để phát huy diệu dụng.
  2. Kiến Long Tại Điền 見龍在田 lời hào Cửu nhị của quẻ Kiền, có nghĩa là: "con rồng đã hiện ra trên mặt ruộng". Lúc này khí dương bắt đầu được khai mở.
  3. Hồng Tiệm Vu Lục 鴻漸於陸 lời hào Cửu tam quẻ Tiệm, có nghĩa "con chim hồng dần bay đến đậu trên gò đất". Quẻ Tiện còn có tên là Phong sơn tiệm, do được tạo thành bởi quẻ Cấn (là núi) ở dưới và quẻ Tốn (là gió) ở trên. Ý nghĩa tượng trưng của Hồng tiệm vu lục là hào Cửu tam có vị trí trên cùng của quẻ Cấn, là hào dương xử ở ngôi dương, cương kiện năng tiến, do đó mới có tượng "con chim hồng dần bay lên đậu trên gò đất".
  4. Tiềm Long Vật Dụng 潛龍勿用 lời hào Sơ cửu của quẻ Kiền, có nghĩa là: "như con rồng còn đang ẩn náu; không nên dùng". Khi khí dương còn đang tiềm tàng, hoặc bản thể của tâm chưa được phát lột thì không nên hành động.
  5. Kháng Long Hữu Hối 亢龍有悔 lời hào Thượng cửu của quẻ Kiền, có nghĩa: "Rồng bay cao quá ắt sẽ hối hận". Hào dương ở ngôi cao nhất của quẻ thuần dương, như để tâm chìm đắm vào chỗ lưu đãng, hư huyền xa rời mất cõi nhân sinh, ắt sẽ hối hận. Dùng Cang long hữu hối phải có phát có thu, lực đánh ra 10 phần, lưu lại 20 phần, có phát có thu
  6. Lợi Thiệp Đại Xuyên 利 涉大川 có nghĩa: "có lợi trong việc lội qua sông lớn", đây là lời thường dùng trong các quái từ, hào từ của Kinh Dịch. "Đại xuyên" là sông lớn, thường được dùng để ví với sự gian nan hiểm trở.
  7. Đột Như Kỳ Lai 突如其來 lời hào Cửu tứ quẻ Ly, có nghĩa: "thình lình ập tới". Trong hào Cửu tam thì sự đe dọa đã bắt đầu hiện ra dưới hình thức ngọn cầu vồng lấn át ánh nắng chiều, và đến hào Cửu tứ thì đột ngột chuyển thành hiện thực.
  8. Chấn Kinh Bách Lý 震驚百里 lời quái từ và lời thoán truyện của quẻ Chấn, có nghĩa: "tiếng sấm động vang xa hàng trăm dặm".
  9. Hoặc Dược Vu Uyên 或躍於淵 hào Cửu tứ của quẻ Kiền, có nghĩa: "hoặc nhảy vào vực thẳm". Đây là bước rẽ quyết định, con người từ bỏ thế giới rạch ròi của lý trí để đi vào thế giới huyền vi của tâm thức.
  10. Song Long Thủ Thủy 雙龍取水 Chúng tôi chưa tra cứu được xuất xứ, có lẽ tác giả chỉ thuận tay dùng các thành ngữ quen thuộc trong kho tàng văn học Trung Quốc mà đặt tên, theo kiểu các chiêu "Giao long hỷ thủy", "Lưỡng long tranh châu"... thường gặp các tiểu thuyết võ hiệp chứ không phải là câu được chọn ra từ Kinh Dịch.
  11. Ngư Dược Vu Uyên 魚躍於淵
  12. Thời Thừa Lục Long 時乘六龍
  13. Mật Vân Bất Vũ 密雲不雨 Thanh phong từ lai, bái nhiên hữu vũ
  14. Tổn Tắc Hữu Phu 損則有孚
  15. Long Chiến Vu Dã 龍戰於野 lời hào Thượng lục của quẻ Khôn có nghĩa: "rồng đánh nhau nơi hoang dã". Âm đã đến lúc cực thịnh nên tranh nhau với Dương.
  16. Lữ sương băng chí 履霜冰絰 Sơn vũ dục lai, lữ sương băng chí, tên đầy đủ là "lữ sương, kiên băng chí", lời hào Sơ lục quẻ Khôn, có nghĩa: "dẫm trên sương, thì biết băng dày sắp đang tới". Đây là tượng của khí âm mới sinh.
  17. Đê Dương Xúc Phiên 羝羊觸藩
  18. Thần Long Bãi Vĩ 神龍擺尾 Nguyên trong Kinh Dịch không có câu này, mà chỉ có câu "Lý hổ vĩ, điệt nhân, hung" của hào Lục tam quẻ Lý, có nghĩa "đi sau cọp, đạp đuôi cọp, bị nó quay lại cắn, nguy hiểm". Kim Dung giải thích tên chiêu này được lấy từ câu trên, để tả khí thế mạnh mẽ và hung dữ của chiêu thức. Người đời sau thấy chữ "hổ" không hợp trong môn chưởng pháp "hàng long" nên đổi thành "Thần long bãi vĩ"

Hỏa Diễm đao[sửa | sửa mã nguồn]

Hỏa Diễm đao là Cưu Ma Trí độc môn tuyệt học võ công có thể đem nội lực ngưng tụ trên bàn tay sau đó đánh ra ngoài dùng hư kình đả thương đối thủ có chút tương tự như Lục Mạch Thần Kiếm.

Không Minh Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Không Minh Quyền là quyền thuật chí nhu trong thiên hạ. Chu Bá Thông, trong động trên đảo Ðào Hoa, mười lăm năm, sáng chế Không Minh Quyền theo Đạo Đức Kinh. Trong Đạo đức kinh có câu:

- Binh mạnh ắt sẽ bị diệt, gỗ cứng ắt sẽ bị gãy. Cứng mạnh ở dưới, mềm yếu ở trên.

Lại nói:

- Trong thiên hạ không gì mềm yếu bằng nước, nhưng vật gì cứng mạnh cũng không thắng được, không gì chuyển dịch được. Yếu thắng mạnh, nhu thắng cương, thiên hạ ai cũng biết nhưng không ai làm được.

Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông đem bảy mươi hai lộ Không Minh Quyền giảng giải cho Quách Tĩnh:

- Lộ thứ nhất Không Uyển Thịnh Phạn

- Lộ thứ hai Không Ốc Trú Nhân

-...

Mười sáu chữ khẩu quyết là

- Không mông động tùng (Tùng là lúc ra quyền thì lực đạo phải trống rỗng, không tốn một chút sức lực nào, nếu tốn sức thì lại không được)

- Phong thông dung mộng (Mộng là quyền chiêu phải mờ mịt),

- Xung cùng trung lộng,

- Đồng dung cung trùng (Trùng là thân hình phải mềm nhuyễn như con sâu)

Yếu quyết Không Minh Quyền vốn là

- Nhờ rỗng mà sáng

- Cương thì không lâu

- Nhu thì khó giữ

Kim Cương Phục Ma Quyển[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Cương Phục Ma Quyển là một môn trận pháp võ công từng xuất hiện trong Ỷ Thiên Đồ Long ký do ba vị cao tăng Thiếu Lâm là: Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nan đã từng cùng nhau sử dụng. Trương Vô Kỵ vì cứu Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn đã từng ba lần chiến Kim Cương Phục Ma Quyển.

Trận đầu tiên do Trương Vô Kỵ một mình xông trận nhưng không thể phá trận mà còn suýt chết trong trận cho đến lúc nói ra Tạ Tốn cùng Thành Côn ân oán khiến cho Độ Ách nghi ngờ nên mới thoát khỏi. Trận thứ hai do Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Ân Thiên Chính ba người hợp lực phá trận, kết quả nếu không phá được trận, Ân Thiên Chính cũng bởi vì một trận chiến này hao hết tinh lực, cho nên chết. Trận thứ ba do Trương Vô Kỵ cùng Chu Chỉ Nhược hợp lực phá giải Kim Cương Phục Ma Quyển nhưng Chu Chỉ Nhược công lực quá kém nên không giúp gì được, mà Trương Vô Kỵ vì lo lắng cho Tạ Tốn nên dùng sức đánh gãy cây tùng sau đó dùng làm vũ khí, dùng cây tùng sức nặng ép Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nan dùng lực tỷ thí để cho Chu Chỉ Nhược có cơ hội giải cứu Tạ Tốn. Đáng tiếc, Chu Chỉ Nhược thừa cơ ám toán Tạ Tốn, về sau ba tăng cùng Trương Vô Kỵ giằng co, sắp đến lúc lưỡng bại câu thương, áo vàng nữ tử xuất hiện, hóa giải nguy cơ, sau đó ba tăng nói Trương Vô Kỵ không thể phá trận, mà ba tăng cũng đấu bất bại Trương Vô Kỵ.

Kim Long Tiên Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Kim Long Tiên Pháp là công phu củaMã Vương Thần Hàn Bảo Câu, một trong Giang Nam Thất Quái.

Kim Xà Bí Kíp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Bích huyết kiếm, Viên Thừa Chí đã dùng tuyệt kỹ Thiên Thủ Quan Âm Thâu Vạn Báu trong Kim Xà Bí Kíp để bắt Liên Hoàn Thập Nhị Phi Đao do Ôn Minh Thi của Thạch Lương phái phóng ra.

Trong Kim Xà Bí Kíp, Viên Thừa Chí còn học được những môn võ như là

- Kim Du Thân Chưởng

- Kim Xà Cầm Hạc quyền

Kim Xà Bí Kíp là di vật của Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi.

Kỳ Môn Ngũ Chuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Kỳ Môn Ngũ Chuyển là một công phu mà Đông Tà Hoàng Dược Sư luyện tập hơn mười năm mới thành công.

La Hán Đao Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Khô Mộc Thiền Sư truyền thụ La Hán Đao Pháp cho Lục Quán Anh.

Lục Quán Anh là con Lục Thừa Phong ở Quy Vân Trang cạnh Thái Hồ. Lục Thừa Phong là môn hạ của Đông Tà Hoàng Dược Sư, đảo chủ đảo Đào Hoa

Lan Hoa Phất Huyệt Thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Lan Hoa Phất Huyệt Thủ là công phu điểm huyệt của Đông Tà Hoàng Dược Sư, đảo chủ đảo Đào Hoa.

Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Lạc Anh kiếm pháp là một bộ kiếm pháp của một môn phái mà trước kia Đông Tà Hoàng Dược Sư theo học. Đông Tà trước khi lấy mẹ của Hoàng Dung đã từng có một người yêu đó là con gái của sư phụ mình,do có mâu thuẫn với sư phụ của mình,nên sư phụ ông không gã con gái mình cho Đông Tà,vì quá buồn nên cô con gái của sư phụ Đông Tà đã tự sát, Đông Tà trong lúc giận dữ đã xóa sổ môn phái mà mình đã theo học, và lấy bộ kiếm pháp Lạc Anh làm võ thuật riêng của mình. Trong bản sửa đổi năm 2003, Kim Dung đã đổi tên Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng thành Đào Hoa Lạc Anh Chưởng

Lăng Ba Vi Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Ba Vi Bộ (凌波微步) là một loại thượng thừa khinh công trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Đây là một môn võ học của phái Tiêu Dao được Đoàn Dự phát hiện tại nước Đại Lý - Vô Lượng sơn. Đoàn Dự sau khi chạy nhầm vào cấm địa Vô Lượng ngọc bích của Vô Lượng kiếm phái sau đó bởi vì bị người truy đuổi và không cẩn thận nên bị té xuống vách núi may mắn không chết sau đó phát hiện một hang động ở đây tìm thấy một căn phòng đã lâu không có người ở. Ở đây Đoàn Dự thấy được một pho tượng mỹ nữ được điêu khắc bằng ngọc sau đó Đoàn Dự dập đầu một ngàn lần theo lời yêu cầu được ghi dưới pho tượng sau đó tìm thấy được hai quyển bí kíp võ công là Bắc Minh Thần Công và Lăng Ba Vi Bộ được giấu trong bồ đoàn dùng để dập đầu

Lăng Ba Vi Bộ là dựa vào Chu Dịch 64 quẻ phương vị mà diễn biến thành. Lúc chiến đấu dựa vào bộ pháp này khiến cho đối thủ không có cách nào đánh trúng bản thân. Mặt khác Lăng Ba Vi Bộ có thêm một loại công dụng là khi bước chân chạy hết 64 quẻ đúng một chu thiên thì nội tức cũng đã vận chuyển được một chu thiên vì vậy mỗi khi đi một vòng thì nội lực lại có tiến triển.

Liệu Thương thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Liệu Thương thiên trong Cửu Âm Chân Kinh là nói việc dùng khí công điều trị chân nguyên, chữa trị nội thương khi bị cao thủ dùng khí công đả thương.

Linh Xà Quyền Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Tây Độc Âu Dương Phong tiềm tâm khổ luyện mà thành bộ Linh Xà Quyền Pháp, uốn lượn theo thân hình loài rắn. Thân rắn tuy có xương nhưng cũng như không xương, có thể quăng khắp bốn phương tám hướng tùy ý, vì vậy yếu chỉ của pho quyền pháp này là ở chỗ cánh tay tựa hồ có thể cong được ở những chỗ không cong được, địch nhân chỉ cho rằng đưa tay gạt đỡ là xong, nào ngờ càng vào gần thì đột nhiên sẽ có một quyền từ phương vị không ngờ đánh tới. Muốn cánh tay có thể mềm mại uốn khúc tùy ý thì không thể, nhưng phương vị phát quyền thì không dễ nghĩ ra, trong con mắt địch nhân thì cánh tay của mình quả thật linh động như con rắn.

Lôi Trấn Kiếm Pháp [sửa | sửa mã nguồn]

Lôi Trấn Kiếm Pháp của phái Thạch Lương tất cả có ba mươi sáu miếng, miếng hư là chớp nhoáng trước khi lôi trấn, khiến cho kẻ địch tối tăm mặt mũi, rồi tiếp theo đó mới tấn công mạnh như sấm sét vậy.

Lục Hợp Thông Tý Quyền Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Lục Hợp Thông Tý Quyền Pháp là công phu của Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận bang chủ Thiết Chưởng Bang ở Tương Giang.

Lục Mạch Thần Kiếm[sửa | sửa mã nguồn]

Lục mạch thần kiếm là tên một loại tuyệt kỹ võ công xuất hiện trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Theo đó, đây là 1 trong 2 tuyệt kỹ độc môn truyền nội không truyền ngoại của nước Đại Lý: Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch thần kiếm. Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử xuất gia của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này). Theo truyện Thiên long bát bộ, nhân vật Đoàn Dự là người duy nhất có thể sử dụng trọn vẹn cả 6 mạch kiếm khí; điều kì lạ là Đoàn Dự lại là một chàng trai hào hoa, phong nhã, vốn ghét việc luyện võ công lại có thể luyện thành thần công trong khi các cao tăng của Thiên Long Tự khổ công tập luyện đều không thành. Bộ thần kiếm này được sánh ngang với Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự nên nó thu hút các võ lâm cao thủ chiếm đoạt và tiêu biểu nhất là Đại Luân Minh Vương Cưu Ma Trí. Về chiêu thức, Lục mạch thần kiếm không phải là một kiếm thuật mà là loại kiếm khí. Trong Thiên long bát bộ, Lục mach thần kiếm được tu luyện dựa trên cách vận hành khí tâm pháp yếu chỉ riêng rồi dùng Nhất Dương chỉ phát triển thành kiếm khí. Sáu mạch của bộ kiếm pháp này bao gồm:

  1. Tiểu tử - Thiếu trạch kiếm (ngón út tay trái)
  2. Tả hữu tiểu tử - Thiếu xung kiếm (ngón út tay phải)
  3. Tam quy kinh mạch - Quan xung kiếm (ngón áp út – ngón đeo nhẫn – tay phải)
  4. Trung chỉ - Trung xung kiếm (ngón trỏ tay trái)
  5. Bàn thực chỉ - Thương dương kiếm (ngón trỏ tay phải)
  6. Mẫu chỉ - Thiếu thương kiếm (ngón cái tay trái)

Mãn Thiên Hoa Vũ[sửa | sửa mã nguồn]

Mãn Thiên Hoa Vũ (Hoa rải đầy trời) là một chiêu thức võ công tập trung sức mạnh và tinh thần phóng ra hàng loạt ngân châm để tiêu diệt địch thủ, đây là một chiêu thức ám sát được các sát thủ trong võ lâm rất đắc ý, chiêu thức không những hiểm độc mà còn có khả năng sát thương nhiều đối thủ.

Một chiêu thức khác có sức sát thương cao hơn Mãn Thiên Hoa Vũ là chiêu thức Bạo Vũ Phi Hoa Châm. Chiêu thức này được nhắc nhiều trong các tiểu thuyết kiếm hiệp và được tái hiện qua nhiều bộ phim về chủ đề võ hiệp.

Theo truyện Bích huyết kiếm, Quỷ Ảnh Tử Mộc Tang đạo nhân dạy Mãn Thiên Hoa Vũ cho Viên Thừa Chí sau khi thua liền hai ván cờ vây. Mãn Thiên Hoa Vũ của Quỷ Ảnh Tử Mộc Tang đạo nhân không ném ngân châm mà ném những con cờ vây.

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Hồng Thất Công đã dạy Mãn Thiên Hoa Vũ cho Hoàng Dung để chống lại bầy rắn độc của Âu Dương Phong.

Nam Sơn Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Nam Sơn Quyền là võ công của Nam Sơn Tiều Tử Nam Hy Nhân, một trong Giang Nam Thất Quái.

Nê Thu Công[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Anh Cô thấy cá chạch bơi lội trong đầm mà ngộ ra Nê Thu Công. Khi động thủ với người khác thân trơn trượt dị thường.

Thần Toán Tử Anh Cô vốn tên là Lưu Anh, một quý phi trong cung Nam Đế Đoàn Hoàng gia nước Đại Lý. Lưu quý phi gặp gỡ và có tình cảm với Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông sinh ra một đứa con.

Nhất Dương Chỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhất Dương Chỉ do Thái Tổ Thần Thánh Văn Vũ Hoàng Đế Đoàn Tư Bình, Vua đầu tiên của vương quốc Đại Lý sáng tạo ra cùng với Lục Mạch Thần kiếm.[cần dẫn nguồn] Đây được xem như là 2 võ công tuyệt ký của Đại Lý Đoàn Gia.[cần dẫn nguồn] Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này).

Nhất Dương Chỉ xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát BộAnh Hùng Xạ Điêu. Trong Thiên Long Bát Bộ, có 3 người sử dụng thành thạo bộ chỉ pháp này là Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh và Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân cũng là thế tử nước Đại Lý(anh họ Đoàn Chính Minh) Đoàn Diên Khánh. Trong Anh Hùng Xạ Điêu, Đoàn Trí Hưng là người đã sử dụng Nhất Dương Chỉ để cứu sống Hoàng Dung sau khi nàng bị bang chủ Bang Thiết Chưởng là Cừu Thiên Nhận đánh trúng. Ngoài ra, Quách Tĩnh cũng có thể sử dụng chiêu thức này, tuy không thuần thục.

Nhất Dương Chỉ là yếu chỉ điểm huyệt dùng ngón tay xuất chỉ khí gây sát thương. Người sử dụng Nhất Dương Chỉ dồn nội lực vào ngón tay trỏ rồi bắn ra lực sát thương có hạn. Nếu bị điểm huyệt bằng Nhất Dương Chỉ thì phải dùng chính Nhất Dương Chỉ để giải huyệt.

Nhiên Mộc đao pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiên Mộc đao pháp là một môn võ công gặp ở Thiên Long Bát Bộ là một trong 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm sau khi luyện thành có thể trên một nhánh cây khô bổ nhanh chín chín tám mươi mốt đao lưỡi đao không tổn hại nhánh cây chút nào nhưng trên đao phát ra nhiệt lực lại có thể đem nhánh cây thiêu cháy nên mới có tên là Nhiên Mộc.

Ngọc Nữ Tâm Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngọc Nữ Tâm Kinh là khái niệm võ học trong tiểu thuyết Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung nằm trong bộ Xạ Điêu Tam Bộ Khúc. Ngọc Nữ Tâm Kinh là môn võ công lợi hại nhất của phái Cổ Mộ, theo lời kể của Tiểu Long Nữ thì đây là môn võ công do tổ sư bà bà "Lâm Triều Anh" sáng tạo ra. Nguyên nhân là do Lâm Triều Anh này từng có một mối lương duyên với tổ sư của phái toàn chân là Vương Trùng Dương, hai người này tuy yêu nhau nhưng không đến được với nhau vì quá nhiều mâu thuẫn, Lâm Triều Anh vừa yêu vừa hận nên đã sáng tác ra Ngọc Nữ Tâm Kinh dựa trên võ công của Toàn Chân Giáo nhưng lại khắc chế hoàn toàn võ công của Toàn Chân Giáo. Ngọc Nữ Tâm Kinh muốn luyện thành phải trải qua 3 giai đoạn: - Thứ nhất phải luyện hết võ công của Toàn Chân Giáo (Toàn Chân Kiếm Pháp) - Thứ hai phải luyện hết võ công của phái Cổ Mộ - Thứ ba mới luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh (khi luyện tập phải có người cùng luyện và phải cởi bỏ quần áo trong lúc luyện công do lúc luyện tập khí nóng trong cơ thể phát ra nếu có quần áo khí nóng chạy ngược vào thể nội nhẹ thì tẩu hoả nhâp ma, nặng thì chết ngay tức khắc) Lúc luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh chia ra Âm Tiến và Dương Thoái, luyện Dương Thoái thì có thể ngừng lại nghỉ nhưng Âm Tiến thì phải liên tục không được đức quãng nếu không tẩu hoả nhập ma chân khí chạy ngược vào lục phủ ngũ tạng. Khi luyện thành nếu song kiếm hợp bích với Toàn Chân Kiếm Pháp thì trở thành Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp uy lực tăng lên rất nhiều lần.

Ngũ Hành Bát Quái Trận[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Bích huyết kiếm, Ngũ Hành Bát Quái Trận là Trấn Sơn Chi Bảo của phái Thạch Lương.

Ngũ Hành Bát Quái Trận gồm mười sáu người giàn trận Bát Quái bên ngoài để phò tá Ngũ Hành Trận bên trong.

Mười sáu người chạy vòng quanh càng chạy càng phải nhanh hơn. Có một điều lạ nhứt là không hề nghe thấy tiếng chân của bọn họ, mọi chỗ hổng đều bị họ bịt kín hết cả thế này, đến con ruồi con muỗi cũng không thể bay lọt vào được.

Trong Ngũ Hành Trận, năm người chạy quanh địch thủ, càng chạy càng nhanh, chỉ chờ địch thủ ra tay là họ cũng ùa vào ngay. Ngũ Hành trận cần dùng một người hấp dẫn đối phương tấn công, bốn người kia thì nhằm chỗ hở của địch mà tập kích. Khi sáu người đánh nhau, dù đánh rất kịch liệt, nhưng khí giới va chạm vào nhau, chỉ có tiếng kêu "vù vù" của các khí giới múa máy và tà áo bay lượn thôi. Điểm cốt yếu của trận thế này là "nhanh" để đôi bên khí giới va chạm nhau, tình thế tất phải chậm chạp đi.

Còn nếu như địch thủ không động đậy gì cả, toàn thân chỗ nào cũng phòng bị chu đáo, Ngũ Hành Trận chịu bó tay không làm gì nổi.

Sau khi thất bại và tẩu thoát, Kim Xà Lang Quân cố công nghĩ thế võ để đối phó với Ngũ Hành trận. Trong một lần đi dạo núi ông bỗng gặp một con rắn độc đang bò ở trong đám cỏ. Trông thấy bóng người, nó quấn tròn lại, ngửng đầu lên không hề cử động, nó chờ đợi kẻ địch ra tay trước. Khi kẻ địch tấn công, rắn nọ lập tức thực hư mà cản lại. Nếu địch đứng yên, nó ít khi tấn công trước. Vì chưa biết rõ thực hư của địch ra sao, nếu tấn công trước, thường thường hay bị thiệt thòi. Xúc động linh cơ, Hạ Tuyết Nghi nhìn qua, vừa nhảy vừa kêu la, lộn mấy vòng trên bãi cỏ. Chiến lược phá Ngũ Hành Trận được sáng tạo ngay từ đấy.

Khi bị năm anh em Ôn thị dùng Ngũ Hành Bát Quái Trận, vây Viên Thừa Chí dùng dùng thế võ trong Kim Xà Bí Kíp để phá Ngũ Hành Trận.

Phân Vân Thừa Long[sửa | sửa mã nguồn]

Quỷ Ảnh Tử Mộc Tang đạo nhân đem kiểu khinh công Phân Vân Thừa Long (vịn mây cỡi rồng) dạy cho Viên Thừa Chí sau khi thua một ván cờ vây.

Phách Không Chưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Phách Không Chưởng là một chưởng pháp trong truyện Anh Hùng Xạ  Điêu.

Phục Hổ Chưởng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Bích huyết kiếm, Thôi Thu Sơn truyền thụ Phục Hổ chưởng pháp của phái Hoa Sơn cho Viên Thừa Chí, tất cả 108 miếng, mỗi miếng lại có 3 đường biến hóa "kỳ chính tương sinh tương khắc" cộng tất cả là 324 đường. Có những miếng như là

- "Hàng Long Phục Hổ"

- "Hoàng Hổ Đơn Tiên

- "Thâm Nhập Hổ Huyệt"

Phục Ma Trượng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ  Điêu, Kha Trấn Ác, một trong Giang Nam Thất Quái, khổ luyện Phục Ma Trượng Pháp ở sa mạc Mông Cổ.

Quỳ Hoa bảo điển[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳ Hoa bảo điển (葵花寶典) là bí kíp võ thuật thượng thặng trong tiểu thuyết kiếm hiệp Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Trung Quốc Kim Dung. Quỳ Hoa bảo điển có chung một nguồn gốc với Tịch tà kiếm pháp do hai vợ chồng tiền nhân viết ra trong quá khứ với Quỳ là tên người chồng, Hoa là tên người vợ. Giống như Tịch tà kiếm pháp nguyên lý đầu tiên để luyện là Quỳ Hoa bảo điển là "dẫn đao tự cung".

Nguồn gốc của Quỳ Hoa bảo điển được tiết lộ theo lời kể của Phương Chấn đại sư, trụ trì Thiếu Lâm Tự khi bàn việc cùng Lệnh Hồ XungXung Hư đạo trưởng phái Võ Đang trên đỉnh núi Hằng Sơn. Theo lời Phương Chấn, bộ sách Quỳ hoa bảo điển là tác phẩm của một cặp vợ chồng hợp tác mà người đàn ông có chữ Quỳ và người đàn bà có chữ Hoa, là tiền nhân của phái Hoa Sơn. Sau vì sáng tác bí lục này mà thành ra xích mích, cuối cùng cả hai vợ chồng đã đi ở ẩn, xa lánh cõi trần và pho bí lục võ công cũng chia làm hai bộ. Bộ của người chồng gọi là Càn kinh. Bộ của người vợ kêu bằng Khôn kinh. Sau một thời gian, bộ sách này vô tình truyền đến phái Nam Thiếu LâmPhúc Kiến.

Cũng thời gian đó, có hai tiền nhân phái Hoa Sơn là Nguyên Mẫn Túc (sau này là ông tổ phe Khí tông) và Chu Tử Phong (sau này trở thành ông tổ phe Kiếm tông) cùng đến Nam Thiếu Lâm không biết bằng cách nào đọc lén được bộ sách rồi về Hoa Sơn tu luyện. Khi biết chuyện, trụ trì Nam Thiếu LâmHồng Diệp thiền sư đã sai môn đồ của mình là Độ Nguyên thiền sư đến Hoa Sơn khuyên hai người kia không nên rèn luyện Quỳ Hoa bảo điển. Hai người kia tưởng lầm Độ Nguyên đã tinh thông bộ bảo điển nên đọc lại nhờ nhà sư kiểm chứng. Không ngờ Độ Nguyên thực ra không biết gì hết, nhưng cũng bị cuốn hút bởi bộ sách nên dụng tâm ghi nhớ, đêm về chép lại vào trong áo cà sa, sau đó hoàn tục trở thành Lâm Viễn Đồ, phát triển những kiến thức về kiếm thuật từ Quỳ Hoa bảo điển thành Tịch tà kiếm pháp của họ Lâm nổi danh giang hồ.

Nguyên Mẫn Túc và Chu Tử Phong cùng nhau tu luyện Quỳ Hoa bảo điển, nhưng mâu thuẫn về việc triết giải sách đã tranh cãi, dẫn đến việc chia rẽ phái Hoa Sơn thành hai trường phái là Khí tông coi trọng việc rèn luyện nội công(Càn kinh?) (mà hậu duệ tiêu biểu sau này là Nhạc Bất Quần) và Kiếm tông lấy việc rèn luyện kiếm chiêu làm trung tâm(Khôn kinh?) (mà hậu duệ là Phong Bất Bình, Thành Bất Ưu...). Hậu quả của việc này là hai phái tranh chấp, dẫn đến chém giết lẫn nhau, chỉ có một mình Phong Thanh Dương vì không ham hố đấu đá nên thoát nạn. Kết cục của việc này là mười đại trưởng lão Nhật Nguyệt thần giáo kéo đến Hoa Sơn, cướp bộ sách Quỳ Hoa bảo điển về mình. Về sau, bộ sách truyền đến Đông Phương Bất Bại, là người duy nhất rèn luyện thành công bí kíp võ công này và trở thành cao thủ không ai địch nổi.

Cũng giống như Tịch tà kiếm pháp, muốn luyện Quỳ Hoa bảo điển phải vì thế Đông Phương Bất Bại cũng chung số phận với Lâm Bình ChiNhạc Bất Quần trở thành kẻ ái nam ái nữ. Đông Phương Bất Bại hàng ngày sống trong cung cấm như một hoàng hậu, ngồi thêu hoa, yêu một chàng trai là Dương Liên Đình, và đến chết vẫn cầu xin Nhậm Ngã Hành bảo vệ cho Dương Liên Đình. Đông Phương Bất Bại dành cả đời tu luyện Quỳ Hoa bảo điển nên có võ công phi phàm, không bị thất bại dưới Độc cô cửu kiếm của Lệnh Hồ Xung, trái lại còn làm cho bốn người là Nhậm Ngã Hành, Lệnh Hồ Xung, Nhậm Doanh DoanhHướng Vấn Thiên bị thương bằng kim thêu, cuối cùng chỉ chịu thất bại khi Nhậm Doanh Doanh khống chế Dương Liên Đình và khiến cho Đông Phương Bất Bại mất tập trung.

Sau khi Đông Phương Bất Bại chết, Nhậm Ngã Hành đã tiết lộ chính ông ta đã bẫy Đông Phương Bất Bại bằng bộ sách này, và đã phá hủy cuốn sách, và Quỳ Hoa bảo điển hoàn toàn mất tích trên đời.

Song Thủ Hỗ Bác[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Chu Bá Thông, trong động trên đảo Ðào Hoa mười lăm năm khổ cái không có ai để chiết chiêu, mới nghĩ ra lối Song Thủ Hỗ Bác này để chơi đùa lấy tay trái đánh nhau với tay phải, tay trái vẽ hình vuông, tay phải vẽ hình tròn, lòng có thể dùng vào hai việc.

Chu Bá Thông truyền cho Quách Tĩnh lối Song Thủ Hỗ Bác để chơi trò bốn người đánh nhau: Tay trái Chu Bá Thông là một người, tay phải Chu Bá Thông là một người, hai tay Quách Tĩnh cũng là hai người, bốn người này không ai giúp ai, chia thành bốn phe đánh nhau một trận.

Theo Chu Bá Thông, võ công của y vẫn kém Hoàng Dược Sư, Hồng Thất Công, Âu Dương Phong một bậc, nhưng đã luyện thành công phu Song Thủ Hỗ Bác, phân thân giáp kích, lấy hai đánh một thì thiên hạ không còn ai thắng được y nữa.

Tảo Diệp Thoái Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Tảo Diệp Thoái Pháp của đảo Đào Hoa, bước chân mau lẹ, đặt xuống rất chuẩn.

Dùng Tảo Diệp Thoái Pháp đá tắt đèn dầu, chỉ đá tắt đầu ngọn lửa, không những không đá đổ đạp vỡ chén dầu mà ngay cả dầu trong chén cũng không đổ ra một giọt. Lục Thừa Phong luyện công phu này dù hai chân đã què nhiều năm cũng có thể đứng lên đi lại được.

Thái Tổ Trường Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền bộ Thái Tổ Trường Quyền do Tống Thái Tổ sáng tạo ra, cùng với bộ Thái Tổ Côn Pháp đánh khắp thiên hạ không có đối thủ, sau lập ra được nhà Tống. Bộ quyền pháp này được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, người học võ ai cũng biết.

Trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Kiều Phong lúc ở Tụ Hiền trang đã dùng bộ quyền pháp để đấu với anh hùng thiên hạ. Bộ quyền pháp này tuy chiêu thức đơn giản nhưng dưới tay Kiều Phong đánh ra thì oai lực vô cùng, đánh lui nhiều vị cao thủ. Bộ quyền pháp này do Huyền Khổ đại sư chùa Thiếu Lâm truyền cho Kiều Phong.

Thấu Cốt Đả Huyệt Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Thấu Cốt Đả Huyệt Pháp là môn công phu điểm huyệt rất âm độc. Ngoài Tây Độc Âu Dương PhongĐông Tà Hoàng Dược Sư thì thiên hạ không ai giải huyệt được.

Thiên Cang Bắc Đẩu Trận[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Thiên Cang Bắc Đẩu Trận là công phu huyền môn bậc nhất của phái Toàn Chân, bảy người ngồi theo hình thể chòm sao Bắc Đẩu.

Trung Thần Thông Vương Trùng Dương vì trận pháp này tốn rất nhiều tâm huyết, sức yếu lấy nó để liên thủ hợp kích thì cũng hóa thành mạnh, có thể dùng trong chiến trận. Lúc nghênh địch chỉ đánh một tay, một tay đặt lên vai người bên cạnh. Công lực của bảy người hợp lại làm một.Mấy người xông vào tấn công thì người bị tấn công trước mặt không cần ra sức đỡ gạt, mà do đồng đạo hai bên phản công, như một người gồm được cả võ công của mấy người, quả thật oai lực không sao chống được.

Trong Toàn Chân Thất Tử thì Mã Ngọc ngồi chỗ sao Thiên Khu, Đàm Xử Huyền ngồi chỗ sao Thiên Toàn, Lưu Xử Huyền ngồi chỗ sao Thiên Cơ, Khưu Xử Cơ ngồi chỗ sao Thiên Quyền, bốn người hợp thành lòng gáo.

Vương Xử Nhất ngồi chỗ sao Ngọc Hành, Hách Đại Thông ngồi chỗ sao Khai Dương, Tôn Bất Nhị ngồi chỗ sao Dao Quang, ba người hợp thành chuôi gáo.

Trong bảy sao Bắc Đẩu thì sao Thiên Quyền có độ sáng thấp nhất, lại là chỗ lòng gáo nối với chuôi gáo, rất là xung yếu, vì vậy do Khưu Xử Cơ võ công cao cường nhất trong thất tử trấn giữ.

Trong chuôi gáo thì sao Ngọc Hành làm chủ, nên lấy Vương Xử Nhất võ công đứng thứ hai đảm nhận.

Nhờ vào Trận Thiên Cang Bắc Đẩu, Toàn Chân Thất Tử đấu ngang sức với Đông Tà Hoàng Dược Sư.

Thất Tuyệt Châm [sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Anh Cô vốn tên là Lưu Anh, một quý phi trong cung Nam Đế Đoàn Hoàng gia nước Đại Lý.

Lưu quý phi gặp gỡ và có tình cảm với Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông sinh ra một đứa con.

Đứa bé bị Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận bang chủ Thiết Chưởng Bang ở Tương Giang đánh một đòn trí tử. Lưu quý phi ôm con Đoàn Hoàng gia cứu nhưng Đoàn hoàng gia không cứu vì ghen.

Thần Toán Tử Anh Cô muốn trả thù, biết rõ công phu Nhất Dương Chỉ trên ngón tay của Nam Đế Đoàn Hoàng gia rất lợi hại, nên cố sức suy nghĩ tìm cách khắc chế. Anh Cô trong nghề thêu thùa bèn từ nữ công nghĩ ra diệu pháp, trên đầu ngón trỏ đeo một cái kim hoàn nhỏ, trên đầu kim hoàn có một mũi châm dài ba phân, trên châm tẩm chất độc, sau mấy năm khổ luyện, có thể đâm trúng con ruồi bay trên không, ngón tay bật ra mũi châm có thể xuyên qua người con ruồi. Lúc lâm địch, mũi châm của Anh Cô đầu tiên đả thương ngón tay trỏ (huyệt Thương Dương) của địch thủ. Đó là công phu Thất Tuyệt Châm trong thiên hạ không ai cứu được.

Thiết Chưởng Thần Công[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Thiết Chưởng Thần Công là công phu của Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận bang chủ Thiết Chưởng Bang ở Tương Giang.

Thiết Chưởng Thần Công gồm mười ba chiêu như Âm Dương Quy Nhất: Chưởng trái đập vào chưởng phải một cái, chưởng phải chênh chếch xô ra đánh thẳng vào địch nhân.

Tịch Tà Kiếm Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tịch Tà Kiếm Pháp (辟邪劍譜) là bí kíp kiếm thuật thượng thặng trong truyện Tiếu ngạo giang hồ. Tịch tà kiếm pháp có cùng nguồn gốc với Quỳ Hoa Bảo Điển, và là nguồn gốc của những tranh chấp trên giang hồ vào thời đại của câu chuyện Tiếu ngạo giang hồ. Tịch tà kiếm pháp là nguyên nhân trực tiếp của việc Dư Thương Hải(chưởng môn phái Thanh Thành) tàn sát cả dòng họ Lâm (mà hậu duệ duy nhất sống sót là Lâm Bình Chi).

Xuất xứ của Tịch tà kiếm pháp đến từ Quỳ Hoa bảo điển, mà chính từ những bí kíp này dẫn đến việc chia rẽ phái Hoa Sơn thành hai phái là Khí tông (trọng khí công) và Kiếm tông (trọng về kiếm chiêu). Từ bộ sách (gồm hai phần là Càn kinh và Khôn kinh) tạo ra bởi hai vợ chồng tiền nhân (tên người chồng có chữ Quỳ, tên người vợ có chữ Hoa), bí kíp này truyền đến Nam Thiếu Lâm, rồi lại được hai nhân vật của Hoa Sơn là Nguyên Mẫn Túc (ông tổ phe Khí tông) và Chu Tử Phong (ông tổ phe Kiếm tông) học lén. Khi họ trở lại Hoa Sơn, Nam Thiếu Lâm đã phái Độ Nguyên thiền sư đến khuyên hai người không nên học bí kíp này. Khi Độ Nguyên đến Hoa Sơn, cả ba đã cùng nhau đọc và vô tình lại bị hấp dẫn bởi bộ sách này, dẫn đến việc Độ Nguyên xin ra khỏi Nam Thiếu Lâm, hoàn tục lấy vợ.

Sau khi Độ Nguyên hoàn tục đã lấy tục danh cũ là Lâm Viễn Đồ, lập ra Phúc Oai tiêu cục, đồng thời tiến hành tập luyện các bí kíp mà mình đã học được từ bộ sách Quỳ-Hoa ở Hoa Sơn. Ông chỉ phát triển các kỹ năng kiếm pháp và phát triển thành Tịch tà kiếm pháp có 72 đường kiếm, và trở thành một trong những kiếm thủ xuất chúng. Một trong những đối thủ bị Lâm Viễn Đồ đánh bại là Trương Thanh Tử, chưởng môn phái Thanh Thành, người được xem là một trong những cao thủ đệ nhất khi đó. Từ đó, Tịch tà kiếm phổ nổi danh giang hồ khiến nhiều nhân vật giang hồ thèm khát, và chính là nguồn gốc của những tranh đoạt sau này. Hậu duệ của Lâm Viễn Đồ là gia đình Lâm Chấn Nam là những người trực tiếp chịu họa từ những tranh chấp này với việc toàn thể tiêu cục bị sát hại bởi Dư Thương Hải.

Theo lời của Lâm Bình Chi, yếu quyết đầu tiên của Tịch tà kiếm pháp là "Võ lâm xưng hùng, dẫn đao tự cung" có nghĩa là muốn luyện Tịch tà kiếm pháp thì đầu tiên phải tự thiến đi bộ phận sinh dục của mình. Bởi vì nếu không thiến, khi luyện nội công Tịch tà kiếm pháp, lửa dục sẽ thiêu đốt ruột gan thành "tẩu hỏa nhập ma" ngay lập tức khiến người ta cứng đờ ra mà chết. Hai người trực tiếp luyện Tịch tà kiếm pháp là Lâm Bình ChiNhạc Bất Quần đều phải làm vậy mới có thể luyện được và đã trở thành những kẻ ái nam ái nữ. Trong quá khứ, Lâm Viễn Đồ biết điều nay nên đã lập gia đình, có vợ con rồi mới luyện tập để không triệt đi nòi giống của mình. Cuối đời, hiểu tác hại của Tịch tà kiếm pháp, Lâm Viễn Đồ đã chép Tịch tà kiếm pháp vào áo cà sa trên Phật đường của dòng họ và di chúc cho con cháu không được mở ra xem. Lời di chúc này dù Lâm Bình Chi biết (nhờ cha mẹ anh ta truyền qua Lệnh Hồ Xung) nhưng vì để trả thù cho cả nhà, Lâm Bình Chi vẫn quyết ý luyện.

Giang hồ cho rằng khi luyện Tịch tà kiếm pháp họ sẽ thành kiếm thủ vô địch, bất khả chiến bại. Nhưng trên thực tế, cả hai người luyện Tịch tà kiếm pháp thành thục là Lâm Bình ChiNhạc Bất Quần đều bị Lệnh Hồ Xung dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại bằng việc tìm ra sơ hở của quá trình biến chiêu thức.

Một số chiêu thức trong Tịch tà kiếm pháp xuất hiện trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ: Tảo đãng quần ma, Lưu tinh phi trụy, Hoa khai kiến phật, Giang thượng lộng địch, Tử khí đông lai, Quần tà tịch địch và Phô quỳ quyết mục,..

Tiên Thiên Công[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, lần luận kiếm ở Hoa Sơn, Trung Thần Thông Trùng Dương Chân Nhân rất khâm phục Nhất Dương Chỉ của Đoàn Hoàng Gia.

Khi bệnh cũ lại phát, Vương Trùng Dương nghĩ mình chắc không còn sống lâu nên tới Đại Lý, chủ yếu là để truyền lại công phu lợi hại nhất của ông ta là Tiên Thiên Công cho Nam Đế Đoàn Hoàng Gia.

Như thế, Đoàn Hoàng Gia với thần công Nhất Dương Chỉ của hoàng gia và Tiên Thiên Công Trùng Dương Chân Nhân có thể khắc chế Tây Độc Âu Dương Phong, không sợ y hoành hành tác quái nữa.

Chỉ vì Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc CáiTrung Thần Thông, năm người danh tiếng ngang nhau, nếu nói là tới truyền thụ công phu thì không khỏi có chỗ bất kính với Đoàn Hoàng Gia, nên trước tiên xin Đoàn Hoàng Gia truyền thụ Nhất Dương Chỉ rồi mới đem Tiên Thiên Công ra trao đổi.

Đoàn Hoàng Gia hiểu dụng ý của y, trong lòng rất kính trọng, lập tức chuyên tâm tu luyện Tiên Thiên Công. 

Tiêu Dao Du[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, ba mươi sáu chiêu quyền pháp Tiêu Dao Du là công phu Bắc Cái Hồng Thất Công luyện thời trẻ.

Tiểu Vô Tướng Công[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu Vô Tướng Công là phái Tiêu Dao võ học cơ bản nội công. Mộn nội công này phối hợp Lăng Ba Vi Bộ cùng một chỗ luyện tập có thể học cấp tốc. Tiểu Vô Tướng Công là Lý Thu Thủy tuyệt kỹ uy lực mạnh mẽ. Tiểu Vô Tướng Công mặc dù là Đạo giáo võ học nhưng có đặc điểm là dựa vào thuyết Vô Sắc Vô Tướng của Phật giáo. Nếu luyện công này chỉ cần biết chiêu thức có thể dựa nào nội công của mình mà bắt chước người khác tuyệt học mà không có người nào biết được thậm chí uy lực còn mạnh hơn nguyên bản. Ở phương diện này biểu hiện rõ ràng nhất là Cưu Ma Trí dựa vào Tiểu Vô Tướng Công bắt chước Thiếu Lâm 72 tuyệt kỹ với uy lực mạnh hơn cao tăng Thiếu Lâm mà không ai phát hiện được.

Toàn Chân Kiếm Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Toàn Chân Kiếm Pháp là kiếm pháp phái Toàn Chân biến hóa tinh diệu.

Tồi Tâm Chưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Tồi Tâm Chưởng là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh. Nổi danh nhất với võ công này là Hắc Phong Song Sát, Đồng Thi Trần Huyền Phong và Thiết Thi Mai Siêu Phong, 2 trong 6 đệ tử ban đầu của Đông Tà Hoàng Dược Sư.

Trường Quyền Thập Đoạn Cầm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Bích huyết kiếm, Bát Thủ Tiên Viên Mục Nhân Thanh dạy môn Trường Quyền Thập Đoạn Cầm của phái Hoa Sơn cho Viên Thừa Chí.

Viên Lao Sơn Tam Thập Lục Kiếm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, người thư sinh trong Ngư Tiều Canh Độc, đệ tử của Nam Đế Đoàn Hoàng Gia, sử dụng Viên Lao Sơn Tam Thập Lục Kiếm.

Ở Vân Nam, Viên Lao Sơn Tam Thập Lục Kiếm được gọi là lợi hại bậc nhất trong kiếm pháp, trên sáu kiếm, dưới sáu kiếm, trước sáu kiếm, sau sáu kiếm, trái sáu kiếm, phải sáu kiếm, sáu sáu ba mươi sáu kiếm.

Việt Nữ Kiếm Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ, Ngô Việt đánh nhau, Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật nghĩ cách diệt nước Ngô.

Nhưng thủ hạ của Ngô vương có đại tướng Ngũ Tử Tư học được binh pháp của Tôn Tử, huấn luyện sĩ tốt vô cùng tinh nhuệ.

Câu Tiễn thấy quân mình võ nghệ không bằng đối phương, phiền muộn không vui. Một hôm chợt có một thiếu nữ xinh đẹp tới nước Việt, kiếm thuật vô cùng tinh diệu. Câu Tiễn cả mừng, mời nàng về dạy kiếm pháp cho quân Việt, cuối cùng dùng đó diệt nước Ngô. Gia Hưng là nơi giáp giới Ngô Việt ngày trước, hai nước đánh nhau đều lấy đó làm chiến trường, bộ Việt Nữ Kiếm Pháp này cũng từ đó lưu truyền ra thiên hạ. Chỉ là kiếm pháp mà cô gái dạy cho quân Việt ngày trước nhằm quyết thắng trên chiến trường nên chỉ chú trọng vào việc chém tướng đâm ngựa, chứ dùng để giao đấu với danh gia võ thuật trên giang hồ thì không đủ phần linh động mau lẹ.

Đến cuối thời Đường, ở Gia Hưng xuất hiện một danh gia kiếm thuật, y dựa vào yếu chỉ của kiếm pháp thời cổ mà đổi mới, trong chỗ lợi hại lại ẩn giấu thêm nhiều biến hóa phức tạp.

Theo truyện Anh Hùng Xạ Điêu, Hàn Tiểu Oanh, một trong Giang Nam Thất Quái, theo sư phụ học được lộ kiếm pháp ấy, tuy chưa thật tinh thông nhưng kiếm chiêu cũng đã bất phàm, cái ngoại hiệu Việt Nữ Kiếm của nàng là nhờ kiếm pháp mà được.

Xà Hành Ly Phiên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Anh Hùng Xạ Điêu, Xà Hành Ly Phiên là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh, đây là một môn thân pháp dùng để tránh né võ công. Môn võ công này dựa theo cách di chuyển của loài rắn mà sáng tạo ra, tuy nhiên khi dùng bộ thân pháp này phải lăn lộn vòng vòng trên mặt đất rất ảnh hưởng tới hình tượng nhưng vô cùng thực dụng.