CNBLUE

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ C.N. Blue)
Bước tới: menu, tìm kiếm
CNBLUE
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại Indie Rock
Năm 2009-nay
Hãng đĩa AI Entertainment (Nhật Bản)
F&C Music (Hàn Quốc)
Website Official site
Thành viên hiện tại
Lee Jong Hyun
Jung Yong Hwa
Lee Jung Shin
Kang Min Hyuk
Thành viên cũ
Kwon Kwang Jin

CNBLUE (Tiếng Hàn: 씨엔블루), (viết tắt của Code Name Blue), là một nhóm nhạc Indie Rock đến từ Đại Hàn Dân Quốc, ra mắt vào ngày 19 tháng 8 năm 2009 tại Nhật Bản với Mini-Album đầu tiên, Now or Never. CNBLUE luôn được coi là "F.T Island thứ hai" do cùng chung công ty quản lí với nhóm nhạc F.T Island thuộc công ty FNC Music. Tuy nhiên sự khác biệt về phong cách và âm nhạc đã khẳng định cái tên CNBLUE. CNBLUE phát hành bốn Teaster Video cho Mini-Album đầu tiên của họ tại Hàn Quốc, "Bluetory". Mỗi thành viên trong nhóm xuất hiện lần lượt trong Teaser Video của mình vào các ngày 6, 8, 11 và 13 tháng 1 năm 2010 theo thứ tự: Jonghyun, Minhyuk, Jungshin và cuối cùng là Yong Hwa. Vào ngày 12 tháng 1 năm 2010, Music Video của ca khúc chủ đề Album mang tên I'm A Loner đã được phát hành.

Quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

2009: Ra mắt tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoảng tháng 6 năm 2009, CNBLUE bắt đầu thực hiện các buổi diễn trên đường phố và biểu diễn tại các câu lạc bộ tại Nhật Bản. Họ xuất hiện chính thức với tư cách là một nhóm nhạc Indie Rock tại Nhật Bản với tất cả những ca khúc tiếng Anh từ Mini-Album đầu tiên mang tên "Now or Never. Mini-Album được phát hành vào ngày 19 tháng 8 năm 2009. Cuối tháng 9, tay bass Kwon Jin Kwang rời khỏi nhóm và được thay thế bằng tay bass hiện tại Lee Jung Shin. Vào ngày 25 tháng 11 năm 2009, CNBLUE phát hành Mini-Album thứ hai tại Nhật Bản mang tên "Voice. Ca khúc chủ đề của Album được thu âm bằng tiếng Nhật trong khi các ca khúc còn lại hoàn toàn bằng tiếng Anh.

2010: Ra mắt và sự nghiệp âm nhạc tại Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Một thông tin đã được tiết lộ vào tháng 1 rằng, CNBLUE sẽ ra mắt chính thức tại Đại Hàn Dân Quốc với Mini-Album đầu tiên mang tên "Bluetory, sẽ được phát hành vào ngày 14 tháng 1 năm 2010. Sau đó, một nguồn tin nữa cũng đã cho biết Teaser Video của Album sẽ được phát hành vào những ngày khác nhau. Vào ngày 7 tháng 1 (Theo giờ Hàn Quốc), một đoạn Teaser Video đã được phát hành trên trang Web chính thức của nhóm, bắt đầu với Lee Jong Hyun. Teaster Video của người chơi trống Kang Minhyuk cũng được phát hành vào ngày 8 tháng 1. Ngày 11 và ngày 13 tháng 1, Teaser Video của Jungshin và Yonghwa cũng lần lượt lên sóng.

Một ngày trước khi ra mắt chính thức, CNBLUE đã tổ chức Showcase đầu tiên của nhóm tại Hàn Quốc, với sự ủng hộ nhiệt tình của một đội ngũ fan hâm mộ rất lớn. Vào ngày 14 tháng 1, nhóm phát hành Mini-Album đầu tiên tại Hàn Quốc và ngay lập tức, Album này đã giành được vị trí #1 trên bảng xếp hạng Mnet Real Time và vị trí #2 trên bảng xếp hạng Hanteo. CNBLUE là nhóm nhạc mới duy nhất làm được điều đó vào năm 2010, đánh bại hai nhóm nhạc mới ZE:AF. Cuz. CNBLUE biểu diễn lần đầu tiên tại chương trình Music Bank của đài KBS vào ngày 15 tháng 1. Nhóm đã giành vị trí #1 trên tất cả các bảng xếp hạng doanh số tiêu thụ Album và bảng xếp hạng âm nhạc trong 5 ngày ra mắt đầu tiên.

Trong chương trình Music Bank vào ngày 29 tháng 1, C.N.Blue đã giành vị trí #1 trên bảng xếp hạng K-Chart với tổng số điểm là 11.956. Sau đó, nhóm cũng giành giải thưởng Mutizen đầu tiên trên chương trình Inkigayo của đài SBS vào ngày 31 tháng 1.

Trong tháng 3, ban nhạc chuẩn bị cho album "Thank U" của họ tại Nhật Bản. Nó được phát hành vào ngày 20 tháng 3 năm 2010 với 2 bài hát mới.

Vào tháng 4, tên gọi chính thức của câu lạc bộ fan hâm mộ của CNBLUE đã được đặt là BOICE. BOICE là sự kết hợp giữa Blue và Voice.

Đầu tháng 5, FNC Music thông báo rằng CNBLUE sẽ nhanh chóng trở lại sân khấu âm nhạc với Mini - Album thứ hai của họ vào ngày 19 tháng 5 năm 2010. Mini - Album mang tên Bluelove và có một ca khúc do Yonghwa sáng tác, ca khúc "Love light". Một thời gian sau, CNBLUE đã phát hành Teaser Video cho ca khúc chủ đề của Mini - Album mang tên "LOVE". CNBLUE đã có sân khấu trở lại rất đặc biệt tại chương trình M! Countdown vào ngày 20 tháng 5. Ca khúc chủ đề của Album, "LOVE", đã nhanh chóng dành vị trí đứng đầu trên nhiều bảng xếp hạng âm nhạc khác nhau

Sau thành công ở Hàn Quốc, họ đã quay lại Nhật Bản và phát hành đĩa đơn đầu tiên "The Way" vào ngày 23 tháng 6. Lần đầu tiên họ đứng thứ 26 trên bảng xếp hạng Orion của Nhật. Bài hát "I don't know why" chiếm vị trí thứ 8 trên bảng xếp hạng Orion hàng ngày vào ngày 16 tháng 9. Trên bảng xếp hạng hàng tuần họ vươn tới vị trí 15. Trên bảng xếp hạng Japanese indie, họ đã đứng đầu.

Lee Jong Hyun và Kang Min Hyuk thành viên của ban nhạc đã đóng vai chính trong phim "Acoustic" họ đã phát hành bài hát "High Fly" vào ngày 7 tháng 10.

2012: thành công rực rỡ của CNBLUE[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với CNBLUE, 2012 là một năm thành công. Ngay từ khi bước chân vào giới âm nhạc, 4 chàng trai đã đặt mục tiêu chinh phục thế giới bằng tài năng và âm nhạc độc đáo của mình. Kết thúc một năm 2012 hoạt động không mệt mỏi, CNBLUE đã có thể đường hoàng bước chân vào hàng ngũ những ngôi sao quốc tế, trở thành một trong số ít các nghệ sỹ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên nhiều "mặt trận" và tiếp tục phấn đấu để gặt hái những thành công mới.

Ngày 31/1 năm nay, CNBLUE xuất hiện trên MTV Unplugged. Đây là chương trình ca nhạc giúp nghệ sỹ gần gũi với fan hơn qua những sân khấu live thân mật và CNBLUE vinh dự trở thành nghệ sỹ Hàn đầu tiên được giới thiệu trong chương trình. Với một nhóm chỉ mới lên sàn 3 năm, đó hoàn toàn không phải là một thành tích nhỏ.

Đến tháng 2, Where You Are ra lò, như một cách thể hiện sự mạnh mẽ và cá tính của các chàng trai. Single mang hơi hướng Rock phù hợp với tâm trạng của "tuổi trưởng thành" mà CNBLUE muốn bày tỏ với fan. Hai ca khúc Where You Are và Feeling do Jung Yong Hwa sáng tác, còn Get Away là tác phẩm của Lee Jong Hyun. Chỉ trong tuần lễ đầu tiên, single đã bán được hơn 60.000 bản, đoạt No.1 Oricon Weekly Singles Chart. Đây lại là một thành công đáng ghi nhận của nhóm nhạc còn non trẻ nhưng đã có thể thiết lập một kỷ lục mới.

Tháng 3, CNBLUE lần đầu đặt chân đến Mỹ và bắt tay với đồng nghiệp F.T. Island để cùng xâm nhập vào giới âm nhạc phương Tây qua concert Stand Up tại Los Angeles. Là sân khấu Mỹ đầu tiên của cả 2 nhóm, Stand Up đánh dấu bước tiến mang tầm quốc tế cũng như góp phần tăng cường mối liên kết giữa CNBLUE với cộng đồng fan ở xứ cờ hoa.

Ngày 5/5, CNBLUE tổ chức buổi họp mặt fan Hàn đầu tiên, The Story of You and I tại Đại học Yeonsei thu hút hàng trăm fan tham dự. Qua buổi họp mặt chân thành này, các chàng trai bày tỏ tình yêu và lòng biết ơn đối với những khán giả đã nhiệt tình ủng hộ CNBLUE, kèm theo một lời hứa: "Chúng tôi sẽ tiếp tục đi cùng nhau trong 50, 60 năm tới".

2012, cả Lee Jong Hyun và Lee Jung Shin đều đã chính thức bước chân vào nghiệp diễn viên với vai diễn đầu tay trong A Gentleman's Dignity và My Daughter Seo Yeong. Còn Jung Yong Hwa cũng đã bắt đầu thử sức trong lĩnh vực sản xuất nhạc, bên cạnh việc sáng tác riêng cho CNBLUE. Single phát hành ngày 7/6 của đàn em Juniel, Fool có sự đóng góp rất lớn của Jung Yong Hwa với vai trò song ca và sản xuất. Ca khúc này cũng xuất hiện trong mini album đầu tiên của Juniel - My First June, góp phần đưa tên tuổi cô đến gần hơn với khán giả Hàn.

Ngày 29/8, CNBLUE phát hành album dài bằng tiếng Nhật, Code Name Blue nhanh chóng leo lên vị trí đầu bảng Oricon trong 2 tuần liên tiếp. Với 11 trong số 13 ca khúc được sáng tác bởi tay guitar Lee Jong Hyun và giọng ca chính Jung Yong Hwa, thành công của Code Name Blue một lần nữa khẳng định CNBLUE là một ban nhạc có khả năng tự viết hit cho riêng mình.

Ngày 21/9, CNBLUE có thêm một concert quốc tế nữa, lần này là ở xứ sở sương mù. Concert solo đầu tiên của nhóm tại đất Anh với tên gọi CNBLUE, Live in London đã thu hút hơn 5.000 fan châu Âu tham dự. Giống như Stand Up, sự kiện này cũng là minh chứng cho một bước tiến thành công nữa của CNBLUE trên con đường vươn tới vị trí ngôi sao thế giới mà các chàng trai vẫn hằng mơ.

CNBLUE cùng với những nhóm nhạc hàng đầu Kpop đến Nam Mỹ để góp mặt trong tour Music Bank En Chile. Đây là lần đầu tiên CNBLUE đến Nam Mỹ và là lần thứ hai các chàng trai tham gia Music Bank World Tour. Concert đã diễn ra hôm 2/11 ở Quinta Vergara, Viña del Mar, Chile và thành công tốt đẹp.

Timeline[sửa | sửa mã nguồn]

2009[sửa | sửa mã nguồn]

  • 14.08.09 Tên của nhóm chính thức được quyết định– Code Name Blue [CNBLUE]
  • 19.08.09 Phát hành Mini-Album “Now or Never” [Tại Nhật]
  • 14 – 15.11.09 CNBLUE tham gia concert “ Men Stories” của FT Island với tư cách khách mời.[Tại Hàn Quốc]
  • 25.11.09 Phát hành Mini Album “Voice [Tại Nhật]
  • 28.12.09 Buổi diễn live cuối cùng của CNBLUE tại Nhật

2010[sửa | sửa mã nguồn]

  • 14.01.10 Phát hành Mini Album Bluetory [Tại Hàn]
  • 14.01.10 Biểu diễn debut
  • 15.01.10 Debut trên sân khấu KBS Music Bank
  • 29.01.10 “I’m a loner” lần đầu tiên giành vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng tại KBS Music Bank
  • 31.01.10 Giành giải Mutizen Award - I'm a Loner tại SBS Inkigayo
  • 23.02.10 Đứng đầu trên bảng xếp hạng GaON với 외톨이야 (I'm A loner)
  • 20.03.10 Phát hành album ThankU [Tại Nhật]
  • 24.04.10 Chính thức thông báo tên Fan Club của C.N.Blue - Boice (kết hợp giữa Blue và Voice - Đọc là Voice)
  • 19.05.10 Phát hành Album BlueLove [Tại Hàn]
  • 10.06.10 No1 Tại Mnet Countdown với LOVE
  • 20.06.10 Thắng giải mutizen award tại Inkigayo với LOVE
  • 23.06.10 Phát Hành Single đầu tay 'The Way' [Tại Nhật]
  • 24.06.10 #11 tại Oricon’s Daily Charts với 'The way' ngay sau khi phát hành 1 ngày
  • 01.07.10 No 1 tại Mnet Countdown lần thứ hai với LOVE
  • 04.07.10 Thắng mutizen award tại Inkigayo với LOVE
  • 14.07.10 Phát hành khăn cổ vũ CNBLUE - BLISH (BLUE + STYLISH)
  • 31.07.10 Live Concert đầu tiên của CNBLUE tại Hàn - 'Listen to the CN Blue'
  • 16.09.10 Phát hành Single thứ 2 tại Nhật "I don't know why"
  • 17.09.10 "I don't know why" #8 tại Oricon’s daily single chart
  • 17.11.10 Đoạt giải New Style Icon Awards @Style Icon Awards
  • 28.10.10 Công chiếu Acoustic (Min Hyuk & Jong Hyun tham gia đóng)
  • 28.11.10 @2010 MAMA: Best New Male Artist & Best Band Perfomance
  • 09.12.10 Digital Bonsang Award @ 2010 Golden Disc Awards(골든디스크 시상식)
  • 18.12.10 Concert thứ 2 của CNBLUE tại Hàn 'Feel The Blue'

2011[sửa | sửa mã nguồn]

  • 09.01.11 Phát hành Single thứ 3 tại Nhật「RE-MAINTENANCE」
  • 09.01.11 Bắt đầu tour diễn "Zepp Concert Tour" tại Nhật
  • 10.01.11 Single 「RE-MAINTENANCE」đạt vị trí thứ 2 trên "Oricon Daily Chart"
  • 14.01.11 Phát hành Single riêng của Yong-hwa "Song For First-time Lovers"
  • 20.01.11 Đoạt giải Rookie xuất sắc @20th Seoul Music Awards
  • 21.03.11 Phát hành 1st Album "First Step" tại Hàn

Danh sách Album[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Album

STT Thông tin Single Danh sách ca khúc
1 Thank u (Album Vol.1)
  • Ngày phát hành: Ngày 20 tháng 3 năm 2010
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh, Tiếng Nhật
  1. Intro
  2. Let’s Go Crazy
  3. Love Revolution
  4. Wanna be Like U
  5. Never too late
  6. Now or Never
  7. voice
  8. Just Please
  9. Y, Why
  10. Teardrops in the Rain
  11. One of a Kind
  12. a.ri.ga.tou.

Mini-Album

STT Thông tin Single Danh sách ca khúc
1 Now or Never (Mini-Album Vol.1)
  • Ngày phát hành: Ngày 19 tháng 8 năm 2009
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh
  1. "Now or Never"
  2. "Let's Go Crazy"
  3. "Love Revolution"
  4. "Just Please"
  5. "Teardrops in the Rain"
-
2

Voice (Mini-Album Vol.2)

  • Ngày phát hành: Ngày 25 tháng 11 năm 2009
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh, Tiếng Nhật
  1. "Voice"
  2. "Wanna Be Like U"
  3. "Never too Late"
  4. "Y, Why..."
  5. "One of a Kind"

Single

STT Thông tin Single Danh sách ca khúc
1 The way - 1st Japanese Single
  • Phát hành: 23.06.10
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh & tiếng Nhật
  1. "One Time" (sáng tác Yonghwa)
  2. "Ready N Go" (viết lời Yonghwa)
  3. "Eclipse" (sáng tácJonghyun)
  4. "The Way -One Time- (Inst.)"
2 I don't know why - 2nd Japanese Single
  • Phát hành: 16.09.2010
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh & tiếng Nhật
  1. "I don’t know why"
  2. "Lie"
  3. "I don’t know why (Instrumental)"
  4. "Lie (Instrumental)"
3 「RE-MAINTENANCE」 - 3rd Japanese Single
  • Phát hành: 09.01.11
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh & tiếng Nhật
  1. "Don't say goodbye"
  2. "Try again, Smile again"
  3. "Kimio"
  4. "Try again, Smile again (Instrumental)"

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

1St-Album

Mini-Album

STT Thông tin 1St-Album Danh sách ca khúc
1 First Step (1St-Album Vol.1)
  • Ngày phát hành: Ngày 21 tháng 3 năm 2011
  • Nhà xuất bản:Mnet Media
  • Ngôn ngữ: Tiếng Hàn
  1. 외톨이야 ("Intuition") [Ca khúc chủ đề]
  2. "Love Girl"
  3. "I don't known why:
  4. "Image"
  5. "Love In The Rain"
  6. "Lie"
  7. "One Time"
  8. "Just Please"
  9. "Wanna Be Like U"
  10. "Ready N Go"
  11. "Thank You"
  12. "One Of The Kind"
STT Thông tin Mini-Album Danh sách ca khúc
1 Bluetory (Mini-Album Vol.1)
  • Ngày phát hành: Ngày 14 tháng 1 năm 2010
  • Nhà xuất bản: Mnet Media
  • Ngôn ngữ: Tiếng Hàn
  1. 외톨이야 ("I'm a Loner") [Ca khúc chủ đề]
  2. "Love Revolution
  3. Y, Why..."
  4. "Now or Never"
  5. 그럴 겁니다… 잊을 겁니다… ("I Will...Forget You...")
2 Bluelove (Mini-Album Vol.2)
  • Ngày phát hành: Ngày 19 tháng 5 năm 2010
  • Nhà xuất bản: Mnet Media
  • Ngôn ngữ: Tiếng Hàn
  • Đĩa đơn: 사랑 빛 ("Love Light")
  1. LOVE [Ca khúc chủ đề]
  2. Sweet Holiday
  3. Black Flower
  4. Tattoo
  5. 사랑 빛 ("Love Light")
  6. Let's Go crazy

Single

STT Thông tin Single Danh sách ca khúc
1 For first-time lover
  • Ngày phát hành: Ngày 14 tháng 1 năm 2011
  • Ngôn ngữ: Tiếng Hàn
  • Single riêng của Jung Yong Hwa
  1. " 처음 사랑하는 연인들을 위해 (반말송) " [For first-time lover (Banmal song)]
  2. For first-time lover (Banmal song) (Inst)

Một số hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bắt đầu từ tháng 1 năm 2010, C.N.Blue sẽ xuất hiện trong chương trình "Making the Artist" (5 Ep) của GomTV
  • Chương trình truyền hình thực tế của C.N.Blue mang tên "CNBLUETORY" (5 Ep) sẽ được lên sóng vào ngày 10 tháng 2 năm 2010 trên kênh Mnet

Hình ảnh đại diện[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2010: Skool Looks
  • 2010: Sony Ericsson Xperia (X10)
  • 2010: Holika Holika
  • 2010: NII
  • 2010: Suit House (Jung Yong-hwa)
  • 2011: Suit House (Jung Yong-hwa)
  • 2011: Holika Holika
  • 2011: Bang Bang
  • 2011: Hazzys Phụ kiện (Jung Yong Hwa)
  • 2011: Scotch Puree
  • 2012: CJ Olive Young
  • 2012: Bang Bang
  • 2012: TGI tuần
  • 2012: Samsung Galaxy Note 10,1
  • 2013: Bang Bang
  • 2013: Prospecs W

Concert and tour[sửa | sửa mã nguồn]

2010[sửa | sửa mã nguồn]

  • Listen to the CNBLUE - 1st Live Concert - AX Hall, Gwangjang-dong on 31 July
  • Listen to the CNBLUE Asia Tour

2011[sửa | sửa mã nguồn]

  • Japan Zepp Tour 2011 - "Re-maintenance"
  • Live Guerilla Concert "CNBLUE First Step" - 1st album released at Seoul Times Square

Japan 2nd Album Release Live "392" - Yokohama Arena

  • CNBLUE Winter Tour 2011 "Here, In My Head"
  • CNBLUE Asia Tour Concert "Blue Storm" (2011–2012)

2012[sửa | sửa mã nguồn]

  • CNBLUE Japan Fanclub Tour
  • F.T. Island & CNBLUE "Stand Up" by MLive in Los Angeles - Nokia Theater L.A. Live

CNBLUE in London - Indig02 @ The 02 Arena

  • CNBLUE Arena Tour 2012 – Come On - Japan: nine shows in six cities, with final show at Saitama Super Arena on 20 and 21 October[30]
  • CNBLUE Live: Blue Night in Seoul - SK Olympic Handball Gymnasium on 15 and 16 December

Biểu diễn live[sửa | sửa mã nguồn]

  • Biểu diễn khách tại FT Island Concert Stories Nam Seoul (2009)
  • CNBLUE Debut Showcase - Dệt may Trung tâm ở Samsung-dong, Seoul (2010)
  • CNBLUE Guerilla Concert - Seoul Hongdae (2010)
  • CNBLUE Street Live Performance - COEX, Seoul Plaza (2010)
  • Feel the CNBLUE - Hàn Quốc (2010)
  • Nhật Bản 1st Album phát hành Live "Thank U" (2010)
  • Nhật Bản 1st Album phát hành trực Encore-Cảm ơn đặc biệt (2010)
  • Nhật Bản 1st Single phát hành tổ chức sự kiện "The Way" (2010)
  • Nhật Bản phát hành single thứ 2 Tour Live "Listen to the CNBLUE" (2010)
  • Holika Holika trình bày bên Magic với CNBLUE tại Thái Lan (2011)
  • Linkin Park mở buổi hòa nhạc Nhật Bản - Makuhari Messe (2011)
  • Otodama Koyasai Live Lễ hội Nhật Bản (2011)
  • Nhật Bản 1 Major Debut Single "In My Head" tổ chức sự kiện phát hành (2011)
  • Nhật Bản chính đơn thứ 2 "Where You Are" Phát hành tổ chức sự kiện (2012)
  • Rockin'on present Coundown Nhật Bản - Makuhari Messe (2012)
  • Ontama Carnival 2012 - Yokohama Arena, Nhật Bản (2012)
  • MTV Unplugged - Billboard Live Tokyo (2012)
  • KBS Music Bank ở Chile - Quinta Vergara (2012)
  • "SBS Kpop Super Concert in American" với Kara, 4 Minute, Girls 'Genration, B2ST, 2NE1 & Sistar-Verizon Wireless Amphitheatre Irvine (2012)

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày sinh[1] và tuổi Vai trò[1]
Latinh hóa Hàn văn Hán tự
Jung Yong-hwa 정용화 鄭容和 22 tháng 6, 1989 (24 tuổi) Hát, ghita & Rap
Lee Jong-hyun 이종현 李宗泫 15 tháng 5, 1990 (23 tuổi) Ghita, hát
Kang Min-hyuk 강민혁 姜敏赫 28 tháng 6, 1991 (22 tuổi) Trống
Lee Jung-shin 이정신 李正信 15 tháng 9, 1991 (22 tuổi) Bass, rap
Cựu thành viên
Kwon Kwang-jin 권광진 權光珍 12 tháng 8, 1992 (21 tuổi) Bass

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “CNBLUE Profile”. FNC Entertainment. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]