Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ CHND Trung Hoa)
Bước tới: menu, tìm kiếm
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
  • 中华人民共和国
  • Zhōnghuá Rénmín Gònghéguó
Flag of the People's Republic of China.svg National Emblem of the People's Republic of China.svg
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quản lý được thể hiện bằng màu đỏ
Quốc ca
Hành chính
Chính phủ xã hội chủ nghĩa độc đảng
Tổng Bí thư & Chủ tịch nước Tập Cận Bình
Thủ tướng Lý Khắc Cường
Uỷ viên trưởng UBTV Nhân đại Trương Đức Giang
Chủ tịch Chính hiệp Du Chính Thanh
Văn tự chính thức chữ Hán giản thể[1]
Ngôn ngữ chính thức tiếng phổ thông[1]
Thủ đô Bắc Kinh
39°55′B, 116°23′Đ
Thành phố lớn nhất Thượng Hải[2]
Địa lý
Diện tích 9.596.961 km² [a] (hạng 3/4)
Diện tích nước 0,28%[b] %
Múi giờ Thời gian chuẩn Trung Quốc (UTC+8)
Lịch sử
Hình thành
221 TCN Tần thống nhất Trung Hoa
1 tháng 1 năm 1912 Thành lập Dân Quốc
1 tháng 10 năm 1949 nước Cộng hòa Nhân dân được tuyên bố
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 1.350.695.000[6] người (hạng 1)
Dân số (2010) 1.339.724.852[7] người (hạng 1)
Mật độ ước tính 2011:[8] 144 người/km² (hạng 83)
Kinh tế
GDP (PPP) (2014) Tổng số: 17.632 tỷ $[9] (hạng 1)
Bình quân đầu người: 12.893 $[9]
GDP (danh nghĩa) (2014) Tổng số: 10.355 tỷ $[9] (hạng 2)
Bình quân đầu người: 7.572 $[9]
HDI (2013) 0,719[10] cao (hạng 91)
Hệ số Gini (2014) 55,0[11][12] (cao)
Đơn vị tiền tệ Nhân dân tệ(¥)[c] (CNY)
Thông tin khác
Tên miền Internet
Cách ghi ngày tháng
  • năm-tháng-ngày
  • hoặc nămthángngày
Lái xe bên phải[d]

Trung Quốc (tiếng Trung: 中国), tên chính thức là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là một quốc gia có chủ quyền nằm tại Đông Á. Đây là quốc gia đông dân cư nhất trên thế giới, với trên 1,35 tỷ. Trung Quốc là quốc gia độc đảng do Đảng Cộng sản cầm quyền, chính phủ trung ương đặt tại thủ đô Bắc Kinh.[13] Chính phủ Trung Quốc thi hành quyền tài phán tại 22 tỉnh, năm khu tự trị, bốn đô thị trực thuộc, và hai khu hành chính đặc biệtHồng KôngMa Cao. Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tuyên bố chủ quyền đối với các lãnh thổ nắm dưới sự quản lý của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), nhìn nhận Đài Loan là tỉnh thứ 23 của mình, yêu sách này gây tranh nghị do sự phức tạp của vị thế chính trị Đài Loan.[14]

Trung Quốc có diện tích khoảng 9,6 triệu km², là quốc gia có diện tích đất lớn thứ nhì trên thế giới,[15] và là quốc gia có tổng diện tích lớn thứ ba hoặc thứ tư trên thế giới, tùy theo phương pháp đo lường.[e] Cảnh quan của Trung Quốc quảng đại và đa dạng, biến đổi từ những thảo nguyên rừng cùng các sa mạc GobiTaklamakan ở phía bắc khô hạn đến các khu rừng cận nhiệt đới ở phía nam có mưa nhiều hơn. Các dãy núi Himalaya, Karakoram, PamirThiên Sơn phân tách Trung Quốc khỏi NamTrung Á. Trường GiangHoàng Hà lần lượt là sông dài thứ ba và thứ sáu trên thế giới, hai sông này bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng và chảy hướng về vùng bờ biển phía đông có dân cư đông đúc. Đường bờ biển của Trung Quốc dọc theo Thái Bình Dương và dài 14500 km, giáp với các biển: Bột Hải, Hoàng Hải, biển Hoa Đôngbiển Đông.

Lịch sử Trung Quốc bắt nguồn từ một trong những văn minh cổ nhất thế giới, văn minh này phát triển tại lưu vực phì nhiêu của Hoàng Hà tại bình nguyên Hoa Bắc. Trải qua hàng nghìn năm, hệ thống chính trị của Trung Quốc dựa trên các chế độ quân chủ kế tập, được gọi là triều đại, khởi đầu với triều đại Hạ bán thần thoại ở lưu vực Hoàng Hà. Từ năm 221 TCN, khi triều đại Tần chinh phục các quốc gia khác để hình thành một đế quốc Trung Hoa, quốc gia trải qua nhiều lần mở rộng, đứt đoạn và cải cách. Trung Hoa Dân Quốc lật đổ triều đại Thanh vào năm 1911, và thống trị Trung Quốc đại lục cho đến năm 1949. Sau khi Đế quốc Nhật Bản chiến bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Cộng sản đảng đánh bại Quốc dân đảng tại Trung Quốc đại lục, và thiết lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, trong khi đó Quốc dân đảng dời chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đến thủ đô hiện hành là Đài Bắc.

Trong hầu hết thời gian trong hai nghìn năm qua, kinh tế Trung Quốc lớn nhất và phức tạp nhất trên thế giới, với những chu kỳ hưng thịnh và suy thoái.[16][17] Kể từ khi tiến hành cải cách khai phóng vào năm 1978, Trung Quốc trở thành một trong các nền kinh kế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất. Năm 2013, kinh tế Trung Quốc lớn thứ hai theo tổng GDP danh nghĩa và sức mua tương đương (PPP), và cũng là nhà xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới.[18] Trung Quốc được công nhận là một quốc gia vũ khí hạt nhân và có quân đội thường trực lớn nhất thế giới, với ngân sách quốc phòng lớn thứ nhì.[19] Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1971, khi chính thể này thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong vị thế thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Trung Quốc cũng là thành viên của nhiều tổ chức đa phương chính thức và phi chính thức, trong đó có WTO, APEC, BRICS, SCO, và G-20. Trung Quốc là một cường quốc khu vực châu Á và được một số nhà bình luận mô tả là một siêu cường tiềm năng.[20][21]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tên gọi Trung Quốc
Tên gọi Trung Quốc bằng chữ Hán.

Quốc hiệu chính thức hiện nay của quốc gia là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tiếng Trung: 中华人民共和国; bính âm: Zhōnghuá Rénmín Gònghéguó; Hán-Việt: Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc). Tên gọi thông thường trong tiếng Trung là Trung Quốc (tiếng Trung: 中国; bính âm: Zhōngguó) và Trung Hoa (tiếng Trung: 中华; bính âm: Zhōnghuá).

Từ "Trung Quốc" xuất hiện sớm nhất trong "Thượng thư- Tử tài", viết rằng "Hoàng thiên kí phó trung quốc dân", phạm vi chỉ là khu vực Quan Trung-Hà Lạc vốn là nơi cư trú của người Chu. Đến thời Xuân Thu, nghĩa của "Trung Quốc" dần được mở rộng đến mức bao quát các nước chư hầu lớn nhỏ trong khu vực trung hạ du Hoàng Hà. Sau đó, cương vực các nước chư hầu mở rộng, phạm vi "Trung Quốc" không ngừng mở rộng ra tứ phía. Từ thời Hán trở đi, triều dã và văn nhân học sĩ có tập quán gọi vương triều Trung Nguyên do người Hán lập nên là "Trung Quốc". Do đó, các dân tộc phi Hán sau khi làm chủ Trung Nguyên cũng thường tự xem bản thân là "Trung Quốc", như triều đại Bắc Ngụy do người Tiên Ti kiến lập tự xưng là "Trung Quốc" và gọi Nam triều là "Đảo Di". Đồng thời kỳ, Nam triều do người Hán kiến lập tuy dời Trung Nguyên song vẫn tự xem bản thân là "Trung Quốc", gọi Bắc triều là "Tác Lỗ". KimNam Tống đều tự xưng là "Trung Quốc", không thừa nhận đối phương là "Trung Quốc". Do vậy, "Trung Quốc" còn bao gồm ý nghĩ về kế thừa văn hóa, và có chính thống. Tuy nhiên, trong suốt lịch sử, chưa có vương triều nào sử dụng "Trung Quốc" làm quốc danh chính thức. "Trung Quốc" trở thành quốc danh chính thức bắt đầu từ khi Trung Hoa Dân Quốc kiến lập vào năm 1912.[22]

Triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là Hạ, đương thời dân sống từ trước tại lưu vực trung hạ du Hoàng Hà tự xưng là "Hoa Hạ", hoặc giản xưng là "Hoa", "Hạ". Từ "Hoa Hạ" xuất hiện sớm nhất là trong "Tả truyện-Tương công nhị thập lục niên", ghi rằng "sở thất Hoa Hạ". Khổng Dĩnh Đạt thời Đường thì nói "Hoa Hạ vi Trung Quốc dã".[22] "Trung Hoa" là giản lược từ liên kết "Trung Quốc" và "Hoa Hạ", ban đầu chỉ khu vực rộng lớn ở lưu vực trung hạ du Hoàng Hà. "Xuân Thu cốc lương truyện" quyển 1 "Ẩn công chú sơ" có viết rằng "Tần nhân năng viễn mộ Trung Hoa quân tử". Sau này, phàm là thuộc khu vực quản lý của vương triều Trung Nguyên thì đều được gọi chung là "Trung Hoa", ý chỉ toàn quốc. Hàn Ốc thời Đường có câu "Trung Hoa địa hướng biên thành tẫn, ngoại quốc vân tòng đảo thượng lai", đối lập giữa "Trung Hoa" và ngoại quốc. Do vậy, "Trung Quốc" cũng có thể gọi là Trung Hoa, gọi tắt là "Hoa", người Hán cư trú tại hải ngoại có thể gọi là "Hoa kiều", nếu đã nhập quốc tịch nước khác thì có thể gọi là "Hoa nhân ngoại tịch".[22]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Trung Quốc

Tiền đế quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc quỹ thời Tây Chu (1046–771 TCN)

Bằng chứng khảo cổ học cho thấy rằng người nguyên thủy cư trú tại Trung Quốc từ 250.000 đến 2,24 triệu năm trước.[23] Một hang tại Chu Khẩu Điếm (gần Bắc Kinh ngày nay) có những hóa thạch của họ Người có niên đại từ 680.000 đến 780.000 TCN.[24] Các hóa thạch là người Bắc Kinh, một ví dụ của giống người đứng thẳng sử dụng lửa.[25] Trong di chỉ người Bắc Kinh cũng có những hài cốt của người thông minh có niên đại từ 18.000–11.000 TCN.[26] Một số học giả khẳng định rằng một hình thức chữ viết nguyên thủy tồn tại ở Trung Quốc ngay từ 3000 TCN.[27]

Theo truyền thuyết Trung Hoa, triều đại đầu tiên là Hạ, bắt đầu từ khoảng 2070 TCN.[28] Tuy nhiên, triều đại này bị các sử gia cho là thần thoại cho đến các khai quật khoa học phát hiện ra những di chỉ đầu thời kỳ đồ đồng tại Nhị Lý Đầu, Hà Nam vào năm 1959.[29] Vẫn chưa rõ về việc liệu các di chỉ này là tàn tích của triều Hạ hoặc của một văn hóa khác cùng thời kỳ.[30]

Triều đại đầu tiên để lại các ghi chép lịch sử là Thương với thể chế phong kiến lỏng lẻo,[31] dịnh cư dọc Hoàng Hà tại miền Đông Trung Quốc từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 11 TCN.[32] Giáp cốt văn của triều Thương tiêu biểu cho dạng chữ viết Trung Quốc cổ nhất từng được phát hiện,[33] và là tổ tiên trực tiếp của chữ Hán hiện đại.[34] Triều Thương bị triều Chu chinh phục vào thế kỷ 12 TCN. Quyền lực tập trung của triều Chu dần suy yếu trước các chư hầu phong kiến, nhiều quốc gia độc lập cuối cùng xuất hiện từ triều Chu và liên tục tiến hành chiến tranh với nhau trong thời kỳ Xuân Thu kéo dài 300 năm. Đến thời Chiến Quốc trong thế kỷ 5–3 TCN, quân chủ bảy quốc gia hùng mạnh đều xưng vương như thiên tử triều Chu.

Thời đế quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Chiến Quốc kết thúc vào năm 221 TCN, sau khi nước Tần chinh phục sáu vương quốc khác và thiết lập quốc gia Trung Hoa thống nhất đầu tiên. Tần vương Doanh Chính tuyên bố bản thân là "Thủy hoàng đế", tức hoàng đế đầu tiên, và tiến hành cải cách khắp Trung Quốc, đáng chú ý là cưỡng bách tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ, đo lường, chiều dài trục xe, và tiền tệ. Triều đại Tần chỉ tồn tại trong 15 năm, nó bị diệt vong không lâu sau khi Tần Thủy Hoàng băng hà, do các chính sách Pháp gia hà khắc và độc đoán dẫn đến nổi dậy rộng khắp.[35][36]

Triều đại Hán cai trị Trung Quốc từ 206 TCN đến 220 CN, thiết lập một bản sắc văn hóa Hán bền vững trong dân cư và tồn tại cho đến nay.[35][36] Triều đại Hán mở rộng đáng kể lãnh thổ thông qua các chiến dịch quân sự đến bán đảo Triều Tiên, Việt Nam, Mông Cổ và Trung Á, và cũng tạo điều kiện thiết lập Con đường tơ lụa tại Trung Á. Trung Quốc dần trở thành nền kinh tế lớn nhất của thế giới cổ đại.[37] Triều Hán chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng quốc gia, đây vốn là một tư tưởng triết học phát triển vào thời kỳ Xuân Thu. Mặc dù triều Hán chính thức bãi bỏ hệ tư tưởng chính thức của triều Tần là Pháp gia, song những thể chế và chính sách Pháp gia vẫn tồn tại và tạo thành nền tảng cho chính phủ triều Hán.[38]

Tháp Đại Nhạn tại Tây An là công trình Phật giáo được xây dựng vào thời Đường.

Sau khi triều Hán sụp đổ là một giai đoạn chia rẽ được mang tên Tam Quốc.[39] Sau một thời kỳ thống nhất dưới quyền triều đại Tây Tấn, Trung Quốc tiếp tục chia rẽ trong các giai đoạn Đông Tấn-Thập Lục QuốcNam-Bắc triều. Năm 581, Trung Quốc tái thống nhất dưới quyền triều đại Tùy. Tuy nhiên, triều đại Tùy suy yếu sau khi thất bại trong chiến tranh với Cao Câu Ly kéo dài từ 598 đến 614.[40][41]

Dưới các triều đại ĐườngTống, công nghệ và văn hóa Trung Quốc bước vào một thời kỳ hoàng kim.[42] Loạn An Sử trong thế kỷ 8 đã tàn phá quốc gia và khiến triều Đường suy yếu.[43] Triều Tống là chính phủ đầu tiên trong lịch sử thế giới phát hành tiến giấy và là thực thể Trung Hoa đầu tiên thiết lập một hải quân thường trực.[44] Trong các thế kỷ 10 và 11, dân số Trung Quốc tăng lên gấp đôi, đến khoảng 100 triệu người, hầu hết là nhờ mở rộng canh tác lúa tại miền trung và miền nam, và sản xuất dư thừa lương thực. Thời Tống cũng chứng kiến một sự hưng thịnh của triết học và nghệ thuật, nghệ thuật phong cảnh và tranh chân dung đạt được trình độ mới về sự thành thục và độ phức tạp,[45] và các tầng lớp tinh hoa trong xã hội tụ tập để chiêm ngưỡng nghệ thuật, chia sẻ tác phẩm của họ và giao dịch các tác phẩm quý báu. Thời Tống chứng kiến một sự phục hưng của Nho giáo, đối lập với sự phát triển của Phật giáo vào thời Đường.[46]

Trong thế kỷ 13, Trung Quốc dần bị Đế quốc Mông Cổ chinh phục, Tây HạKim dần bị tiêu diệt. Năm 1271, đại hãn người Mông Cổ là Hốt Tất Liệt thiết lập triều đại Nguyên; triều Nguyên chinh phục tàn dư cuối cùng của triều Tống vào năm 1279. Trước khi Mông Cổ xâm chiếm, dân số Trung Quốc là 120 triệu; song giảm xuống 60 triệu trong điều tra nhân khẩu năm 1300.[47] Một nông dân tên là Chu Nguyên Chương lật đổ triều Nguyên vào năm 1368 và kiến lập triều đại Minh. Thời Minh, Trung Quốc bước vào một thời kỳ hoàng kim khác, phát triển một trong những lực lượng hải quân mạnh nhất trên thế giới và có một nền kinh tế giàu có và thịnh vượng, trong khi phát triển về nghệ thuật và văn hóa. Trong giai đoạn này, Trịnh Hòa dẫn đầu các chuyến thám hiểm vượt đại dương, tiến xa nhất là đến châu Phi.[48] Trong những năm đầu thời Minh, thủ đô của Trung Quốc được chuyển từ Nam Kinh đến Bắc Kinh. Cũng trong thời Minh, các triết gia như Vương Dương Minh tiếp tục phê bình và phát triển lý học với những khái niệm về cá nhân chủ nghĩa và đạo đức bẩm sinh.[49]

Triều Thanh kéo dài từ năm 1644 đến năm 1912, là triều đại đế quốc cuối cùng của Trung Quốc. Trong thế kỷ 19, triều đại này phải đương đầu với chủ nghĩa đế quốc phương Tây trong Chiến tranh Nha phiến. Trung Quốc buộc phải ký các hiệp ước bất bình đẳng, trả bồi thường, cho phép người ngoại quốc có đặc quyền ngoại giao và nhượng Hồng Kông cho người Anh[50] vào năm 1842. Chiến tranh Thanh-Nhật (1894–95) dẫn đến việc triều Thanh mất ảnh hưởng tại Triều Tiên, cũng như phải nhượng Đài Loan cho Nhật Bản.[51] Trong những năm 1850 và 1860, cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc đã tàn phá miền nam Trung Quốc.

Thời Dân Quốc (1912–1949)[sửa | sửa mã nguồn]

Tưởng Giới Thạch tham dự Hội nghị Cairo năm 1943 cùng Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, và Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill.

Ngày 1 tháng 1 năm 1912, Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, Tôn Trung Sơn của Quốc dân đảng được tuyên bố là đại tổng thống lâm thời.[52] Tuy nhiên, sau đó chức đại tổng thống được trao cho cựu đại thần của triều Thanh là Viên Thế Khải, nhân vật này tuyên bố bản thân là hoàng đế của Trung Quốc vào năm 1915. Do đối diện với chỉ trích và phản đối rộng khắp trong quân Bắc Dương của mình, Viên Thế Khải buộc phải thoái vị và tái lập chế độ cộng hòa.[53]

Sau khi Viên Thế Khải mất năm 1916, Trung Quốc bị tan vỡ về chính trị. Chính phủ đặt tại Bắc Kinh được quốc tế công nhận song bất lực trên thực tế; các quân phiệt địa phương kiểm soát hầu hết lãnh thổ.[54][55] Đến cuối thập niên 1920, Quốc dân đảng dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch thống nhất quốc gia dưới quyền quản lý của họ sau một loạt hành động khéo léo về quân sự và chính trị, được gọi chung là Bắc phạt.[56][57] Quốc dân đảng chuyển thủ đô đến Nam Kinh và thi hành "huấn chính", một giai đoạn trung gian của phát triển chính trị được phác thảo trong chương trình Tam Dân của Tôn Trung Sơn nhằm biến đổi Trung Quốc thành một quốc gia dân chủ hiện đại.[58][59] Chia rẽ về chính trị tại Trung Quốc gây khó khăn cho Tưởng Giới Thạch trong việc chiến đấu với lực lượng Cộng sản trong nội chiến từ năm 1927. Cuộc chiến này tiếp tục với thắng lợi của Quốc dân đảng, đặc biệt là sau khi lực lượng Cộng sản triệt thoái trong Trường chinh, kéo dài cho đến khi Nhật Bản xâm lược và sự biến Tây An năm 1936 buộc Tưởng Giới Thạch phải đối đầu với Đế quốc Nhật Bản.[60]

Chiến tranh Trung-Nhật (1937–1945) là một mặt trận của Chiến tranh thế giới thứ hai, thúc đẩy một liên minh miễn cưỡng giữa hai phe Quốc dân và Cộng sản. Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Trung Quốc vào năm 1945. Đài Loan, bao gồm cả Bành Hồ, được đặt dưới quyền quản lý của Trung Hoa Dân Quốc. Trung Quốc đóng vai trò là quốc gia chiến thắng song bị tàn phá và tài chính kiệt quệ. Sự thiếu tin tưởng giữa hai phe Quốc dân và Cộng sản khiến nội chiến tái khởi động. Năm 1947, hiến pháp được thiết lập, song do xung đột đang diễn ra, nhiều quy định trong Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc chưa từng được thực thi tại Trung Quốc đại lục.[61]

Thời Cộng hòa Nhân dân (1949–nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Tiểu Bình là người phát động chính sách cải cách kinh tế tại Trung Quốc vào năm 1978.

Đại tác chiến trong Nội chiến Trung Quốc kết thúc vào năm 1949 với kết quả là lực lượng Cộng sản kiểm soát hầu hết Trung Quốc đại lục, Quốc dân đảng triệt thoái ra ngoài khơi với lãnh thổ chỉ còn Đài Loan, Hải Nam, và các đảo nhỏ. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[62] Năm 1950, Quân Giải phóng Nhân dân đánh chiếm Hải Nam từ Trung Hoa Dân Quốc[63] và chiếm đóng Tây Tạng.[64] Tuy nhiên, tàn quân Quốc Dân đảng tiếp tục tiến hành nổi dậy ở miền tây Trung Quốc trong suốt thập niên 1950.[65]

Mao Trạch Đông khuyến khích tăng trưởng dân số, và dân số Trung Quốc tăng từ khoảng 550 triệu lên trên 900 triệu trong thời gian ông lãnh đạo.[66] Tuy nhiên, kế hoạch cải cách kinh tế và xã hội quy mô lớn mang tên Đại nhảy vọt khiến cho hàng chục triệu người thiệt mạng từ năm 1958 đến năm 1961, hầu hết là do chết đói.[67] Từ 1 đến 2 triệu địa chủ bị hành quyết vì tội "phản cách mạng."[68] Năm 1966, Mao Trạch Đông cùng các đồng minh của ông tiến hành Đại cách mạng Văn hóa, kéo theo một giai đoạn tố cáo chính trị lẫn nhau và biến động xã hội kéo dài đến khi Mao Trạch Đông từ trần vào năm 1976. Trong tháng 10 năm 1971, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế Trung Hoa Dân Quốc tại Liên Hiệp Quốc, giành được ghế một ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an.[69]

Sau khi Mao Trạch Đông từ trần 1976 và vụ bắt giữ bè phái mang tên Tứ nhân bang, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền và lãnh đạo quốc gia đến cải cách kinh tế quan trọng. Đảng Cộng sản sau đó nới lỏng kiểm soát của chính phủ đối với đời sống cá nhân của công dân và các công xã nhân dân bị bãi bỏ nhằm tạo điều kiện cho thuê đất tư nhân. Sự kiện này đánh dấu Trung Quốc chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế hỗn hợp, với sự gia tăng của môi trường thị trường mở.[70] Trung Quốc thông qua hiến pháp hiện hành vào ngày 4 tháng 1 năm 1982. Năm 1989, hành động trấn áp bạo lực các cuộc biểu tình của sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn khiến chính phủ Trung Quốc bị nhiều quốc gia chỉ trích và áp đặt chế tài.[71]

Giang Trạch Dân, Lý BằngChu Dung Cơ lãnh đạo quốc gia trong thập niên 1990. Trong thời gian họ cầm quyền, thành tích kinh tế của Trung Quốc đưa khoảng 150 triệu nông dân khỏi bần cùng và duy trì tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân năm là 11,2%.[72][73] Trung Quốc chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao dưới quyền lãnh đạo của Hồ Cẩm ĐàoÔn Gia Bảo trong thập niên 2000. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh chóng cũng có tác động nghiêm trọng đến tài nguyên và môi trường quốc gia,[74][75] và dẫn đến chuyển dịch lớn trên phương diện xã hội.[76][77] Chất lượng sinh hoạt tiếp tục được cải thiện nhanh chóng bất chấp khủng hoảng cuối thập niên 2000, song kiểm soát chính trị tập trung vẫn chặt chẽ.[78] Trong tháng 11 năm 2012, Tập Cận Bình kế nhiệm Hồ Cẩm Đào trong vai trò Tổng bí thư của Đảng Cộng sản.[79]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lí Trung Quốc
Bản đồ địa hình Trung Quốc.
Thảo nguyên Nội Mông.

Trung Quốc là quốc gia lớn thứ nhì trên thế giới xét theo diện tích đất[80] sau Nga, và là quốc gia lớn thứ ba hoặc bốn về tổng diện tích, sau Nga, Canada, và có thể là Hoa Kỳ.[f] Tổng diện tích của Trung Quốc thường được tuyên bố là khoảng 9.600.000 km2 (3.700.000 sq mi).[81] Số liệu diện tích cụ thể dao động từ 9.572.900 km2 (3.696.100 sq mi) theo Encyclopædia Britannica,[82] 9.596.961 km2 (3.705.407 sq mi) theo Niên giám Nhân khẩu Liên Hiệp Quốc,[3] đến 9.596.960 km2 (3.705.410 sq mi) theo CIA World Factbook.[5]

Trung Quốc có tổng chiều dài đường biên giới trên bộ lớn nhất thế giới, với 22.117 km (13.743 mi) từ cửa sông Áp Lục đến vịnh Bắc Bộ.[5] Trung Quốc có biên giới với 14 quốc gia khác, giữ vị trí số một thế giới cùng với Nga.[83] Trung Quốc bao gồm phần lớn Đông Á, giáp với Việt Nam, Lào, Myanmar, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Pakistan[g], Afghanistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, Nga, Mông Cổ, và Triều Tiên. Ngoài ra, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines cũng lân cận với Trung Quốc qua biển.

Lãnh thổ Trung Quốc nằm giữa các vĩ độ 18° và 54° Bắc, các kinh độ 73° và 135° Đông. Cảnh quan của Trung Quốc biến đổi đáng kể trên lãnh thổ rộng lớn của mình. Tại phía đông, dọc theo bờ biển Hoàng Hảibiển Hoa Đông, có các đồng bằng phù sa rộng và dân cư đông đúc, trong khi các thảo nguyên rộng lớn chiếm ưu thế ở rìa của cao nguyên nguyên Nội Mông. Đồi và các dãy núi thấp chi phối địa hình tại Hoa Nam, trong khi miền trung-đông có những châu thổ của hai sông lớn nhất Trung Quốc là Hoàng HàTrường Giang. Các sông lớn khác là Tây Giang, Hoài Hà, Mê Kông (Lan Thương), Brahmaputra (Yarlung Tsangpo) và Amur (Hắc Long Giang). Ở phía tây có các dãy núi lớn, nổi bật nhất là Himalaya. Ở phía bắc có các cảnh quan khô hạn, như sa mạc Gobisa mạc Taklamakan. Đỉnh cao nhất thế giới là núi Everest (8.848m) nằm trên biên giới Trung Quốc-Nepal.[84] Điểm thấp nhất của Trung Quốc, và thấp thứ ba trên thế giới, là lòng hồ Ngải Đinh (−154m) tại bồn địa Turpan.[85]

Mùa khô và gió mùa ẩm chi phối phần lớn khí hậu Trung Quốc, dẫn đến khác biệt nhiệt độ rõ rệt giữa mùa đông và mùa hạ. Trong mùa đông, gió bắc tràn xuống từ các khu vực có vĩ độ cao với đặc điểm là lạnh và khô; trong mùa hạ, gió nam từ các khu vực duyên hải có vĩ độ thấp có đặc điểm là ấm và ẩm.[86] Khí hậu Trung Quốc có sự khác biệt giữa các khu vực do địa hình phức tạp cao độ. Một vấn đề môi trường lớn tại Trung Quốc là việc các hoang mạc tiếp tục mở rộng, đặc biệt là sa mạc Gobi.[87][88]

Đa dạng sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Voọc mũi hếch vàng tại Tần Lĩnh, một loài đặc hữu của Trung Quốc.

Trung Quốc là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh học siêu cấp trên thế giới,[89] nằm trên hai khu vực sinh thái lớn của thế giới là Cổ Bắc phương (Palearctic) và Indomalaya (Đông Dương). Theo một đánh gia, Trung Quốc có trên 34.687 loài động vật và thực vật có mạch, do vậy là quốc gia đa dạng sinh học cao thứ ba trên thế giới, sau BrasilColombia.[90] Trung Quốc ký kết Công ước về đa dạng sinh học Rio de Janeiro vào tháng 6 năm 1992, và trở thành một bên của công ước vào tháng 1 năm 1993.[91]

Trung Quốc là nơi sinh sống của ít nhất 551 loài thú (nhiều thứ ba thế giới),[92] 1.221 loài chim (thứ tám),[93] 424 loài bò sát (thứ bảy)[94] và 333 loài động vật lưỡng cư (thứ bảy).[95] Trung Quốc là quốc gia đa dạng sinh học ở mức độ cao nhất trong mỗi hạng mục ngoài vùng nhiệt đới. Động vật hoang dã tại Trung Quốc chia sẻ môi trường sống và chịu áp lực gay gắt từ lượng dân cư đông nhất thế giới. Ít nhất có 840 loài động vật bị đe dọa, dễ bị tổn thương, hoặc gặp nguy hiểm tuyệt chủng địa phương tại Trung Quốc, phần lớn là do hoạt động của con người như phá hoại môi trường sống, ô nhiễm và săn bắn phi pháp để làm thực phẩm, lấy da lông và làm nguyên liệu cho Trung dược.[96] Động vật hoang dã gặp nguy hiểm được pháp luật bảo hộ, tính đến năm 2005, Trung Quốc có trên 2.349 khu bảo tồn tự nhiên, bao phủ một tổng diện tích là 149,95 triệu ha, tức 15% tổng diện tích của Trung Quốc.[97]

Trung Quốc có trên 32.000 loài thực vật có mạch,[98] và là nơi có nhiều loại rừng. Những khu rừng thông lạnh chiếm ưu thế tại miền bắc của quốc gia, là nơi sinh sống của các loài động vật như nai sừng tấmgấu đen, cùng với hơn 120 loài chim.[99] Tầng dưới của rừng thông ẩm có thể gồm các bụi tre. Trên các vùng núi cao của bách xùthủy tùng, thay thế cho tre là đỗ quyên. Các khu rừng cận nhiệt đới chiếm ưu thế tại miền trung và miền nam Trung Quốc, là nơi sinh sống của của khoảng 146.000 loài thực vật.[99] Những khu rừng mưa nhiệt đới và theo mùa bị hạn chế tại Vân NamHải Nam, song bao gồm một phần tư tổng số loài động thực vật phát hiện được tại Trung Quốc.[99] Ghi nhận được trên 10.000 loài nấm tại Trung Quốc,[100] và trong số đó có gần 6.000 loài nấm bậc cao.[101]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Hoa môn là cửa chính của Trung Nam Hải, nơi đặt trụ sở các cơ quan đầu não của Trung Quốc.

Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một quốc gia xã hội chủ nghĩa công khai tán thành chủ nghĩa cộng sản. Chính phủ Trung Quốc được mô tả là cộng sản và xã hội chủ nghĩa, song cũng chuyên chế và xã đoàn,[102] với những hạn chế nghiêm ngặt trong nhiều lĩnh vực, đáng chú ý nhất là truy cập tự do Internet, tự do báo chí, tự do hội họp, quyền có con, tự do hình thành các tổ chức xã hội và tự do tôn giáo.[103] Hệ thống chính trị, tư tưởng, và kinh tế hiện tại của Trung Quốc được các lãnh đạo nước này gọi lần lượt là "chuyên chính dân chủ nhân dân", "chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc" và "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa".[104]

Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền thống trị quốc gia, quyền lực của đảng này được ghi trong hiến pháp của Trung Quốc.[105] Hệ thống tuyển cử của Trung Quốc có phân cấp, theo đó các đại hội đại biểu nhân dân địa phương (cấp hương và cấp huyện) được tuyển cử trực tiếp, và toàn bộ các cấp đại hội đại biểu nhân dân từ cấp cao hơn cho đến toàn quốc được tuyển cử gián tiếp bởi đại hội đại biểu nhân dân ở cấp ngay bên dưới. Hệ thống chính trị được phân quyền, và các lãnh đạo cấp tỉnh và phó tỉnh có quyền tự trị đáng kể.[106] Tại Trung Quốc còn có các chính đảng khác, được gọi là 'đảng phái dân chủ', những tổ chức này tham gia Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Nhân đại) và Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (Chính hiệp).[107]

Chủ tịch nước Trung Quốc là nguyên thủ quốc gia trên danh nghĩa, đóng vai trò là người đứng đầu về mặt lễ nghi và do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra. Thủ tướng Trung Quốc là nhân vật lãnh đạo chính phủ, chủ trì Quốc vụ viện gồm bốn phó thủ tướng cùng người đứng đầu các bộ và ủy ban cấp bộ. Chủ tịch nước đương nhiệm là Tập Cận Bình, ông cũng là Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chủ tịch Quân ủy Trung Quốc, do vậy ông là lãnh đạo tối cao của Trung Quốc.[79] Thủ tướng đương nhiệm là Lý Khắc Cường, ông cũng là một thành viên cấp cao của Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, một cơ cấu quyết định hàng đầu của Trung Quốc trong thực tế.[108]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quản lý về hành chính 22 tỉnh và nhìn nhận Đài Loan là tỉnh thứ 23, song Đài Loan hiện đang được Trung Hoa Dân Quốc quản lý một cách độc lập, chính thể này tranh chấp với yêu sách của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[109] Trung Quốc còn có năm phân khu được gọi chính thức là khu tự trị, mỗi khu dành cho một dân tộc thiểu số được chỉ định; bốn đô thị trực thuộc; và hai khu hành chính đặc biệt được hưởng quyền tự trị chính trị nhất định. 22 tỉnh, năm khu tự trị, bốn đô thị trực thuộc có thể được gọi chung là "Trung Quốc đại lục", thuật ngữ này thường không bao gồm các khu hành chính đặc biệt Hồng KôngMa Cao.


Quan hệ đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Không ảnh đảo Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc kiểm soát hoàn toàn Hoàng Sa sau một xung đột quân sự với Việt Nam Cộng hòa gần đảo này vào năm 1974.

Tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2011, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quan hệ ngoại giao với 172 quốc gia (trong đó có Palestine, quần đảo CookNiue).[110] Tính hợp pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là vấn đề tranh chấp đối với Trung Hoa Dân Quốc và một vài quốc gia khác (tính đến tháng 7 năm 2014 có 22 quốc gia có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Hoa Dân Quốc[111]). Năm 1971, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong vị thế là đại diện duy nhất của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc và vị thế là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.[112] Trung Quốc là một cựu thành viên và cựu lãnh đạo của Phong trào không liên kết, và vẫn nhìn nhận bản thân là nước bênh vực cho những quốc gia đang phát triển.[113] Trung Quốc là một thành viên trong nhóm BRICS cùng với Brasil, Nga, Ấn Độ và Nam Phi.[114]

Theo chính sách một Trung Quốc, chính phủ trung ương tại Bắc Kinh đặt điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ ngoại giao là các quốc gia khác phải thừa nhận yêu sách của họ đối với Đài Loan và đoạn tuyệt các quan hệ chính thức với chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Các quan chức Trung Quốc nhiều lần kháng nghị khi các quốc gia khác tiến hành đàm phán ngoại giao với Đài Loan,[115] đặc biệt là trong vấn đề giao dịch vũ khí.[116] Trung Quốc cũng kháng nghị những hội nghị chính trị giữa các quan chức chính phủ ngoại quốc và Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.[117]

Phần lớn chính sách ngoại giao hiện hành của Trung Quốc được tường thuật là dựa trên "Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình" của Thủ tướng Chu Ân Lai, và cũng được thúc đẩy bởi khái niệm "hòa nhi bất đồng", theo đó khuyến khích quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia bất kể khác biệt về ý thức hệ.[118] Trung Quốc có quan hệ kinh tế và quân sự thân cận với Nga,[119] và hai quốc gia thường nhất trí khi bỏ phiếu tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.[120][121][122]

Ngoài yêu sách đối với Đài Loan, Trung Quốc cũng tham dự một số tranh chấp lãnh thổ quốc tế khác. Kể từ thập niên 1990, Trung Quốc tham dự các cuộc đàm phán nhằm giải quyết tranh chấp về biên giới trên bộ, trong đó có tranh chấp biên giới với Ấn Độ và một biên giới chưa phân định với Bhutan. Ngoài ra, Trung Quốc còn tham dự các tranh chấp đa phương quanh quyền chiếm hữu một số đảo nhỏ trên biển Đôngbiển Hoa Đông, gồm bãi cạn Scarborough[123], quần đảo Senkaku[124] quần đảo Hoàng Saquần đảo Trường Sa.[125]

Trung Quốc thường được tán tụng là một siêu cường tiềm năng, một số nhà bình luận cho rằng phát triển kinh tế nhanh chóng, phát triển năng lực quân sự, dân số rất đông, và ảnh hưởng quốc tế gia tăng là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc sẽ giữ vị thế nổi bật trên toàn cầu trong thế kỷ 21.[21][126] Một số học giả lại đặt câu hỏi về định nghĩa "siêu cường", lý luận rằng chỉ riêng kinh tế lớn sẽ không giúp Trung Quốc trở thành siêu cường, và lưu ý rằng Trung Quốc thiếu ảnh hưởng quân sự và văn hóa như Hoa Kỳ.[127]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc có 2,3 binh sĩ tại ngũ, là lực lượng quân sự thường trực lớn nhất trên thế giới và nằm dưới quyền chỉ huy của Quân ủy Trung ương.[128] Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc gồm có Lục quân, Hải quân, Không quân, và một lực lượng hạt nhân chiến lược mang tên Bộ đội Pháo binh số hai. Theo chính phủ Trung Quốc, tổng chi phí dành cho quân sự của quốc gia vào năm 2012 là 100 tỷ USD, đứng thứ hai thế giới về ngân sách quân sự.[129] Tuy nhiên, các quốc gia khác như Hoa Kỳ thì cho rằng Trung Quốc không báo cáo mức chính xác về chi tiêu quân sự, vốn được cho là cao hơn nhiều ngân sách chính thức.[130]

Liêu Ninh là tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc

Trung Quốc được công nhận là một quốc gia vũ khí hạt nhân, được nhìn nhận là một cường quốc quân sự lớn trong khu vực và có tiềm năng trở thành một siêu cường quân sự.[131] Theo một báo cáo vào năm 2013 của Bộ Quốc phòng Mỹ, Trung Quốc đưa ra thực địa từ 50 đến 75 tên lửa liên lục địa, cùng với một số tên lửa đạn đạo tầm ngắn.[19] Tuy nhiên, so với bốn thành viên khác trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc tương đối hạn chế về năng lực viễn chinh.[132] Nhằm khắc phục tình trạng này, Trung Quốc đã phát triển các tài sản phục vụ viễn chinh, hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu phục vụ từ năm 2012,[133][134][135] và duy trì một hạm đội tầm ngầm đáng kể, gồm cả một số tàu ngầm tấn công hạt nhân và tên lửa đạn đạo.[136] Ngoài ra, Trung Quốc còn thiết lập một mạng lưới gồm các quan hệ quân sự hải ngoại dọc những tuyến đường biển then chốt.[137]

Trung Quốc đạt được những tiến bộ đánh kể trong việc hiện đại hóa không quân kể từ đầu thập niên 2000, mua các chiến đấu cơ của Nga như Sukhoi Su-30, và cũng sản xuất các chiến đấu cơ hiện đại cho mình, đáng chú ý nhất là Tiêm-10Tiêm-11, Tiêm-15Tiêm-16.[133][138] Trung Quốc còn tham gia phát triển máy bay tàng hìnhmáy bay chiến đấu không người lái.[139][140][141] Trung Quốc cũng hiện đại hóa lực lượng bộ binh của họ, thay thế xe tăng từ thời Liên Xô bằng nhiều biến thể của tăng kiểu 99, và nâng cấp các hệ thống C3I và C4I chiến trường để tăng cường năng lực chiến tranh mạng lưới trung tâm của họ.[142] Ngoài ra, Trung Quốc cũng phát triển hoặc kiếm được các hệ thống tên lửa tân tiến,[143][144] trong đó có tên lửa chống vệ tinh,[145] tên lửa hành trình[146] và tên lửa đạn đạo liên lục địa hạt nhân phóng từ tàu ngầm.[147]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2013, kinh tế Trung Quốc lớn thứ hai thế giới xét theo GDP danh nghĩa, tổng giá trị khoảng 9.325,3 tỉ USD theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nếu xét về GDP theo sức mua tương đương, Trung Quốc đạt 13.395 tỷ USD vào năm 2013, cũng xếp thứ hai sau Hoa Kỳ. Năm 2013, GDP PPP/người của Trung Quốc là 9.844 USD, trong khi GDP danh nghĩa/người là 6.747 USD. Theo cả hai phương pháp, Trung Quốc đều đứng sau khoảng 90 quốc gia (trong số 183 quốc gia trong danh sách của IMF) trong xếp hạng GDP/người toàn cầu.[9]

Từ khi thành lập vào năm 1949 cho đến cuối năm 1978, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có một kinh tế kế hoạch tập trung theo kiểu Liên Xô. Sau khi Mao Trạch Đông từ trần vào năm 1976 và Cách mạng văn hóa kết thúc, Đặng Tiểu Bình và tập thể lãnh đạo mới của Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế và chuyển đổi theo hướng kinh tế hỗn hợp định hướng thị trường hơn dưới sự lãnh đạo độc đảng. Tập thể hóa nông nghiệp bị tiệt trừ và đất ruộng được tư hữu hóa, trong khi đó ngoại thương trở thành một trọng tâm mới quan trọng, dẫn đến việc thiết lập các đặc khu kinh tế. Những doanh nghiệp quốc doạnh không hiệu quả bị tái cơ cấu và những doanh nghiệp thua lỗ phải đóng cửa hoàn toàn, dẫn đến tình trạng thất nghiệp lớn. Trung Quốc hiện nay có đặc điểm chủ yếu là một nền kinh tế thị trường dựa trên quyền sở hữu tài sản tư nhân,[148] và là một trong các ví dụ hàng đầu về chủ nghĩa tư bản nhà nước.[149][150] Nhà nước vẫn chi phối trong những lĩnh vực "trụ cột" chiến lược như sản xuất năng lượng và công nghiệp nặng, song doanh nghiệp tư nhân mở rộng mạnh mẽ, với khoảng 30 triệu doanh nghiệp tư nhân vào năm 2008.[151][152][153][154]

Khu vực Châu Giang tân thành tại Quảng Châu.

Kể từ khi bắt đầu tự do hóa kinh tế vào năm 1978, Trung Quốc nằm trong số các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới,[155] dựa ở mức độ lớn vào tăng trưởng do đầu tư và xuất khẩu.[156] Theo IMF, tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2010 là 10,5%. Trong giai đoạn 2007-2011, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tương đương với tổng tăng trưởng của các quốc gia G7.[157] Năng suất cao, chi phí lao động thấp và cơ sở hạ tầng tương đối thấp khiến Trung Quốc dẫn đầu thế giới về chế tạo. Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc cần rất nhiều năng lượng và không hiệu quả;[158] Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới vào năm 2010,[159] dựa vào than đá để cung cấp trên 70% nhu cầu năng lượng trong nước,[160] và vượt qua Hoa Kỳ để trở thành nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới vào tháng 9 năm 2013.[161]

Trung Quốc là một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và là cường quốc giao thương lớn nhất thế giới, với tổng giá trị mậu dịch quốc tế là 3.870 tỷ USD trong năm 2012.[18] Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đạt 2.850 tỷ USD vào cuối năm 2010, là nguồn dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới cho đến đương thời.[162][163] Năm 2012, Trung Quốc là quốc gia tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhiều nhất thế giới, thu hút 253 tỷ USD.[164] Trung Quốc cũng đầu tư ra hải ngoại, tổng FDI ra ngoại quốc trong năm 2012 là 62,4 tỷ USD,[164] các công ty Trung Quốc cũng tiến hành những vụ thu mua lớn các hãng ngoại quốc.[165] Tỷ giá hối đoái bị định giá thấp gây xích mích giữa Trung Quốc với các nền kinh tế lớn khác,[166][167][168] và Trung Quốc cũng bị chỉ trích rộng rãi về việc chế tạo hàng giả với số lượng lớn.[169][170]

Dân số tầng lớp trung lưu tại Trung Quốc (có thu nhập hàng năm từ 10.000-60.000 USD) đạt trên 300 triệu vào năm 2012.[171] Theo Hurun Report, số lượng tỷ phú USD tại Trung Quốc tăng lên 251 vào năm 2012.[172] Thị trường bán lẻ nội địa của Trung Quốc có giá trị 20.000 tỷ tệ (3.200 tỷ USD) vào năm 2012[173] và tăng trưởng trên 12%/năm vào năm 2013,[174] trong khi thị trường xa xỉ phẩm phát triển mạnh, với 27,5% thị phần toàn cầu vào năm 2010.[175] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc góp phần vào lạm phát tiêu thụ nghiêm trọng,[176][177] làm gia tăng các quy định của chính phủ.[178] Trung Quốc có bất bình đẳng kinh tế ở mức độ cao,[179] và tăng lên trong các thập niên vừa qua.[180]

Khoa học và kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa Trường Chinh 3B được phóng từ Trung tâm Tây Xương tại Tứ Xuyên vào năm 1996.

Trung Quốc dẫn đầu thế giới về khoa học và kỹ thuật cho đến thời Minh. Những phát hiện và phát minh từ thời cổ của Trung Quốc, như cách làm giấy, in, la bàn, và thuốc súng (Tứ đại phát minh), về sau trở nên phổ biến tại châu Á và châu Âu. Những nhà toán học tại Trung Quốc là những người đầu tiên sử dụng số âm.[181][182] Tuy nhiên, đến thế kỷ 17, thế giới phương Tây vượt qua Trung Quốc trên phương diện phát triển khoa học và kỹ thuật.[183]

Sau những thất bại quân sự liên tục trước các quốc gia phương Tây trong thế kỷ 19, những nhà cải cách người Trung Quốc bắt đầu đề xướng khoa học và kỹ thuật hiện đại, một phần của vận động Tự cường. Sau khi lực lượng Cộng sản lên nắm quyền vào năm 1949, họ tiến hành các nỗ lực nhằm tổ chức khoa học và kỹ thuật dựa theo mô hình của Liên Xô, theo đó nghiên cứu khoa học là bộ phận của kế hoạch tập trung.[184] Sau khi Mao Trạch Đông từ trần vào năm 1976, khoa học kỹ thuật được xác định là một trong "Bốn cái hiện đại hóa",[185] và chế độ học thuật theo phong cách Liên Xô dần được cải cách.[186]

Kể từ khi kết thúc Cách mạng văn hóa, Trung Quốc đã đầu tư đáng kể cho nghiên cứu khoa học,[187] dành trên 100 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển khoa học riêng trong năm 2011.[188] Khoa học và kỹ thuật được nhìn nhận là trọng yếu để đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị, và có ảnh hưởng như một nguồn tự hào dân tộc đến mức đôi khi được mô tả là "Chủ nghĩa dân tộc kỹ thuật".[189] Mặc dù một số nhà khoa học sinh tại Trung Quốc từng đoạt giải Nobel Vật lýgiải Nobel Hóa học, song họ đều đạt học vị tiến sĩ và tiến hành nghiên cứu đoạt giải Nobel tại phương Tây.[h]

Trung Quốc đang phát triển nhanh chóng hệ thống giáo dục của mình với trọng tâm là khoa học, toán học, và kỹ thuật; năm 2009, hệ thống này đào tạo ra trên 10.000 tiến sĩ kỹ thuật, và 500.000 cử nhân, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác.[194] Trung Quốc cũng là nơi xuất bản các bài báo khoa học nhiều thứ hai trên thế giới, với 121.500 bài trong năm 2010.[195] Các công ty kỹ thuật của Trung Quốc như HuaweiLenovo đứng hàng đầu thế giới về viễn thông và điện toán cá nhân,[196][197][198] và các siêu máy tính Trung Quốc luôn có tên trong danh sách mạnh nhất thế giới.[199][200] Trung Quốc cũng trải qua một sự tăng trưởng đáng kể trong việc sử dụng robot công nghiệp; từ năm 2008 đến năm 2011, việc lắp đặt robot đa chức năng tăng đến 136%.[201]

Chương trình không gian của Trong Quốc nằm vào hàng tích cực nhất thế giới, và là một nguồn quan trọng của niềm tự hào dân tộc.[202][203] Năm 1970, Trung Quốc phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của mình là Đông Phương Hồng I, trở thành quốc gia thứ năm có thể thực hiện điều này một cách độc lập.[204] Năm 2003, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba độc lập đưa người vào không gian, với chuyến bay vũ trụ của Dương Lợi Vĩ trên Thần Châu 5; đến tháng 6 năm 2013, có 10 công dân Trung Quốc đã thực hiện hành trình vào không gian. Năm 2011, môđun trạm không gian đầu tiên của Trung Quốc là Thiên Cung 1 được phóng, đánh dấu bước đầu tiên trong một kế hoạch nhằm lắp ráp một trạm quy mô lớn có người điều khiển vào đầu thập niên 2020.[205] Năm 2013, Trung Quốc thành công trong việc hạ cánh tàu thăm dò Thường Nga 3 và một xe tự hành Ngọc Thố lên Mặt Trăng.[206]

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc hiện có số lượng điện thoại di động hoạt động nhiều nhất thế giới, với trên 1 tỷ người sử dụng tính đến tháng 2 năm 2012.[207] Quốc gia này cũng đứng đầu thế giới về số người sử dụng Internet và băng thông rộng,[208] với trên 591 triệu người sử dụng Internet tính đến năm 2013, tương đương khoảng 44% dân số toàn quốc.[209] Một báo cáo vào năm 2013 biểu thị rằng tốc độ đường truyền internet trung bình toàn quốc là 3,14 MB/s.[210] China TelecomChina Unicom là hai nhà cung cấp băng thông rộng lớn nhất thế giới, chiếm 20% số thuê bao băng thông rộng toàn cầu. China Telecom phục vụ trên 50 triệu thuê bao băng thông rộng, con số của China Unicom là trên 40 triệu (đến năm 2010).[211] Một số công ty viễn thông của Trung Quốc, đáng chú ý nhất là HuaweiZTE, bị cáo buộc làm gián điệp cho quân đội Trung Quốc.[212] Trung Quốc đang phát triển hệ thống định vị vệ tinh riêng được đặt tên là Bắc Đẩu.[213]

Kể từ cuối thập niên 1990, mạng lưới đường bộ quốc gia của Trung Quốc được mở rộng đáng kể thông qua thiết lập một mạng lưới quốc đạo và công lộ cao tốc. Năm 2011, các quốc đạo của Trung Quốc đạt tổng chiều dài 85.000 km (53.000 mi), trở thành hệ thống công lộ dài nhất trên thế giới.[214] Trung Quốc sở hữu thị trường lớn nhất thế giới đối với ô tô, vượt qua Hoa Kỳ về cả bán và sản xuất ô tô. Số xe bán được trong năm 2009 vượt quá 13,6 triệu[215] và dự đoán đạt 40 triệu vào năm 2020.[216] Trong các khu vực đô thị, xe đạp vẫn là một phương tiện giao thông phổ biến, tính đến năm 2012, có khoảng 470 triệu xe đạp tại Trung Quốc.[217]

Một đoàn tàu trên đường sắt Thanh-Tạng năm 2008, đây là tuyến đường sắt nằm trên độ cao lớn nhất thế giới.

Hệ thống đường sắt Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, nằm trong số các hệ thống nhộn nhịp nhất trên thế giới.[218][219] Tính đến năm 2013, mạng lưới đường sắt Trung Quốc có tổng chiều dài 103.144 km (64.091 mi), xếp hạng ba trên thế giới.[220] Năm 2013, đường sắt Trung Quốc vận chuyển khoảng 2,106 tỷ lượt hành khách, khoảng 3,967 tỷ tấn hàng hóa.[220] Hệ thống đường sắt cao tốc Trung Quốc bắt đầu được xây dựng từ đầu thập niên 2000, xếp hàng đầu thế giới về chiều dài với 11.028 kilômét (6.852 dặm) đường ray vào năm 2013.[221] Mạng lưới đường ray đường sắt cao tốc được dự tính đạt khoảng 16.000 km (9.900 mi) vào năm 2020.[222] Tính đến tháng 5 năm 2014, 20 thành phố tại Trung Quốc có hệ thống đường sắt đô thị đã đi vào hoạt động, dự tính sẽ có thêm nhiều thành phố sở hữu hệ thống này cho đến năm 2020.[223]

Tính đến năm 2012, Trung Quốc có 182 cảng hàng không thương mại, và trên hai phần ba số cảng hàng không được xây dựng trên toàn cầu trong năm 2013 là tại Trung Quốc,[224]Boeing cho rằng phi đội thương mại hoạt động tại Trung Quốc sẽ tăng từ 1.910 trong năm 2011 lên 5.980 vào năm 2031.[224] Khoảng 80% không phận của Trung Quốc vẫn bị hạn chế cho sử dụng quân sự, và các hãng hàng không Trung Quốc chiếm tám trong số mười hãng hàng không châu Á tệ nhất về phương diện trì hoãn.[225] Trong năm 2013, Sân bay quốc tế Thủ đô Bắc Kinh xếp hạng nhì thế giới về vận chuyển hành khách.

Trung Quốc có trên 2.000 cảng sông và cảng biển, khoảng 130 trong số đó mở cửa cho thuyền ngoại quốc. Năm 2012, các cảng Thượng Hải, Hồng Kông, Thâm Quyến, Ninh Ba-Chu Sơn, Quảng Châu, Thanh Đảo, Thiên Tân, Đại Liên xếp hàng đầu thế giới về vận chuyển số lượng container và trọng tải hàng hóa.[226]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo kết quả điều tra nhân khẩu toàn quốc năm 2010, dân số nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 1.370.536.875. Khoảng 16,60% dân số từ 14 tuổi trở xuống, 70,14% từ 15 đến 59 tuổi, và 13,26% từ 60 tuổi trở lên.[227] Do dân số đông và tài nguyên thiên nhiên suy giảm, chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến tốc độ tăng trưởng dân số, và từ năm 1978 họ đã nỗ lực tiến hành với kết quả khác nhau,[228] nhằm thi hành một chính sách kế hoạch hóa gia đình nghiêm ngặt được gọi là "chính sách một con." Trước năm 2013, chính sách này tìm cách hạn chế mỗi gia đình có một con, ngoại trừ các dân tộc thiểu số và linh hoạt nhất định tại các khu vực nông thôn. Một nới lỏng lớn về chính sách được han hành vào tháng 12 năm 2013, cho phép các gia đình có hai con nếu một trong song thân là con một.[229] Dữ liệu từ điều tra nhân khẩu năm 2010 cho thấy rằng tổng tỷ suất sinh là khoảng 1,4.[230] Chính sách một con cùng với truyền thống trọng nam có thể góp phần vào mất cân bằng về tỷ suất giới tính khi sinh.[231][232] Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, tỷ suất giới tính khi sinh là 118,06 nam/100 nữ,[233] cao hơn mức thông thường là khoảng 105 nam/100 nữ.[234] Kết quả điều tra nhân khẩu vào năm 2013 cho thấy nam giới chiếm 51,27% tổng dân số.[233] trong khi con số này vào năm 1953 là 51,82%.[233]

Tranh mô tả một nữ giới trong trang phục thời Đường.

Trung Quốc chính thức công nhận 56 dân tộc riêng biệt, dân tộc đông dân nhất là người Hán, chiếm khoảng 91,51% tổng dân số.[7] Người Hán là dân tộc đơn lẻ lớn nhất trên thế giới,[235], chiếm thiểu số tại Tây Tạng và Tân Cương và đông hơn các dân tộc khác tại các đơn vị hành chính cấp tỉnh còn lại.[236] Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 8,49% tổng dân số Trung Quốc theo kết quả điều tra nhân khẩu năm 2010.[7] So với điều tra nhân khẩu năm 2000, dân số người Hán tăng 66.537.177, hay 5,74%, trong khi tổng dân số của 55 dân tộc thiểu số tăng 7.362.627, hay 6,92%.[7] Điều tra nhân khẩu năm 2010 cho thấy có 593.832 công dân ngoại quốc cư trú tại Trung Quốc, các nhóm lớn nhất đến từ Hàn Quốc (120.750), Hoa Kỳ (71.493) và Nhật Bản (66.159).[237]

Trung Quốc có 292 ngôn ngữ đang tồn tại.[238] Các ngôn ngữ phổ biến nhất thuộc nhánh Hán của ngữ hệ Hán-Tạng, gồm có Quan thoại (bản ngữ của 70% dân số),[239] và các ngôn ngữ Hán khác: Ngô, Việt (hay Quảng Đông), Mân, Tương, Cám, và Khách Gia. Các ngôn ngữ thuộc nhánh Tạng-Miến như Tạng, Khương, Lô Lô được nói trên khắp cao nguyên Thanh Tạng và Vân Quý. Các ngôn ngữ thiểu số khác tại tây nam Trung Quốc gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai như tiếng Choang, H'Mông-MiềnNam Á. Tại khu vực đông bắc và tây bắc của Trung Quốc, các dân tộc thiểu số nói các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai như tiếng Mông Cổ và ngữ hệ Turk như tiếng Duy Ngô Nhĩ. Tiếng Triều Tiên là bản ngữ tại một số khu vực sát biên giới với Bắc Triều Tiên, và tiếng Sarikoli của người Tajik ở miền tây Tân Cương là một ngôn ngữ Ấn-Âu.

Tiếng phổ thông là một dạng của Quan thoại dựa trên phương ngôn Bắc Kinh, là quốc ngữ chính thức của Trung Quốc và được sử dụng làm một ngôn ngữ thông dụng trong nước giữa những cá nhân có bối cảnh ngôn ngữ khác biệt.[240] Chữ Hán được sử dụng làm văn tự cho các ngôn ngữ Hán từ hàng nghìn năm, tạo điều kiện cho người nói các ngôn ngữ và phương ngôn Hán không hiểu lẫn nhau có thể giao tiếp thông qua văn tự. Năm 1956, chính phủ Trung Quốc đưa ra chữ giản thể, thay thế cho chữ phồn thể. Chữ Hán được latinh hóa bằng hệ thống bính âm. Tiếng Tạng sử dụng chữ viết dựa trên mẫu tự Ấn Độ, các dân tộc Hồi giáo tại Trung Quốc thường sử dụng mẫu tự Ba Tư-Ả Rập, còn tiếng Mông Cổ tại Trung Quốc và tiếng Mãn sử dụng chữ viết bắt nguồn từ mẫu tự Duy Ngô Nhĩ cổ.

Trong hàng thiên niên kỷ, văn minh Trung Hoa chịu ảnh hưởng từ nhiều phong trào tôn giáo khác nhau, Tam giáo Trung Hoa bao gồm Nho giáo, Phật giáoĐạo giáo trên phương diện lịch sử có tác động quan trong trong việc định hình văn hóa Trung Hoa.[241][242] Các yếu tố của Tam giáo thường được kết hợp vào các truyền thống tôn giáo quần chúng hoặc dân gian.[243] Hiến pháp Trung Quốc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, song các tổ chức tôn giáo không được chính thức chấp thuận có thể phải chịu bách hại ở quy mô quốc gia.[244] Ước tính về nhân khẩu tôn giáo tại Trung Quốc có sự khác biệt. Một nghiên cứu năm 2007 cho thấy 31,4% người Trung Quốc trên 16 tuổi là tín đồ tôn giáo,[245] một nghiên cứu vào năm 2006 thì cho thấy 46% dân số Trung Quốc là tín đồ tôn giáo.[246] Một nghiên cứu vào năm 2007 cho thấy các cá nhân tự xác định là tín đồ Phật giáo chiếm 11–16% dân số trưởng thành tại Trung Quốc, trong khi tín đồ Cơ Đốc giáo chiếm khoảng 3–4%, và tín đồ Hồi giáo chiếm khoảng 1%.[247]

Trung Quốc trải qua đô thị hóa đáng kể trong các thập niên vừa qua. Tỷ lệ dân số trong các khu vực đô thị tăng từ 20% vào năm 1990 lên 46% vào năm 2007.[248] và dân số đô thị của Trung Quốc được dự tính đạt một tỷ vào năm 2030.[248] Năm 2012, có trên 262 triệu công nhân di cư tại Trung Quốc.[249] Trung Quốc có trên 160 thành phố có dân số [đô thị] trên một triệu,[250] trong đó có bảy siêu đô thị (dân số hành chính trên 10 triệu) là Trùng Khánh, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiên Tân, Thâm Quyến, và Vũ Hán.[251][252][253] Đến năm 2025, ước tính Trung Quốc sẽ có 221 thành phố có trên một triệu dân cư [đô thị].[248]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tích Ung điện tại Quốc tử giám Bắc Kinh, phần lớn quần thể được xây dựng từ thời Minh.

Kể từ năm 1986, giáo dục bắt buộc tại Trung Quốc bao gồm tiểu học và trung học cơ sở, tổng cộng kéo dài trong chín năm.[254] Năm 2010, khoảng 82,5% học sinh tiếp tục học tập tại cấp trung học phổ thông kéo dài trong ba năm.[255] Cao khảo là kỳ thi đầu vào đại học toàn quốc tại Trung Quốc, là điều kiện tiên quyết để nhập học trong hầu hết các cơ sở giáo dục bậc đại học. Năm 2010, 27% học sinh tốt nghiệp trung học tiếp tục theo học giáo dục đại học.[256]

Trong tháng 2 năm 2006, chính phủ cam kết cung cấp giáo dục chín năm hoàn toàn miễn phí, bao gồm sách giáo khoa và các loại phí.[257] Đầu tư cho giáo dục hàng năm nâng từ dưới 50 tỷ USD trong năm 2003 lên trên 250 tỷ USD trong năm 2011.[258] Tuy nhiên, vẫn còn bất bình đẳng trong chi tiêu giáo dục; như trong năm 2010, chi tiêu giáo dục trung bình cho một học sinh trung học cơ sở tại Bắc Kinh là 20.023 NDT, trong khi tại Quý Châu là 3.204 NDT.[259]

(Tính đến 2010), 94% dân số trên 15 tuổi biết đọc biết viết,[260] so với 20% vào năm 1950.[261]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Y tế cùng sở y tế cấp tỉnh giám sát nhu cầu y tế của dân cư Trung Quốc.[262] Đặc điểm của chính sách y tế Trung Quốc kể từ đầu thập niên 1950 là tập trung vào y học công cộng và y học dự phòng. Đương thời, Đảng Cộng sản bắt đầu Chiến dịch y tế ái quốc nhằm cải thiện vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân, cũng như điều trị và ngăn ngừa một số bệnh. Các bệnh hoành hành tại Trung Quốc khi trước như tả, thương hàntinh hồng nhiệt gần như bị tiệt trừ trong chiến dịch này. Sau khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu thi hành cải cách kinh tế vào năm 1978, tình hình y tế của quần chúng Trung Quốc được cải thiện nhanh chóng do dinh dưỡng tốt hơn, song nhiều dịch vụ y tế công cộng miễn phí tại khu vực nông thôn biến mất cùng với các công xã nhân dân. Chăm sóc y tế tại Trung Quốc bị tư nhân hóa phần lớn, và có sự gia tăng đáng kể về chất lượng. Năm 2009, chính phủ bắt đầu một sáng kiến cung cấp chăm sóc y tế quy mô lớn kéo dài trong 3 năm trị giá 124 tỷ USD.[263] Đến năm 2011, chiến dịch đạt kết quả 95% dân số Trung Quốc có bảo hiểm y tế cơ bản.[264] Năm 2011, Trung Quốc được ước tính là nước cung cấp dược phẩm lớn thứ ba thế giới, song dân cư Trung Quốc phải chịu tổn hại từ việc phát triển và phân phối các dược phẩm giả.[265]

Tuổi thọ dự tính khi sinh tại Trung Quốc là 75 năm,[266] và tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh là 11‰ vào năm 2013.[267] Cả hai chỉ số đều được cải thiện đáng kể so với thập niên 1950.[i] Tỷ lệ còi cọc bắt nguồn từ thiếu dinh dưỡng giảm từ 33,1% vào năm 1990 xuống 9,9% vào năm 2010.[270] Mặc dù có các cải thiện đáng kể về y tế và kiến thiết cơ sở y tế tiến bộ, song Trung Quốc có một số vấn đề y tế công cộng mới nổi, như các bệnh về đường hô hấp do ô nhiễm không khí trên quy mô rộng,[271] hàng trăm triệu người hút thuốc lá,[272] và sự gia tăng béo phì trong các dân cư trẻ tại đô thị.[273][274] Dân số lớn và các thành phố đông đúc dẫn đến bùng phát các dịch bệnh nghiêm trọng trong thời gian gần đây, như bùng phát SARS vào năm 2003.[275] Năm 2010, ô nhiễm không khí khiến cho 1,2 triệu người chết sớm tại Trung Quốc.[276]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa Trung Quốc

Từ thời cổ đại, văn hóa Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng mạnh từ Nho giáo và các triết học bảo thủ. Trong hầu hết các triều đại, có thể đạt được cơ hội thăng tiến xã hội thông qua việc giành thành tích cao trong các kỳ khoa cử vốn bắt đầu từ thời Hán.[277] Chú trọng văn chương trong các kỳ khoa cử tác động đến nhận thức chung về tinh thế văn hóa tại Trung Quốc, như niềm tin rằng thư pháp, thi họa là các loại hình nghệ thuật đứng trên nhạc kịch. Văn hóa Trung Quốc từ lâu đã tập trung vào ý thức lịch sử sâu sắc và phần lớn là hướng nội. Khảo thí và nhân tài vẫn được đánh giá rất cao tại Trung Quốc hiện nay.[278]

Các lãnh đạo đầu tiên của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tìm cách thay đổi một số khía cạnh truyền thống của văn hóa Trung Quốc, như quyền chiếm hữu đất tại nông thôn, phân biệt giới tính, và hệ thống Nho học trong giáo dục, trong khi duy trì những khía cạnh khác, như cấu trúc gia đình và văn hóa phục tùng quốc gia. Một số nhà quan sát nhìn nhận giai đoạn sau năm 1949 như một sự tiếp tục lịch sử triều đại Trung Hoa truyền thống, một số khác thì cho rằng sự thống trị của Đảng Cộng sản gây tổn hại cho nền tảng của văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là qua các phương trào chính trị như Cách mạng văn hóa trong thập niên 1960, khi đó nhiều khía cạnh văn hóa truyền thống bị phá hủy do bị nhìn nhận là lạc hậu hay tàn tích của phong kiến. Nhiều khía cạnh quan trọng của đạo đức và văn hóa Trung Hoa truyền thống, như Khổng giáo, nghệ thuật, văn chương, nghệ thuật trình diễn như Kinh kịch,[279] bị biến đổi để phù hợp với các chính sách và tuyên truyền của chính phủ vào đương thời. Hiện nay, việc tiếp cận với truyền thông ngoại quốc bị hạn chế cao độ; mỗi năm chỉ có 34 phim ngoại quốc được phép trình chiếu trong các rạp chiếu phim tại Trung Quốc.[280]

Tác phẩm "Sơn lộ tùng thanh đồ" của danh họa Đường Dần thời Minh, sáng tác năm 1516.

Ngày nay, chính phủ Trung Quốc chấp thuận nhiều yếu tố của văn hóa Trung Hoa truyền thống có tính nguyên đối với xã hội Trung Quốc. Cùng với sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa và kết thúc Cách mạng văn hóa, nhiều hình thức nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, điện ảnh, trang phục, và kiến trúc về Trung Hoa truyền thống chứng kiến một sự phục hưng mạnh mẽ,[281][282] Trung Quốc hiện đứng thứ ba thế giới về số du khách ngoại quốc đến thăm quan,[283] với 55,7 khách quốc tế trong năm 2010.[284] Ước tính có 740 triệu du khách Trung Quốc lữ hành nội địa trong tháng 10 năm 2012.[285]

Ẩm thực Trung Quốc rất đa dạng, có nền tảng là lịch sử ẩm thực kéo dài hàng thiên niên kỷ. Các quân chủ Trung Hoa cổ đại được biết là có nhiều phòng ăn trong cung, mỗi phòng lại choa thành vài gian, mỗi gian phục vụ một loại món ăn đặc trưng.[286] Lúa gạo là cây lương thực phổ biến nhất, được trồng tại phía nam Hoài Hà; lúa mì là loại cây trồng phổ biến thứ nhì và tập trung tại đồng bằng miền bắc. Thịt lợn là loại thịt phổ biến nhất tại Trung Quốc, chiếm khoảng ba phần tư tổng lượng tiêu thụ thịt toàn quốc.[287] Gia vị là trọng tâm trong ẩm thực Trung Hoa.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc sở hữu một trong những văn hóa thể thao lâu đời nhất trên thế giới. Có bằng chứng biểu thị rắng bắn cung (xạ tiễn) được thực hành từ thời Tây Chu. Đấu kiếm (kiếm thuật) và một dạng bóng đá (xúc cúc)[288] cũng truy nguyên từ các triều đại ban đầu của Trung Quốc.[289] Ngày nay, một số môn thể thao phổ biến nhất tại Trung Quốc gồm võ thuật, bóng rổ, bóng đá, bóng bàn, cầu lông, bơi và snooker. Các trò chơi trên bàn như cờ vây, cờ tướng, và gây đây hơn là cờ vua cũng được chơi ở cấp độ chuyên nghiệp.[290]

Rèn luyện thể chất được chú trọng cao trong văn hóa Trung Hoa, các bài tập buổi sáng như khí côngthái cực quyền được thực hành rộng rãi,[291] và phòng tập thể dục và câu lạc bộ sức khỏe thương mại trở nên phổ biến trên toàn quốc.[292] Những thanh niên Trung Quốc cũng thích bóng đá và bóng rổ, đặc biệt là trong các trung tâm đô thị có không gian hạn chế. Ngoài ra, Trung Quốc là nơi có số người đi xe đạp lớn nhất, với 470 triệu xe đạp trong năm 2012.[217] Nhiều môn thể thao truyền thống khác như đua thuyền rồng, vật kiểu Mông Cổ, và đua ngựa cũng phổ biến.[293]

Trung Quốc tham dự Thế vận hội lần đầu tiên vào năm 1932, và với quốc hiệu hiện hành từ năm 1952. Trung Quốc đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh, và giành được số huy chương vàng nhiều nhất trong số các quốc gia tham dự.[294]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Diện tích được lấy theo số liệu chính thức của Liên Hiệp Quốc cho Trung Quốc đại lục và không bao gồm Hồng Kông, Ma CaoĐài Loan.[3] Số liệu cũng không bao gồm hành lang Khách Lạt Côn Lôn 5.800 km2 (2.200 sq mi), Aksai Chin 37.244 km2 (14.380 sq mi) và các lãnh thổ khác có tranh chấp với Ấn Độ. Tổng diện tích của Trung Quốc được ghi là 9.572.900 km2 (3.696.100 sq mi) theo Encyclopædia Britannica.[4].
  2. ^ Số liệu lấy từ CIA World Factbook.[5]
  3. ^ Đô la Hồng Kông được sử dụng tại Hồng Kôngpataca Ma Cao được sử dụng tại Ma Cao.
  4. ^ ngoại trừ Hồng Kông và Ma Cao.
  5. ^ Xếp hạng tổng diện tích so với Hoa Kỳ dựa vào phương pháp đo lường tổng diện tích của hai quốc gia.
  6. ^ Theo Encyclopædia Britannica, tổng diện tích của Hoa Kỳ là 9.522.055 km2 (3.676.486 sq mi), nhỏ hơn một chút so với Trung Quốc. Trong khi đó, CIA World Factbook thì ghi rằng tổng diện tích của Trung Quốc lớn hơn tổng diện tích của Hoa Kỳ cho đến khi vùng nước ven bờ của Ngũ Đại Hồ được tính vào tổng diện tích của Hoa Kỳ vào năm 1996. Từ năm 1989 đến năm 1996, tổng diện tích của Hoa Kỳ là 9.372.610 km2 (3.618.780 sq mi). Tổng diện tích được ghi là 9.629.091 km2 (3.717.813 sq mi) vào năm 1997 (gồm các khu vực Ngũ Đại Hồ và vùng biển ven bờ), đến 9.631.418 km2 (3.718.711 sq mi) vào năm 2004, đến 9.631.420 km2 (3.718.710 sq mi) vào năm 2006, và đến 9.826.630 km2 (3.794.080 sq mi) vào năm 2007 (tính cả lãnh hải).
  7. ^ Biên giới của Trung Quốc với Pakistan và bộ phận biên giới của quốc gia này với Ấn Độ nằm trong khu vực tranh chấp Kashmir. Khu vực nằm dưới quyền quản lý của Pakistan bị Ấn Độ tuyên bố chủ quyền, trong khi Pakistan tuyên bố chủ quyền đối với khu vực do Ấn Độ kiểm soát.
  8. ^ Lý Chính Đạo,[190] Dương Chấn Ninh,[190] Thôi Kì,[191] Cao Côn,[192] Lý Viễn Triết,[193]
  9. ^ Tuổi thọ dự tính khi sinh tăng từ khoảng 31 năm trong năm 1949 lên 75 năm trong năm 2008,[268] và tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh giảm từ 300‰ trong thập niên 1950 xuống khoảng 33‰ vào năm 2001.[269]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Law of the People's Republic of China on the Standard Spoken and Written Chinese Language (Order of the President No.37)”. Chinese Government. 31 tháng 10 năm 2000. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. “For purposes of this Law, the standard spoken and written Chinese language means Putonghua (a common speech with pronunciation based on the Beijing dialect) and the standardized Chinese characters.” 
  2. ^ Chan, Kam Wing (2007). “Misconceptions and Complexities in the Study of China's Cities: Definitions, Statistics, and Implications”. Eurasian Geography and Economics 48 (4): 383–412. doi:10.2747/1538-7216.48.4.383. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2011.  p. 395
  3. ^ a ă “Demographic Yearbook—Table 3: Population by sex, rate of population increase, surface area and density”. UN Statistics. 2007. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010. 
  4. ^ “China”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ a ă â “CIA – The World Factbook”. Cia.gov. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2013. 
  6. ^ “Population (Total)”. The World Bank. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  7. ^ a ă â b “Communiqué of the National Bureau of Statistics of People's Republic of China on Major Figures of the 2010 Population Census (No. 1)”. National Bureau of Statistics of China. 28 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013. 
  8. ^ “Population density (people per sq. km of land area)”. World Bank. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  9. ^ a ă â b c “IMF estimates for 2014 GDP nominal”. 
  10. ^ “2014 Human Development Report Summary”. United Nations Development Programme. 2014. tr. 21–25. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014. 
  11. ^ “China’s Income Inequality Surpasses U.S., Posing Risk for Xi”. Bloomberg. 
  12. ^ “In China, Rich Population Growth Beats World Average”. Forbes. 
  13. ^ Walton, Greg; International Centre for Human Rights and Democratic Development (2001). “Executive Summary”. China's golden shield: Corporations and the development of surveillance technology in the People's Republic of China. Rights & Democracy. tr. 5. ISBN 978-2-922084-42-9. 
  14. ^ “Chinese Civil War”. Cultural-China.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. “To this day, since no armistice or peace treaty has ever been signed, there is controversy as to whether the Civil War has legally ended.” 
  15. ^ “Countries of the world ordered by land area”. Listofcountriesoftheworld.com. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  16. ^ Dahlman, Carl J; Aubert, Jean-Eric. “China and the Knowledge Economy: Seizing the 21st Century. WBI Development Studies. World Bank Publications.”. Institute of Education Sciences. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014. 
  17. ^ Angus Maddison. [4107091e.pdf “Chinese Economic Performance in the Long Run, second edition, revised and updated 960-2030 AD”] Kiểm tra giao thức |url= (trợ giúp). OECD. tr. 29. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2014. 
  18. ^ a ă White, Garry (10 tháng 2 năm 2013). “China trade now bigger than US”. Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. 
  19. ^ a ă “Military and Security Developments Involving the People's Republic of China 2013” (PDF). US Secretary of Defense. 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  20. ^ Muldavin, Joshua (9 tháng 2 năm 2006). “From Rural Transformation to Global Integration: The Environmental and Social Impacts of China's Rise to Superpower”. Carnegie Endowment for International Peace. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
  21. ^ a ă “A Point Of View: What kind of superpower could China be?”. BBC. 19 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2012. 
  22. ^ a ă â “汉语“中国”一词由来考” (bằng tiếng Trung). 中国互联网新闻中心. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2014. 
  23. ^ "Early Homo erectus Tools in China". Viện Khảo cổ học Hoa Kỳ. 2000. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012.
  24. ^ Shen, G; Gao, X; Gao, B; Granger, De (tháng 3 năm 2009). “Age of Zhoukoudian Homo erectus determined with (26)Al/(10)Be burial dating”. Nature 458 (7235): 198–200. Bibcode:2009Natur.458..198S. doi:10.1038/nature07741. ISSN 0028-0836. PMID 19279636. 
  25. ^ “The Peking Man World Heritage Site at Zhoukoudian”. UNESCO. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  26. ^ “Peking Man Site at Zhoukoudian”. UNESCO. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012. 
  27. ^ “China axes 'show ancient writing'”. BBC. 11 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  28. ^ Tanner, Harold M. (2009). China: A History. Hackett Publishing. tr. 35–36. ISBN 0872209156. 
  29. ^ "Bronze Age China". Trung tâm Triển lãm nghệ thuật quốc gia Hoa Kỳ. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013.
  30. ^ China: Five Thousand Years of History and Civilization. City University of HK Press. 2007. tr. 25. ISBN 9789629371401. 
  31. ^ Pletcher, Kenneth (2011). The History of China. Britannica Educational Publishing. tr. 35. ISBN 9781615301812. 
  32. ^ Fowler, Jeaneane D.; Fowler, Merv (2008). Chinese Religions: Beliefs and Practices. Sussex Academic Press. tr. 17. ISBN 9781845191726. 
  33. ^ Hollister, Pam (1996). “Zhengzhou”. Trong Schellinger, Paul E.; Salkin, Robert M. International Dictionary of Historic Places: Asia and Oceania. Fitzroy Dearborn Publishers. tr. 904. ISBN 9781884964046. 
  34. ^ Allan, Keith (2013). The Oxford Handbook of the History of Linguistics. Oxford University Press. tr. 4. ISBN 9780199585847. 
  35. ^ a ă Bodde, Derk. (1986). "The State and Empire of Ch'in", in The Cambridge History of China: Volume I: the Ch'in and Han Empires, 221 B.C. – A.D. 220. Edited by Denis Twitchett and Michael Loewe. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0-521-24327-0.
  36. ^ a ă Lewis, Mark Edward (2007). The Early Chinese Empires: Qin and Han. London: Belknap Press. ISBN 978-0-674-02477-9. 
  37. ^ “Dahlman, Carl J; Aubert, Jean-Eric. China and the Knowledge Economy: Seizing the 21st century. World Bank Publications via Eric.ed.gov. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2012. 
  38. ^ Goucher, Candice; Walton, Linda (2013). World History: Journeys from Past to Present – Volume 1: From Human Origins to 1500 CE. Routledge. tr. 108. ISBN 9781135088224. 
  39. ^ Whiting, Marvin C. (2002). Imperial Chinese Military History. iUniverse. p. 214
  40. ^ Ki-Baik Lee (1984). A new history of Korea. Harvard University Press. ISBN 978-0-674-61576-2. p.47.
  41. ^ David Andrew Graff (2002). Medieval Chinese warfare, 300–900. Routledge. ISBN 0-415-23955-9. p.13.
  42. ^ Adshead, S. A. M. (2004). T'ang China: The Rise of the East in World History. New York: Palgrave Macmillan. p. 54
  43. ^ City University of HK Press (2007). China: Five Thousand Years of History and Civilization. ISBN 962-937-140-5. p.71
  44. ^ Paludan, Ann (1998). Chronicle of the Chinese Emperors. London: Thames & Hudson. ISBN 0-500-05090-2. p. 136.
  45. ^ “Northern Song Dynasty (960–1127)”. Metropolitan Museum of Art. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  46. ^ Essentials of Neo-Confucianism: Eight Major Philosophers of the Song and Ming Periods. Greenwood Publishing Group. 1999. tr. 3. ISBN 9780313264498. 
  47. ^ Ping-ti Ho. "An Estimate of the Total Population of Sung-Chin China", in Études Song, Series 1, No 1, (1970). pp. 33–53.
  48. ^ Rice, Xan (25 tháng 7 năm 2010). “Chinese archaeologists' African quest for sunken ship of Ming admiral”. The Guardian (London). 
  49. ^ “Wang Yangming (1472—1529)”. Internet Encyclopedia of Philosophy. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  50. ^ Ainslie Thomas Embree, Carol Gluck (1997). Asia in Western and World History: A Guide for Teaching. M.E. Sharpe. p.597. ISBN 1-56324-265-6.
  51. ^ “Sino-Japanese War (1894–95)”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2012. 
  52. ^ Eileen Tamura (1997). China: Understanding Its Past. Volume 1. University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-1923-3. p.146.
  53. ^ Stephen Haw, (2006). Beijing: A Concise History. Taylor & Francis, ISBN 0-415-39906-8. p.143.
  54. ^ Bruce Elleman (2001). Modern Chinese Warfare. Routledge. ISBN 0-415-21474-2. p.149.
  55. ^ Graham Hutchings (2003). Modern China: A Guide to a Century of Change. Harvard University Press. ISBN 0-674-01240-2. p.459.
  56. ^ Peter Zarrow (2005). China in War and Revolution, 1895–1949. Routledge. ISBN 0-415-36447-7. p.230.
  57. ^ M. Leutner (2002). The Chinese Revolution in the 1920s: Between Triumph and Disaster. Routledge. ISBN 0-7007-1690-4. p.129.
  58. ^ Hung-Mao Tien (1972). Government and Politics in Kuomintang China, 1927–1937 (Volume 53). Stanford University Press. ISBN 0-8047-0812-6. pp. 60–72.
  59. ^ Suisheng Zhao (2000). China and Democracy: Reconsidering the Prospects for a Democratic China. Routledge. ISBN 0-415-92694-7. p.43.
  60. ^ David Ernest Apter, Tony Saich (1994). Revolutionary Discourse in Mao's Republic. Harvard University Press. ISBN 0-674-76780-2. p.198.
  61. ^ Tien, Hung-mao (1991). “Constitutional Reform and the Future of the Republic of China”. Trong Feldman, Harvey. Constitutional Reform and the Future of the Republic of China. M.E. Sharpe. tr. 3. ISBN 9780873328807. 
  62. ^ The Chinese people have stood up[[]][liên kết hỏng]. UCLA Center for East Asian Studies. Truy cập 16 tháng 4 năm 2006.
  63. ^ “Red Capture of Hainan Island”. The Tuscaloosa News (Google News Archive). 9 tháng 5 năm 1950. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2013. 
  64. ^ “The Tibetans” (PDF). University of Southern California. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2013. 
  65. ^ John W. Garver (1997). The Sino-American alliance: Nationalist China and American Cold War strategy in Asia. M.E. Sharpe. tr. 169. ISBN 0-7656-0025-0. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2013. 
  66. ^ Madelyn Holmes (2008). Students and teachers of the new China: thirteen interviews. McFarland. tr. 185. ISBN 0-7864-3288-8. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2011. 
  67. ^ Akbar, Arifa (17 tháng 9 năm 2010). “Mao's Great Leap Forward 'killed 45 million in four years'”. The Independent (London). Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2010. 
  68. ^ Busky, Donald F. (2002). Communism in History and Theory. Greenwood Publishing Group. p.11.
  69. ^ Michael Y.M. Kao. "Taiwan's and Beijing's Campaigns for Unification" in Harvey Feldman and Michael Y.M. Kao (eds., 1988): Taiwan in a Time of Transition. New York: Paragon House. p.188.
  70. ^ Hart-Landsberg, Martin; and Burkett, Paul. "China and Socialism: Market Reforms and Class Struggle". Monthly Review. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2008.
  71. ^ “The Impact of Tiananmen on China's Foreign Policy”. The National Bureau of Asian Research. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013. 
  72. ^ Nation bucks trend of global poverty. China Daily. 11 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013.
  73. ^ China's Average Economic Growth in 90s Ranked 1st in World. People's Daily. 1 tháng 3 năm 2000. Truy cập 10 tháng 7 năm 2013.
  74. ^ “China's Environmental Crisis”. New York Times. 26 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2012. 
  75. ^ China worried over pace of growth. BBC. Truy cập 16 tháng 4 năm 2006.
  76. ^ China: Migrants, Students, Taiwan. Migration News. January 2006.
  77. ^ In Face of Rural Unrest, China Rolls Out Reforms. Washington Post. 28 tháng 1 năm 2006.
  78. ^ Frontline: The Tank Man transcript”. Frontline. PBS. 11 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  79. ^ a ă Moore, Malcolm (15 tháng 11 năm 2012). “Xi Jinping crowned new leader of China Communist Party”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 
  80. ^ Amitendu, Palit (2012). China-India Economics: Challenges, Competition and Collaboration. Routledge. tr. 4. ISBN 9781136621628. 
  81. ^ “"Land area" GOV.cn, Chinese Government's Official Web Portal”. English.gov.cn. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  82. ^ “United States”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2008. 
  83. ^ “Which country borders the most other countries?”. About.com. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  84. ^ “Nepal and China agree on Mount Everest's height”. BBC News. 8 tháng 4 năm 2010. 
  85. ^ “Lowest Places on Earth”. National Park Service. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  86. ^ Regional Climate Studies of China. Springer. 2008. tr. 1. ISBN 9783540792420. 
  87. ^ Waghorn, Terry (7 tháng 3 năm 2011). “Fighting Desertification”. Forbes. 
  88. ^ "Beijing hit by eighth sandstorm". BBC news. Truy cập 17 tháng 4 năm 2006.
  89. ^ “Biodiversity Theme Report”. Environment.gov.au. 10 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  90. ^ Countries with the Highest Biological Diversity. Mongabay.com. dữ liệu 2004. Truy cập 24 tháng 4 năm 2013.
  91. ^ “List of Parties”. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2012. 
  92. ^ IUCN Initiatives – Mammals – Analysis of Data – Geographic Patterns 2012. IUCN. Retrieved 24 April 2013. Dữ liệu không bao gồm các loài tại Đài Loan.
  93. ^ Countries with the most bird species. Mongabay.com. dữ liệu 2004. Truy cập 24 tháng 4 năm 2013.
  94. ^ Countries with the most reptile species. Mongabay.com. dữ liệu 2004. Truy cập 24 tháng 4 năm 2013.
  95. ^ IUCN Initiatives – Amphibians – Analysis of Data – Geographic Patterns 2012. IUCN. Truy cập 24 tháng 4 năm 2013. (Không bao gồm Đài Loan).
  96. ^ Top 20 countries with most endangered species IUCN Red List. 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập 24 tháng 4 năm 2013.
  97. ^ “Nature Reserves”. China.org.cn. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  98. ^ Countries with the most vascular plant species. Mongabay.com. 2004 data. Truy cập 24 tháng 4 năm 2013.
  99. ^ a ă â China (ấn bản 3). Rough Guides. 2003. tr. 1213. ISBN 9781843530190. 
  100. ^ Conservation Biology: Voices from the Tropics. John Wiley & Sons. 2013. tr. 208. ISBN 9781118679814. 
  101. ^ Liu, Ji-Kai (2007). “Secondary metabolites from higher fungi in China and their biological activity”. Drug Discoveries & Therapeutics 1 (2): 94. 
  102. ^ Unger, Jonathan; Chan, Anita (tháng 1 năm 1995). “China, Corporatism, and the East Asian Model”. The Australian Journal of Chinese Affairs (33): 29–53. doi:10.2307/2950087. 
  103. ^ “Freedom in the World 2011: China”. Freedom House. 2011. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013. 
  104. ^ “Xi reiterates adherence to socialism with Chinese characteristics”. Xinhua. 5 tháng 1 năm 2013. 
  105. ^ “Constitution of the People's Republic of China”. People's Daily. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009. 
  106. ^ “CFR.org”. CFR.org. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  107. ^ “Democratic Parties”. People's Daily. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2013. 
  108. ^ “China’s Next Leaders: A Guide to What’s at Stake”. China File. 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. [[]][liên kết hỏng]
  109. ^ Gwillim Law (2 April 2005). Provinces of China. Truy cập 15 tháng 4 năm 2006.
  110. ^ “中华人民共和国与各国建立外交关系日期简表”. Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Truy cập 26 tháng 9 năm 2014. 
  111. ^ “國際空間 馬:兩岸有有效方式”. Trung ương xã Đài Loan. Truy cập 26 tháng 9 năm 2014. 
  112. ^ Chang, Eddy (22 August 2004). Perseverance will pay off at the UN, The Taipei Times.
  113. ^ “China says communication with other developing countries at Copenhagen summit transparent”. People's Daily. 21 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010. 
  114. ^ "BRICS summit ends in China". BBC. 14 tháng 4 năm 2011. Truy cập 24 tháng 10 năm 2011.
  115. ^ “Taiwan's Ma to stopover in US: report”. Agence France-Presse. 11 tháng 1 năm 2010. [[]][liên kết hỏng]
  116. ^ Macartney, Jane (1 tháng 2 năm 2010). “China says US arms sales to Taiwan could threaten wider relations”. The Times (London). 
  117. ^ Moore, Malcolm (8 tháng 1 năm 2010). “China cancels UK human rights summit after Akmal Shaikh execution”. The Daily Telegraph (London). 
  118. ^ Keith, Ronald C. China from the inside out – fitting the People's republic into the world. PlutoPress. tr. 135–136. 
  119. ^ “China, Russia launch largest ever joint military exercise”. Deutsche Welle. 5 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013. 
  120. ^ “Energy to dominate Russia President Putin's China visit”. BBC. 5 tháng 6 năm 2012. 
  121. ^ Gladstone, Rick (19 tháng 7 năm 2012). “Friction at the U.N. as Russia and China Veto Another Resolution on Syria Sanctions”. New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 
  122. ^ “Xi Jinping: Russia-China ties 'guarantee world peace'”. BBC. 23 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
  123. ^ "China denies preparing war over South China Sea shoal". BBC. 12 May 2012.
  124. ^ “Q&A: China-Japan islands row”. BBC News. 27 tháng 11 năm 2013. 
  125. ^ “40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, bài học lịch sử”. Vietnamnet. Truy cập 26 tháng 9 năm 2014. 
  126. ^ Watts, Jonathan (18 tháng 6 năm 2012). “China: witnessing the birth of a superpower”. The Guardian (London). Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  127. ^ Grinin, Leonid. "Chinese Joker in the World Pack". Journal of Globalization Studies. Volume 2, Number 2. November 2011. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2012.
  128. ^ “The new generals in charge of China's guns”. BBC. 14 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2012. 
  129. ^ “China 'reveals military structure'”. BBC. 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013. 
  130. ^ Annual Report To Congress – Military Power of the People's Republic of China 2009 (PDF). Defenselink.mil. Truy cập 27 tháng 11 năm 2011.
  131. ^ Nolt, James H. Analysis: The China-Taiwan military balance. Asia Times. 1999. Truy cập 15 tháng 4 năm 2006.
  132. ^ Andrew, Martin (18 tháng 8 năm 2005). “THE DRAGON BREATHES FIRE: CHINESE POWER PROJECTION”. AsianResearch.org. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  133. ^ a ă “IN FOCUS: Long march ahead for Chinese naval airpower”. Flightglobal.com. 26 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2012. 
  134. ^ “China's first aircraft carrier completes sea trial”. Xinhua News Agency. 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  135. ^ “China: Aircraft Carrier Now in Service”. The Wall Street Journal. 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012. 
  136. ^ "China unveils fleet of submarines". The Guardian. 22 April 2009. Truy cập 16 tháng 10 năm 2011.
  137. ^ “India, Japan join hands to break China's 'string of pearls'”. Times of India. 30 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2013. 
  138. ^ “J-10”. SinoDefence.com. 28 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  139. ^ “Inside China's Secret Arsenal”. Popular Science. 20 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2012. 
  140. ^ "Early Eclipse: F-35 JSF Prospects in the Age of Chinese Stealth." China-Defense. Truy cập 23 tháng 1 năm 2011.
  141. ^ "Chengdu J-20 – China's 5th Generation Fighter." Defense-Update.com. Retrieved 23 January 2011.
  142. ^ Ground Forces[[]][liên kết hỏng]. SinoDefence.com. Truy cập 18 tháng 10 năm 2011.
  143. ^ Surface-to-air Missile System[[]][liên kết hỏng]. SinoDefence.com. 2006. Retrieved 7 July 2009.
  144. ^ “HQ-19 (S-400) (China)”. Jane's Weapons: Strategic. IHS. 23 tháng 12 năm 2008. 
  145. ^ "China plays down fears after satellite shot down". Agence France-Presse qua ChannelNewsAsia. 20 January 2007. Truy cập 11 tháng 7 năm 2013.
  146. ^ "Chinese Navy Tests Land Attack Cruise Missiles: Implications for Asia-Pacific". New Pacific Institute. 25 July 2012. Truy cập 1 tháng 10 năm 2012.
  147. ^ "China expanding its nuclear stockpile". The Washington Times. 25 August 2011. Truy cập 16 tháng 10 năm 2011.
  148. ^ “China is already a market economy—Long Yongtu, Secretary General of Boao Forum for Asia”. EastDay.com. 2008. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009. 
  149. ^ "Communism Is Dead, But State Capitalism Thrives". Vahan Janjigian. Forbes. 22 tháng 3 năm 2010. Truy cập 11 tháng 7 năm 2013.
  150. ^ "The Winners And Losers In Chinese Capitalism". Gady Epstein. Forbes. 31 tháng 8 năm 2010. Truy cập 11 tháng 7 năm 2013.
  151. ^ John Lee. "Putting Democracy in China on Hold". The Center for Independent Studies. 26 tháng 7 năm 2008. Truy cập 16 tháng 7 năm 2013.
  152. ^ English@peopledaily.com.cn (13 tháng 7 năm 2005). “People.com”. People. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  153. ^ “Businessweek.com”. BusinessWeek. 22 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  154. ^ “Microsoft Word – China2bandes.doc” (PDF). OECD. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. [[]][liên kết hỏng]
  155. ^ “China's Economic Rise: History, Trends, Challenges, and Implications for the United States”. Congressional Research Service. 5 tháng 9 năm 2013. 
  156. ^ “China must be cautious in raising consumption”. China Daily. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  157. ^ Walker, Andrew (16 tháng 6 năm 2011). “Will China's Economy Stumble?”. BBC. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  158. ^ “China Quick Facts”. World Bank. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2008. 
  159. ^ Swartz, Spencer; Oster, Shai (19 tháng 7 năm 2010). “China Becomes World's Biggest Energy Consumer”. Wall Street Journal. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  160. ^ “The Ultimate Guide To China's Voracious Energy Use”. Business Insider. 17 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  161. ^ “China overtakes US as the biggest importer of oil”. BBC. 10 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  162. ^ “China's Foreign-Exchange Reserves Surge, Exceeding $2 Trillion”. Bloomberg L.P. 15 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  163. ^ “China's forex reserves reach USD 2.85 trillion”. Smetimes.tradeindia.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  164. ^ a ă “FDI in Figures”. OECD. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013. 
  165. ^ “Being eaten by the dragon”. The Economist. 11 tháng 11 năm 2010. 
  166. ^ Palmer, Doug (24 tháng 9 năm 2012). “Obama should call China a currency manipulator: Romney aide”. Reuters. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  167. ^ “2007 trade surplus hits new record – $262.2B”. China Daily. 11 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  168. ^ “China widens yuan, non-dollar trading range to 3%”. 23 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  169. ^ Intellectual Property Rights. Asia Business Council. tháng 12 năm 2005. Truy cập 13 tháng 1 năm 2012.
  170. ^ “MIT CIS: Publications: Foreign Policy Index”. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  171. ^ “China's growing middle class”. CNN. 26 tháng 4 năm 2012. 
  172. ^ “China's rich are getting poorer in new Hurun Rich List”. Global Times. Truy cập 26 tháng 9 năm 2012. 
  173. ^ “China retail sales growth accelerates”. China Daily. 18 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  174. ^ “China's retail sales up 12.4 pct in Q1”. Global Times. 15 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  175. ^ "Super Rich have Craze for luxury goods". China Daily. 3 tháng 3 năm 2010. Truy cập 4 tháng 3 năm 2010.
  176. ^ "China inflation exceeding 6%". BusinessWeek. 14 tháng 10 năm 2011. Truy cập 18 tháng 10 năm 2011.
  177. ^ "Steep rise in Chinese food prices". BBC. 16 tháng 4 năm 2008. Truy cập 18 tháng 10 năm 2011.
  178. ^ "China's GDP grows 9.1% in third quarter". Financial Times. 18 tháng 10 năm 2011. Truy cập 16 tháng 7 năm 2013.
  179. ^ “Income inequality on the rise in China”. Al Jazeera. 12 tháng 1 năm 2013. 
  180. ^ “Inequality in China: Rural poverty persists as urban wealth balloons”. BBC News. 29 tháng 6 năm 2011. 
  181. ^ “In Our Time: Negative Numbers”. BBC. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013. 
  182. ^ Struik, Dirk J. (1987). A Concise History of Mathematics. New York: Dover Publications. p.32–33. "In these matrices we find negative numbers, which appear here for the first time in history."
  183. ^ Chinese Studies in the History and Philosophy of Science and Technology 179. Kluwer Academic Publishers. 1996. tr. 137–138. 
  184. ^ Yu, Q. Y. (1999). The Implementation of China's Science and Technology Policy. Greenwood Publishing Group. tr. 2. ISBN 9781567203325. 
  185. ^ Vogel, Ezra F. (2011). Deng Xiaoping and the Transformation of China. Harvard University Press. tr. 129. ISBN 9780674055445. 
  186. ^ DeGlopper, Donald D. (1987). “Soviet Influence in the 1950s”. China: a country study. Library of Congress. 
  187. ^ "7 Technologies Where China Has the U.S. Beat". GreenBiz.com. 7 tháng 12 năm 2010. Truy cập 30 tháng 8 năm 2012.
  188. ^ "China 'to overtake US on science' in two years". BBC News. 28 tháng 3 năm 2011. Truy cập 26 tháng 4 năm 2012.
  189. ^ David Kang and Adam Segal. "The Siren Song of Technonationalism". Far Eastern Economic Review. March 2006. Truy cập 18 tháng 4 năm 2013.
  190. ^ a ă “The Nobel Prize in Physics 1957”. Nobel Media AB. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014. 
  191. ^ “The Nobel Prize in Physics 1998”. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2013. 
  192. ^ “The Nobel Prize in Physics 2009”. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2013. 
  193. ^ “Yuan T. Lee - Biographical”. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2013. 
  194. ^ "Desperately seeking math and science majors"[[]][liên kết hỏng]. CNN. 29 tháng 7 năm 2009. Truy cập 9 tháng 4 năm 2012.
  195. ^ "China publishes the second most scientific papers in international journals in 2010: report". Xinhua. 2 tháng 12 năm 2011. Truy cập 25 tháng 4 năm 2012.
  196. ^ “Who's afraid of Huawei?”. The Economist. 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2012. 
  197. ^ “Shares in China's Lenovo rise on profit surge”. New Straits Times. 17 tháng 8 năm 2012. [[]][liên kết hỏng]
  198. ^ “Lenovo ousts HP as world's top PC maker, says Gartner”. BBC. 11 tháng 10 năm 2012. 
  199. ^ “China retakes supercomputer crown”. BBC. 17 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  200. ^ Williams, Christopher (12 tháng 11 năm 2012). “'Titan' supercomputer is world's most powerful”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2012. 
  201. ^ “Robots to boost China's economy”. People's Daily. 6 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013. 
  202. ^ Axe, David (16 tháng 4 năm 2012). “China Now Tops U.S. in Space Launches”. Wired. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012. 
  203. ^ David Eimer, "China's huge leap forward into space threatens US ascendancy over heavens". Daily Telegraph. 5 tháng 11 năm 2011. Truy cập 16 tháng 4 năm 2013.
  204. ^ Long, Wei (25 tháng 4 năm 2000). “China Celebrates 30th Anniversary Of First Satellite Launch”. Space daily. 
  205. ^ “Rocket launches Chinese space lab”. BBC. 29 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2012. 
  206. ^ Rincon, Paul (14 tháng 12 năm 2013). “China lands Jade Rabbit robot rover on Moon”. BBC News. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014. 
  207. ^ Flannery, Russell (30 tháng 3 năm 2012). “China Mobile Phone Users Now Top One Billion”. Forbes. 
  208. ^ Barboza, David (26 tháng 7 năm 2008). “China Surpasses US in Number of Internet Users”. New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2008. 
  209. ^ “Chinese internet use surges ahead”. BBC. 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  210. ^ China's Internet speed averages 3.14 MBps: survey - Xinhua | English.news.cn. News.xinhuanet.com (18 tháng 4 năm 2013). Truy cập 9 tháng 8 năm 2013.
  211. ^ “Broadband provider rankings: The Rise and Rise of China”. Telegeography.com. 28 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  212. ^ “Huawei, ZTE Provide Opening for China Spying, Report Says”. Bloomberg L.P. 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2012. 
  213. ^ “China's Beidou GPS-substitute opens to public in Asia”. BBC. 27 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012. 
  214. ^ “Once China Catches Up--What Then?”. Forbes. 17 tháng 9 năm 2013. 
  215. ^ “China auto sales officially surpass US in 2009, 13.6 million vehicles sold”. Industry News. 8 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010. 
  216. ^ “China premium car sector remains bright spot”. Reuters. 23 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012. 
  217. ^ a ă “Bike-Maker Giant Says Fitness Lifestyle Boosting China Sales”. Bloomberg L.P. 17 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2012. 
  218. ^ "Chinese Railways Carry Record Passengers, Freight" Xinhua 2007-06-21
  219. ^ “China's trains desperately overcrowded for Lunar New Year”. Seattle Times. 22 tháng 1 năm 2009. 
  220. ^ a ă "2013年铁道统计公报"
  221. ^ "中国高铁总里程达11028公里占世界一半" 新华网 2014-03-05
  222. ^ "China boasts biggest high-speed rail network". Agence France-Presse qua The Raw Story. 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập 24 tháng 4 năm 2012.
  223. ^ “China's Building Push Goes Underground”. Wall Street Journal. 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2013. 
  224. ^ a ă “Primed to be world leader”. China Daily. 5 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2013. 
  225. ^ “China 'suffers worst flight delays'”. BBC. 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013. 
  226. ^ "Top 50 World Container Ports" World Shipping Council Truy cập 2 tháng 6 năm 2014
  227. ^ “Communiqué of the National Bureau of Statistics of People's Republic of China on Major Figures of the 2010 Population Census[1] (No. 1)”. National Bureau of Statistics of China. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  228. ^ “The New England Journal of Medicine, September 2005”. Content.nejm.org. doi:10.1056/NEJMhpr051833. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009. 
  229. ^ “China formalizes easing of one-child policy”. USA Today. 28 tháng 12 năm 2013. 
  230. ^ “The most surprising demographic crisis”. The Economist. 5 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  231. ^ Parry, Simon (9 tháng 1 năm 2005). “Shortage of girls forces China to criminalize selective abortion”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2012. 
  232. ^ “Chinese facing shortage of wives”. BBC News. 12 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2009. 
  233. ^ a ă â "Chinese mainland gender ratios most balanced since 1950s: census data". Xinhua. 28 tháng 4 năm 2011. Truy cập 20 tháng 10 năm 2011.
  234. ^ “The odds that you will give birth to a boy or girl depend on where in the world you live”. Pew Research Center. 24 tháng 9 năm 2013. 
  235. ^ Lilly, Amanda (7 tháng 7 năm 2009). “A Guide to China's Ethnic Groups”. Washington Post. 
  236. ^ China's Geography: Globalization and the Dynamics of Political, Economic, and Social Change. Rowman & Littlefield Publishers. 2011. tr. 102. ISBN 9780742567849. 
  237. ^ "Major Figures on Residents from Hong Kong, Macao and Taiwan and Foreigners Covered by 2010 Population Census"[[]][liên kết hỏng]. National Bureau of Statistics of China. 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập 4 tháng 10 năm 2011.
  238. ^ Languages of China – from Lewis, M. Paul (ed.), 2009. Ethnologue: Languages of the World, Sixteenth edition. Dallas, Tex.: SIL International.
  239. ^ Kaplan, Robert B. and Richard B. Baldauf (2008). Language Planning and Policy in Asia: Japan, Nepal, Taiwan and Chinese characters. Multilingual Matters. tr. 42. ISBN 9781847690951. 
  240. ^ Rough Guide Phrasebook: Mandarin Chinese. Rough Guides. 2011. tr. 19. ISBN 9781405388849. 
  241. ^ Yao, Xinzhong (2010). Chinese Religion: A Contextual Approach. Continuum. tr. 11. ISBN 9781847064769. 
  242. ^ Miller, James (2006). Chinese Religions in Contemporary Societies. ABC-CLIO. tr. 57. ISBN 9781851096268. 
  243. ^ Xie, Zhibin (2006). Religious Diversity and Public Religion in China. Ashgate Publishing. tr. 73. ISBN 9780754656487. 
  244. ^ "China bans religious activities in Xinjiang". Financial Times. 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập 28 tháng 8 năm 2012.
  245. ^ “Survey finds 300m China believers”. BBC. 7 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009. 
  246. ^ Yu Tao. A Solo, a Duet, or an Ensemble? Analysing the Recent Development of Religious Communities in Contemporary Rural China (PDF). Europe-China Research and Advice Network. University of Nottingham. p. 7, 11. Retrieved 28 September 2013.
  247. ^ “Religion in China on the Eve of the 2008 Beijing Olympics”. Pew Forum. 1 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011. 
  248. ^ a ă â “Preparing for China's urban billion”. McKinsey Global Institute. Tháng 2 năm 2009. tr. 6, 52. 
  249. ^ “China Now Has More Than 260 Million Migrant Workers Whose Average Monthly Salary Is 2,290 Yuan ($374.09)”. International Business Times. 28 tháng 5 năm 2013. 
  250. ^ “China's urban explosion: A 21st century challenge”. CNN. 20 tháng 1 năm 2012. 
  251. ^ “China's mega city: the country's existing mega cities”. The Telegraph (London). 24 tháng 1 năm 2011. 
  252. ^ “Overview”. Shenzhen Municipal E-government Resources Center. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2013. 
  253. ^ “Wu-Where? Opportunity Now In China's Inland Cities”. NPR. 7 tháng 8 năm 2012. 
  254. ^ “9-year Compulsory Education”. China.org.cn. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  255. ^ “China eyes high school enrollment rate of 90%”. China Daily. 8 tháng 8 năm 2011. 
  256. ^ “China's higher education students exceed 30 million”. People's Daily. 11 tháng 3 năm 2011. 
  257. ^ "China pledges free 9-year education in rural west". China Economic Net. 21 February 2006. Retrieved 18 February 2013.
  258. ^ “In Education, China Takes the Lead”. New York Times. 16 tháng 1 năm 2013. 
  259. ^ “Chinese Education: The Truth Behind the Boasts”. Bloomberg Businessweek. 4 tháng 4 năm 2013. 
  260. ^ “Literacy rate, adult total (% of people ages 15 and above)”. World Bank. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  261. ^ Plafker, Ted. "China's Long—but Uneven—March to Literacy". International Herald Tribune. 12 tháng 2 năm 2001. Truy cập 22 tháng 12 năm 2012.
  262. ^ “Ministry of Health”. GOV.cn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013. 
  263. ^ “China's $124 Billion Health-Care Plan Aims to Boost Consumption”. Bloomberg L.P. 22 tháng 1 năm 2009. 
  264. ^ “Great Progress, but More Is Needed”. New York Times. 1 tháng 11 năm 2011. 
  265. ^ Barboza, David (5 tháng 8 năm 2012). “2,000 Arrested in China in Counterfeit Drug Crackdown”. New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
  266. ^ “Life expectancy at birth, total (years)”. World Bank. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013. 
  267. ^ “Mortality rate, infant (per 1,000 live births)”. World Bank. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013. 
  268. ^ “Life expectancy increases by 44 years from 1949 in China's economic powerhouse Guangdong”. People's Daily. 4 tháng 10 năm 2009. 
  269. ^ "China's Infant Mortality Rate Down". 11 September 2001. China.org.cn. Truy cập 3 tháng 5 năm 2006.
  270. ^ doi:10.1126/science.336.6080.402
    Hoàn thành chú thích này
  271. ^ McGregor, Richard (2 tháng 7 năm 2007). “750,000 a year killed by Chinese pollution”. Financial Times. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2007. 
  272. ^ "China's Tobacco Industry Wields Huge Power" article by Didi Kirsten Tatlow in The New York Times 10 June 2010
  273. ^ "Serving the people?". 1999. Bruce Kennedy. CNN. Retrieved 17 April 2006.
  274. ^ "Obesity Sickening China's Young Hearts". 4 August 2000. People's Daily. Retrieved 17 April 2006.
  275. ^ "China's latest SARS outbreak has been contained, but biosafety concerns remain". 18 tháng 5 năm 2004. Tổ chức Y tế Thế giới. Truy cập 17 tháng 4 năm 2006.
  276. ^ Wong, Edward (1 tháng 4 năm 2013). “Air Pollution Linked to 1.2 Million Premature Deaths in China”. New York Times. 
  277. ^ China: Understanding Its Past. University of Hawaii Press. 1997. tr. 29. 
  278. ^ “Historical and Contemporary Exam-driven Education Fever in China”. KEDI Journal of Educational Policy 2 (1): 17–33. 2005. 
  279. ^ “Tour Guidebook: Beijing”. China National Tourism Administration. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013. 
  280. ^ “Why China is letting 'Django Unchained' slip through its censorship regime”. Quartz. 13 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013. 
  281. ^ “"China: Traditional arts". Library of Congress – Country Studies”. Lcweb2.loc.gov. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  282. ^ “China: Cultural life: The arts”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  283. ^ “What is the world's favourite holiday destination?”. BBC. 4 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2013. 
  284. ^ “Microsoft Word – UNWTO Barom07 2 en.doc” (PDF). UNWTO. 2010. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010. 
  285. ^ “China's Economy: What the Tourist Boom Tells Us”. TIME. 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012. 
  286. ^ Origins of Chinese Cuisine. Asiapac Books. 2003. tr. 4. ISBN 9789812293176. 
  287. ^ “China's Hunger For Pork Will Impact The U.S. Meat Industry”. Forbes. 19 tháng 6 năm 2013. 
  288. ^ Historical Dictionary of Soccer. Scarecrow Press. 2011. tr. 2. 
  289. ^ “Sport in Ancient China”. JUE LIU (刘珏) (The World of Chinese). 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014. 
  290. ^ "Chinese players dominate at Malaysia open chess championship". TheStar.com. 2 September 2011. Retrieved 24 September 2011.
  291. ^ doi:10.1093/heapro/dah105
    Hoàn thành chú thích này
  292. ^ “China health club market – Huge potential & challenges”. China Sports Business. 1 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  293. ^ Qinfa, Ye. "Sports History of China". About.com. Truy cập 21 tháng 4 năm 2006.
  294. ^ “China targets more golds in 2012”. BBC Sport. 27 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]