Call of Duty: Modern Warfare 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Call of Duty: Modern Warfare 2
Áp phích của trò chơi Modern Warfare 2.
Nhà phát triển Infinity Ward
Nhà phát hành Activision
Square Enix (Nhật Bản)
Nhà phân phối Activision (bán lẻ)
Steam (trực tuyến)
Thiết kế Mackey McCandlish[1]
Kịch bản Jesse Stern
Soạn nhạc Hans Zimmer
Lorne Balfe
Dòng trò chơi Call of Duty
Nền tảng Microsoft Windows
PlayStation 3
Xbox 360
Mac OS X
Công nghệ IW 4.0
Ngày phát hành
Thể loại Bắn súng góc nhìn thứ nhất
Chế độ Chơi đơn, cooperative, chơi nối mạng
Đánh giá
Phương tiện truyền tải Blu-ray Disc, DVD-DL, Download
Điều khiển Tay cầm điều khiển,
Bàn phímchuột

Call of Duty: Modern Warfare 2 hay CoD MW2 (tạm dịch là: Tiếng gọi sứ mệnh: Chiến tranh hiện đại 2) là một trò chơi điện tử thể loại Bắn súng góc nhìn thứ nhất, được phát triển bởi Infinity Ward và phát hành bởi Activision. Trò chơi được chính thức ra mắt vào ngày 11 tháng 2 năm 2009 và phát hành trên toàn thế giới vào ngày 10 tháng 11 cùng năm. Đây là phần thứ sáu của loạt trò chơi Call of Duty và tiếp tục cùng một cốt truyện với Call of Duty 4: Modern Warfare.

Modern Warfare 2 đã nhận được đánh giá tích cực từ các trang web chơi game khác nhau. Trong thời hạn 24 giờ phát hành, trò chơi đã bán được khoảng 4,7 triệu bản ở Bắc Mỹ và Vương quốc Anh. Ngày 3 tháng 8 năm 2011, Activision đã xác nhận rằng trò chơi đã bán được hơn 22 triệu bản trên toàn thế giới và nó là trò chơi bán chạy nhất mọi thời đại ở cả Anh và Mỹ.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2016, bất kể nỗ lực của USMC và SAS, quân Ultranationalists (tổ chức dân tộc cực đoan) chiếm được Nga và tuyên bố Imran Zakhaev là một vị anh hùng dân tộc; một tượng đài của hắn được dựng lên ngay tại Quảng trường Đỏ. Trong khi đó, Vladimir Makarov, một trong những kẻ thân cận cũ của Zakhaev, bắt đầu chiến dịch chống lại Châu Âu bằng những vụ khủng bố dã man trong suốt 5 năm liền. Tại Afghanistan, Binh nhất Joseph Allen thuộc U.S. Army Ranger hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch chiếm lại một thành phố từ tay phiến quân. Ấn tượng bởi khả năng của Allen, Tướng Shepherd chiêu mộ anh vào hàng ngũ Task Force 141 – lực lượng chống khủng bố đa quốc gia dưới sự chỉ huy của ông. Trong khi đó, 2 thành viên khác thuộc đội 141, Đại úy John "Soap" MacTavish và Trung sĩ Gary "Roach" Sanderson đang thâm nhập vào một căn cứ không quân Nga nằm trên dãy núi Thiên Sơn để lấy lại module ACS (Attack Characterization System) từ một vệ tinh bị rơi.

Allen sau đó được CIA giao nhiệm vụ làm "tay trong" ở Nga: nhập bọn với Makarov trong vụ thảm sát dân thường ở sân bay quốc tế Zakhaev tại Moscow. Makarov đã biết trước danh tính của Allen và bắn chết anh trong lúc tẩu thoát, để lại cái xác nhằm dấy lên ngọn lửa chiến tranh giữa Nga và Mỹ. Cho rằng vụ tấn công khủng bố sân bay là do Mỹ ngầm tổ chức, Nga quyết định bất ngờ đổ quân lên đất Mỹ nhờ qua mặt được hệ thống vệ tinh. Việc này cho thấy module ACS mà Soap và Roach đem về đã bị quân Nga giải mã trước đó. Trung sĩ Foley dẫn đầu một đội Army Ranger bao gồm Binh nhì James Ramirez bắt đầu phòng thủ vùng ngoại ô phía Đông Bắc bang Virginia trước cuộc tấn công của quân đội Nga. Cả đội tiếp tục tiến đến thủ đô Washington đổ nát và cùng các đơn vị lính Mỹ ở đó chiến đấu giành lại thành phố.

Trong lúc này đội 141 đang tìm kiếm bằng chứng cho rằng Makarov là kẻ chủ mưu vụ thảm sát sân bay khi mà mọi bằng cớ đã biến mất cùng với cái chết của đặc vụ Allen. Tình báo dẫn dắt đội 141 đến một khu phố ổ chuột ở thành phố Rio de Janeiro, nơi cả đội thẩm tra đầu mối liên quan đến Makarov: một tay buôn vũ khí tên Alejandro Rojas. Từ nguồn tin của Rojas, đội tìm ra được kẻ thù lớn nhất của Makarov là một tù nhân mang số hiệu 627 đang bị giam giữ tại một nhà tù Nga. Task Force 141 tấn công nhà tù và giải cứu tù nhân này, hóa ra lại là Đại úy Price. Price đồng ý hỗ trợ Soap và Shepherd lần theo Makarov nhưng ông quyết định cần phải kết thúc cuộc chiến ở Mỹ trước tiên. Ông tự mình dẫn đội 141 tấn công một cảng chở hàng của Nga và chiếm quyền kiểm soát một tàu ngầm hạt nhân. Price dùng nó để phóng đầu đạn xuyên lục địa đến Washington, thiết lập đầu đạn này nổ trên tầng khí quyển. Vụ nổ đã vô tình phá hủy trạm không gian quốc tế (International Space Station) tạo ra màn EMP vô hiệu hóa toàn bộ các phương tiện chiến đấu và trang thiết bị điện tử của cả 2 phe, đồng thời tạo một chút ưu thế cho quân Mỹ. Quay trở lại mặt đất, Ramirez và đồng đội tìm nơi ẩn nấp khỏi các chiến đấu cơ rơi xuống mặt đất do ảnh hưởng EMP, sau đó đội tiến về Nhà Trắng. Tại đó, họ nhận thông điệp rằng không quân đang chuẩn bị ném bom cả thành phố để ngăn quân Nga chiếm đóng. Dưới sự chỉ huy của Foley, cả đội chiếm lại Nhà Trắng và đốt pháo hiệu kịp lúc để hủy vụ ném bom. Cùng lúc đó, pháo hiệu từ các điểm khác trong thành phố đồng loạt được đốt lên báo hiệu thủ đô đã về tay quân Mỹ.

Tìm ra được 2 nơi ẩn nấp của Makarov, TF 141 quyết định tách ra. Price và Soap đến bãi phế liệu máy bay ở Afghanistan trong khi Roach và Trung úy Simon "Ghost" Riley đột kích nhà riêng Makarov nằm tại biên giới Nga và Georgia. Tại đó, Roach và đồng đội thu thập được nhiều thông tin quan trọng trên máy tính của Makarov và rút lui dưới sự truy đuổi của bọn thuộc hạ Makarov. Tuy nhiên khi họ đến điểm rút lui thì bị Shepherd phản bội. Hắn lấy toàn bộ thông tin thu thập được, giết và thiêu xác Roach và Ghost. Price và Soap nhanh chóng biết được tin, mặc dù Price cho rằng ông không bị phản bội vì ông chưa bao giờ tin Shepherd. Cả 2 tẩu thoát thành công trong vòng chiến giữa quân Shepherd và Makarov với sự giúp đỡ của Nikolai.

Sau khi liên lạc với Makarov và đề nghị giết Shepherd hộ, Makarov bất đắc dĩ phải nói ra nơi ẩn náu của Shepherd tại một căn cứ trên núi ở Afghanistan mang mật danh Site Hotel Bravo. Price cùng Soap đột kích căn cứ này để trả thù cho các đồng đội, dù họ biết đây là nhiệm vụ tự sát. Shepherd sau đó tìm cách trốn thoát trên canô Zodiac và cuộc rượt đuổi bằng canô bắt đầu. Đỉnh điểm diễn ra khi Shepherd đã leo lên được trực thăng Pave Low nhưng Price đã bắn vào cánh quạt làm cho máy bay rơi. Price và Soap cũng lao thẳng xuống thác nước gần đó. Soap tỉnh dậy, choáng váng tiến đến chiếc Pave Low bị rơi với mỗi con dao trên tay. Thấy Shepherd thoát ra khỏi đống đổ nát, Soap đuổi theo để giết hắn, nhưng Shepherd đánh trả và đâm một nhát dao vào ngực Soap. Shepherd rút súng ra định kết liễu Soap, Price liền xông ra đánh tay đôi với Shepherd. Soap nhận ra Shepherd đang chiếm ưu thế, anh cố rút con dao trên ngực ra và phóng vào ngay mặt Shepherd, giết hắn tại chỗ. Price dần tỉnh lại rồi kiểm tra vết thương của Soap, lúc đó Nikolai lái trực thăng Little Bird đến để đưa 2 người về. Nikolai cảnh báo rằng cả 2 đang bị truy nã nhưng Price khăng khăng bảo Soap cần được cứu chữa, Nikolai nói rằng anh biết một nơi an toàn có thể cho Price và Soap ẩn nấp.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội Task Force 141 - Quân đội đa quốc gia:
    • Shepherd - là người đóng vai trò quan trọng trong Task Force 141 cũng như các sự kiện của game. Chính ông ta là người bày ra âm mưu dẫn tới các sự kiện đẫm máu và cả cuộc chiến giữa Nga và Mỹ với mong muốn trở thành vị anh hùng của nước Mỹ mới. Shepherd bị Đại úy MacTavish tiêu diệt trong ngày thứ 7 của cuộc khủng hoảng 2016.
    • Đại úy John Price - là nhân vật chính trong series Call of Duty: Modern Warfare, đội trưởng của đội Task Force 141.
    • Đại úy John "Soap" MacTavish - đội phó của đội 141, là người tiêu diệt Shepherd.
    • Trung sĩ Gary "Roach" Sanderson - nhân vật mà người chơi có thể điều khiển được.
    • Trung úy Simon "Ghost" Riley - là người đóng vai trò chỉ huy sau Soap và là chuyên gia kỹ thuật của đội.
    • Binh nhất Joseph Allen - người được đích thân Shepherd tuyển vào Task Force 141 để thâm nhập vào hàng ngũ của Makarov.
    • Nikolai - một thành viên trong đội 141, có thể lái các loại máy bay.
    • Ngoài ra còn có hơn 80 nhân vật khác đóng vai trò phụ.
  • Đội U.S. Army Ranger - Biệt kích Hoa Kỳ:
    • Trung sĩ Foley - đội trưởng của đội Army Ranger.
    • Hạ sĩ Dunn - một thành viên trong đội Army Ranger.
    • Binh nhì James Ramirez - nhân vật mà người chơi có thể điều khiển được.
  • Nhân vật khác:
    • Vladimir Makarov - một trùm khủng bố ác độc, mục tiêu chính của đội 141.
    • Alejandro Rojas - trùm buôn lậu vũ khí ở Rio de Janeiro, Brazil.
    • Viktor - thành viên trong nhóm khủng bố của Makarov.
    • Anatoly - thành viên trong nhóm khủng bố của Makarov.
    • Lev - thành viên trong nhóm khủng bố của Makarov.
    • Kiril - thành viên trong nhóm khủng bố của Makarov.

Phần chơi đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Logo của Modern Warfare 2.

Người chơi đảm nhiệm vai trò của các nhân vật khác nhau trong chiến dịch chơi đơn, thay đổi nhân vật trong suốt quá trình tiến triển của câu chuyện. Mỗi nhiệm vụ sẽ có mục tiêu được hiển thị trên màn hình, đánh dấu vị trí và khoảng cách mục tiêu đó. Thiệt hại cho người chơi được thể hiện bằng máu xuất hiện trên màn hình. Sức khỏe của người chơi tái tạo theo thời gian. Có nhiều nhiệm vụ khác nhau, ví dụ tiêu diệt tất cả các kẻ thù ở một vị trí quy định để bảo vệ một mục tiêu nào đó, hoặc đặt thuốc nổ phá thiết bị của đối phương. Người chơi được đi kèm với đồng đội. Ở các địa điểm có các máy tính xách tay có chứa thông tin đối phương xuất hiện trong suốt chiến dịch.

Phần chơi trực tuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ trực tuyến của Modern Warfare 2 vẫn giữ được điểm kinh nghiệm và hệ thống khen thưởng như Call of Duty 4, với chế độ chơi bao gồm Free-For-All (Đấu đơn), Search & Destroy (Tìm và tiêu diệt), Demolition (Phá hủy), Domination (Kiểm soát), Team Deathmatch (Đấu đội), và Capture The Flag (Chiếm cờ). Modern Warfare 2 cũng giới thiệu một số tính năng mới: vũ khí, thiết bị, bản đồ. Khi tiêu diệt được đối phương sẽ có các phần thưởng tương ứng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Call of Duty 4: Modern Warfare – MobyGames”. MobyGames. 16 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2009. 
  2. ^ “Classification Database – CALL OF DUTY: MODERN WARFARE 2 (MA 15+)”. OFLCA. Ngày 28 tháng 10 năm 2009. [liên kết hỏng]
  3. ^ “MODERN WARFARE 2 rated 18 by the BBFC”. British Board of Film Classification. 28 tháng 10 năm 2009. 
  4. ^ Leigh Alexander (27 tháng 4 năm 2010). “Square Enix Creates Separate Branding For Mature Titles In Japan”. Gamasutra. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  5. ^ “Entertainment Software Rating Board”. ESRB. Ngày 28 tháng 10 năm 2009. 
  6. ^ “Games Classification Update No. 49 November 2009”. OFLCNZ. 28 tháng 10 năm 2009. 
  7. ^ “US, Japan, Australia, and UK releases of the Modern Warfare 2 video game - giantbomb.com”. Giantbomb. Ngày 28 tháng 10 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]