Cam Lộ (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cam Lộ
Địa lý
Huyện lỵ {{{Huyện lỵ}}}
Vị trí: tây bắc tỉnh Quảng Trị
Diện tích: 346,9 km²
Số xã, thị trấn: 08 xã, 1 thị trấn
Dân số
Số dân: 46.300 (2003)
Mật độ: 134 người/km²
Thành phần dân tộc: Người Việt, Bru - Vân Kiều
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Bí thư Huyện ủy:
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: (84) (053).3871535
Số fax trụ sở: (84) (04)
Website: http://www.quangtri.gov.vn/


Cam Lộ là một huyện ở phía tây bắc tỉnh Quảng Trị. phía đông giáp thành phố Đông Hà, phía tây giáp huyện Hướng Hóa, phía nam giáp huyện Triệu Phong, phía bắc giáp huyện Gio Linh. Có sông Cam Lộ (sông Hiếu) chảy qua. Cam Lộ là địa bàn có nhiều tuyến giao thông quan trọng đi ngang qua: Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, Đường 9, tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, đường xuyên Á từ Lào về cảng Cửa Việt

Dân số, hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích 346,9 km². Dân số 46.300 người (2003), gồm các dân tộc: Kinh, Bru - Vân Kiều.

Gồm thị trấn Cam Lộ (huyện lị) và 9 xã: Cam Thành, Cam An, Cam Thanh, Cam Thủy, Cam Tuyền, Cam Hiếu, Cam Chính, Cam Nghĩa, Cam Trung.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dấu tích cư trú của người nguyên thủy thời hậu kỳ đồ đá cũ được tìm thấy chủ yếu ở khu vực Tân Sở - vùng Cùa, gồm nhiều công cụ làm bằng đá quacdit có hình thù đặc trưng cho thời kỳ văn hóa Sơn Vi (niên đại từ 2 đến 3 vạn năm về trước); tại các hang Dơi (Tân Lâm - xã Cam Thành) tìm thấy một số công cụ chặt, chày nghiền... làm bằng đá và một số dụng cụ làm bằng xương, đồ gốm đặc trưng văn hóa Hòa Bình (niên đại từ 1,5 đến 2 vạn năm về trước); ở "Đồi không tên" (Tân Lâm) phát hiện dấu tích của một công xưởng chế tác công cụ đá lửa (Silic) của người nguyên thủy thuộc hậu kỳ đá mới, cách ngày nay chừng 5.000 năm.

Đến thời Trần - Lê (thế kỷ XIV - XVI) đã có người Việt vào cư trú ở Cam Lộ dọc theo bờ sông Hiếu và tên Cam Lộ cũng xuất hiện từ đó, được gọi là nguồn Cam Lộ. Nguồn Cam Lộ có 2 châu Sa BôiThuận Bình. Đến thời các Chúa Nguyễn, chính sách khẩn hoang lập làng được đẩy mạnh hơn đã phát triển khu cư trú về phía nam sông Hiếu đến vùng gò đồi và một số làng được thành lập ở Cùa đầu thế kỷ XVII.

Năm 1803, sau khi đánh bại Tây Sơn và lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long lấy các huyện: Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh để lập ra doanh Quảng Trị và phía tây đặt đạo Cam Lộ, lỵ sở đóng tại làng Nghĩa An, tổng An Lạc (Thuộc vùng đất xã Cam An ngày nay).

Năm 1831 vua Minh Mạng đổi đạo Cam Lộ thành phủ Cam Lộ. Trong triều đại này, năm 1829 (Minh Mạng thứ 10) thành Vĩnh Ninh cũng được xây dựng tại làng Cam Lộ (Nay là di tích Khu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam)

Năm 1851 vua Tự Đức đổi đạo Cam Lộ thành bảo Cam Lộ. Cũng thời kỳ này (1883 -1885) Sơn phòng Tân Sở được xây dựng tại Vùng Cùa. Vào niên hiệu Đồng Khánh (1886-1888) huyện Cam Lộ có 3 tổng: Tổng An Lạc gồm các xã Cam An, Cam Thanh và Thị xã Đông Hà ngày nay; tổng Cam Đường (đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945 đổi tên thành tổng Cam Vũ) gồm các xã Cam Hiếu, Cam Thủy, Cam Thành, Cam Tuyền và thị trấn Cam Lộ; tổng Mai Lộc bao gồm các xã Cam Chính, Cam Nghĩa.

Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, ngày 17/5/1958 chính quyền cho lập quận Cam Lộ.

Trong Chiến tranh Việt Nam, huyện Cam Lộ là một đơn vị hành chính có tổ chức Đảng, các đoàn thể và chính quyền cách mạng.

Ngày 11/3/1977 huyện Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh được sáp nhập lại thành huyện Bến Hải, trực thuộc tỉnh Bình Trị Thiên.

Ngày 19/8/1991 huyện Cam Lộ được lập lại trên cơ sở tách 8 xã nguyên thuộc huyện Cam Lộ được sát nhập vào thị xã Đông Hà năm 1981, với dân số 44.232 người và diện tích 346/9 km2.

Cùa[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Cam Lộ có vùng Cùa nổi tiếng. Cùa là tên gọi từ xưa, nghe âm vang chất dân dã và hoang vu, còn trên bản đồ hành chính, đây là địa bàn hai xã Cam Chính và Cam Nghĩa thuộc huyện Cam Lộ, Quảng Trị. Từ ngã ba quốc lộ 9 vào Cùa, ngày xưa là con đường đất đỏ, giữa cằn cỗi gió nắng, đất xứ Cùa lại mỡ màu với những vườn cây trái, Vào tới trung tâm vùng Cùa sẽ thấy bóng tán mít vây bọc những vuông vườn dâu da, cam, bưởi, ổi[1]. Từ xa xưa, vùng đất Cùa được xem là xứ hồ tiêu và nức tiếng với các loại sản vật như mít ngọt, chè xanh, măng khô, mộc nhĩ[2].

Di tích lịch sử - văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Chợ phiên Cam Lộ, Di tích Tân Sở, Cầu Xoài Vĩnh Đại, Miếu Cây xoài Tam Hiệp, Khu chính Phủ Lâm Thời cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, Miếu An Mĩ, Nhà Tằm Tân Tường. Nhiều nơi tại Cam Lộ, các nhà khảo cổ tìm thấy dấu vết của cư dân người tiền sử sinh sống từ 1,5 vạn đến 3 vạn năm về trước.

Các làng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cam Hiếu (10 thôn): Vĩnh An, Thạch Đâu, Bích Giang, Vĩnh Đại, Trương Xá, Định Xá, Mộc Đức, Tân Trúc, Đường 9, Tân Hiếu.
  • Thị trấn Cam Lộ: Trung Viên, Thượng Viên, Nghĩa Hy, Thiết Tràng, Nam Hùng, Thượng Nguyên
  • Cam Thủy: Cam Vũ, Cam Vũ 2, Cam Vũ 3, Thiện Chánh, Tân Xuân, Lâm Lang, Lâm Trang, Vĩnh Đại, Tam Hiệp 1, Tam Hiệp 2, Tam Hiệp 3, Tam Hiệp 4,Tam Hiệp 5
  • Cam Nghĩa: Bảng Sơn, Quật Xá, Tân Sơn, Cam Lộ Phường, Cu Hoan, Nghĩa Phong
  • Cam Chính (14 thôn): Mai Lộc 1, Mai Lộc 2, Mai Lộc 3, Mai Đàn, Cồn Trung, Minh Hương, Tân Chính, Đốc Kinh, Lộc An, Thiết Xá, Thượng Nghĩa, Trung Chi, Sơn Nam, Thanh Nam.
  • Cam Tuyền (12 thôn): Đâu Bình 1, Đâu Bình 2, Tân Hoà, Tân Quang, Xuân Mỹ, Bắc Bình, Tân Hiệp, Bản Chùa, Ba Thung, An Thái, An Mỹ, Bích Lộ.
  • Cam Thành: Cam Phú 1, Cam Phú 2, Cam Phú 3, Tân Tường, Quật Xá, Tân Mỹ, Tân Định, Phước Tuyền, An Hưng, Phan Xá
  • Cam Thanh: An Bình, Cam Lộ, Phú Ngạn
  • Cam An: Kim Đâu, Cẩm Thạch, An Xuân, Phi Thừa, Phổ Lại, Mĩ Hòa, Trúc Kinh, Trúc khê, Xuân Khê

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Các đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Trị-Việt Nam
Thành phố (1): Đông Hà (tỉnh lị)
Thị xã (1): Quảng Trị
Huyện (8): Cam Lộ | Cồn Cỏ | Đa Krông | Gio Linh | Hải Lăng | Hướng Hóa | Triệu Phong | Vĩnh Linh