Cam thảo dây

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cam thảo dây
Abrus precatorius pods.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Fabales
Họ (familia) Fabaceae
Phân họ (subfamilia) Faboideae
Tông (tribus) Abreae
Chi (genus) Abrus
Loài (species) A. precatorius
Danh pháp hai phần
Abrus precatorius
L., 1753

Cam thảo dây còn gọi là cườm thảo đỏ, chi chi, cườm cườm, tương tư đằng, tương tư thảo, cảm sảo (tiếng Tày), hương tư tử (香 思 子 -tiếng Trung) với danh pháp hai phần: Abrus precatorius, là một loài dây leo thuộc họ Đậu với các lá hình lông chim dài bao gồm nhiều lá chét mọc so le. Hoa màu hồng, mọc ở kẽ lá. Quả thuộc loại quả đậu dẹt chứa từ 3-7 hạt hình trứng màu đỏ đốm đen. Hạt của nó hay được dùng để làm chuỗi tràng hạt hay trong các bộ gõ (âm nhạc). Hạt của nó chứa các chất có độc tính cao nhưng khó gây tổn thương cho cơ thể nếu nuốt phải hạt tươi còn nguyên vỏ do lớp vỏ này khá cứng và khó bị phá vỡ. Toàn cây có vị ngọt. Loài cây này mọc hoang nhiều ở vùng rừng núi cũng như ven biển.

Abrus precatorius trong Medicinal-Plants của Koehler.

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Các chất độc có trong Abrus precatorius gọi là abrin và rất giống với ricin. Nó là một chất nhị trùng bao gồm hai cấu trúc dưới phân tử protein, gọi là A và B. Chuỗi B có tác dụng "gắn" abrin vào tế bào: nó liên kết với các protein vận chuyển trong màng tế bào để sau đó vận chuyển chất độc vào trong tế bào. Khi đã ở trong tế bào, chuỗi A năn cản việc tổng hợp bằng cách thụ động hóa cấu trúc dưới phân tử 26S của ribosom. Một phân tử abrin sẽ làm cho khoảng 1.500 ribosom bị thụ động trên 1 giây. Các triệu chứng ngộ độc là y như ngộ độc ricin, ngoại trừ liều gây tử vong của ricin là khoảng 75 lần cao hơn của abrin. Abrin có thể giết chết người với số lượng lưu thông nhỏ hơn 3 μg (microgam).

Y-Dược[sửa | sửa mã nguồn]

Trong y học cổ truyền, theo trang Web của lương y Nguyễn Kỳ Nam người ta dùng rễ, dây và lá được thu hái vào mùa thu-đông, tốt nhất lúc cây mới ra hoa. Dùng dạng tươi hoặc phơi, sấy khô. Hạt độc nên chỉ dùng ngoài cơ thể.

Thành phần hóa học: Trong hạt có protein độc: L(+) abrin, glucozit abralin, hemagglutinin làm vón máu, N-mêtyl tryptophan, men ureasa. Rễ và dây có lá chứa glycyrrhizin.

Dùng chữa ho, cảm sốt, vàng da (hoàng đản) do viêm gan siêu vi trùng, giải độc, vị ngọt nên dùng trong các đơn thuốc cho dễ uống. Ngày 8-16g rễ, dây, sắc. Hạt độc, giã đắp ngoài, sát khuẩn, tiêu viêm, làm mụn nhọt chống vỡ, trị vú sưng đau, tắc tia sữa.

Trang sức[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt của Abrus precatorius có giá trị trong việc làm đồ trang sức của một số dân cư bản địa nhờ màu sắc rực rỡ của nó. Một phần ba vỏ hạt (phần có rốn hạt) có màu đen, trong khi phần còn lại có màu đỏ tươi, giống như con bọ rùa. Việc làm đồ trang sức bằng hạt cam thảo dây là nguy hiểm, và đã có thông báo về các trường hợp tử vong do bị đâm vào tay trong khi khoan lỗ trên hạt để xỏ dây.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]