Campuchia thời thuộc địa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lịch sử Campuchia
Angkor Wat W-Seite.jpg

Phù Nam (thế kỷ 1- 550)
Chân Lạp (550-802)
Đế quốc Khmer (802-1432)
Thời kỳ hậu Angkor (1432-1863)
Thời thuộc địa (1863-1953)
Vương quốc Campuchia (1953-1970)
Cộng hòa Khmer (1970-1975)
Campuchia Dân chủ (1975-1979)
CHND Campuchia (1979-1993)
Vương quốc Campuchia (1993-nay)
sửa


Giai đoạn thuộc địa Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

កម្ពុជាសម័យអាណានិគម
Protectorat français du Cambodge

Campuchia thuộc Pháp
Chế độ quân chủ
Xứ bảo hộ của Pháp,
thuộc Liên bang Đông Dương

 

1863–1941

1945–1953

 

Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ (1863–1948) Huy hiệu Hoàng gia
Vị trí của Campuchia
Thủ đô Phnom Penh
Ngôn ngữ Pháp (chính thức), Khmer
Tôn giáo Phật giáo Tiểu thừa, Công giáo Rôma
Chính thể Chế độ quân chủ
Xứ bảo hộ của Pháp,
thuộc Liên bang Đông Dương
Vua
 - 1860–1904 Norodom I (đầu tiên)
 - 1941–1953 Norodom Sihanouk (cuối cùng)
Thời đại lịch sử Chủ nghĩa đế quốc mới
 - Xứ bảo hộ thành lập 1863
 - Sáp nhập vào Liên bang Đông Dương 1887
 - Nhật Bản chiếm đóng 1941
 - Bãi bỏ chế độ bảo hộ 1949
 - Độc lập 9 tháng 11, 1953
 - Hiệp định Genève 21 tháng 7, 1954

Xứ bảo hộ Campuchia là một phần của Đế quốc thực dân Pháp tại Đông Nam Á. Nó chính thức được thành lập năm 1867 khi vua Campuchia Norodom đề nghị thiết lập một chính quyền bảo hộ của Pháp trên toàn đất nước, trong khi đó Xiêm từ bỏ quyền lực của mình đối với Campuchia và chính thức công nhận sự bảo hộ của Pháp. Campuchia được hợp vào Liên bang Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1887 cùng với các xứ thuộc địa và bảo hộ Pháp ở Việt Nam (Nam KỳTrung Kỳ, Bắc Kỳ). Năm 1946, Campuchia được trao quyền tự chủ trong Liên hiệp Pháp và chế độ bảo hộ được bãi bỏ vào năm 1949. Lễ độc lập của Campuchia được tổ chức vào ngày 9 tháng 11 năm 1953.

Năm 1863 vua Norodom ký một hiệp ước chấp nhận sự bảo hộ của Pháp trên vương quốc. Dần dần đất nước này rơi vào quyền cai trị thuộc địa của Pháp trong Liên bang Đông Dương. Trong Thế chiến thứ hai, Nhật Bản cho phép Chính phủ Vichy của Pháp tiếp tục cai quản Campuchia và các lãnh thổ Đông Dương khác, nhưng họ cũng nuôi dưỡng chủ nghĩa quốc gia Khmer. Campuchia lại được hưởng một thời kỳ độc lập ngắn năm 1945 trước khi quân Đồng Minh tái lập quyền kiểm soát của Pháp. Vua Norodom Sihanouk, người từng được Pháp lựa chọn để kế vị vua Monivong năm 1941, nhanh chóng chiếm lấy vị trí chính trị trung tâm khi ông tìm cách trung lập hoá những người cánh tả và những đối thủ cộng hoà và cố gắng đàm phán những điều kiện có thể chấp nhận được để giành lấy độc lập từ tay người Pháp. "Cuộc thập tự chinh giành độc lập" của Sihanouk dẫn tới việc người Pháp miễn cưỡng bằng lòng trao lại chủ quyền cho ông. Một thoả thuận từng phần được đưa ra tháng 10 năm 1953. Sau đó Sihanouk tuyên bố rằng công việc đòi độc lập đã hoàn thành và thắng lợi trở về Nam Vang.

Các thống sứ Pháp ở Campuchia:

  1. Ernest Marc Louis de Gonzague Doudart de Lagrée: Tháng 4 năm 1863 đến tháng 7 năm 1866
  2. Armand Pottier: Tháng 7 năm 1866 đến 20 tháng 2 năm 1868
  3. Jean Moura: Ngày 20 tháng 2 năm 1868 đến ngày 10 tháng 3 năm 1870
  4. Armand Pottier (quyền): 10 tháng ba năm 1870 đến 11 tháng 11 năm 1870
  5. Jules Marcel Brossard de Corbigny (quyền): 11 Tháng Mười Một 1870-1 tháng Giêng năm 1871
  6. Jean Moura: 01 Tháng Một 1871 đến 06 tháng 1 1879
  7. Paul-Louis-Félix Philastre (Quyền): tháng năm 1876 đến 09 tháng 11 năm 1876
  8. Étienne François Aymonier (Quyền): 6 Tháng một năm 1879 đến 10 tháng năm 1881
  9. Augustin Julien Fourès: Ngày 10 tháng 5 năm 1881 đến 18 Tháng 10 năm 1885
  10. Jules Victor Renaud (Quyền): Ngày 12 tháng tám năm 1885 đến 16 tháng 10 năm 1885
  11. Pierre de Badens: 18 Tháng Mười năm 1885 đến ngày 17 tháng 5 năm 1886
  12. Georges Jules Piquet: 17 tháng năm 1886 đến 04 Tháng 11 năm 1887
  13. Louis Eugène Palasne de Champeaux (Quyền): Ngày 04 tháng 11 năm 1887 đến 10 tháng ba năm 1889
  14. Orsini (Quyền): 10 tháng ba năm 1889 đến ngày 04 tháng 7 1889
  15. Albert Louis Huyn de Vernéville: 04 Tháng Bảy 1889 đến 14 tháng năm 1897
  16. Félix Léonce Marquant (Quyền): 24 tháng Giêng năm 1894 đến 04 tháng 8 năm 1894
  17. Antoine Étienne Alexandre Ducos: 14 Tháng Năm 1897 đến 16 tháng 1 năm 1900
  18. Louis Paul Luce (Quyền): 16 Tháng Một, 1900 đến ngày 03 tháng 6 năm 1901
  19. Léon Jules Pol Boulloche: 3 tháng 6 năm 1901 đến 17 tháng 7 năm 1902
  20. Charles Pallier (Quyền): 17 Tháng 7 năm 1902 đến ngày 26 tháng 10 năm 1902
  21. Henri Félix de Lamothe: 26 tháng 10 năm 1902 đến 25 tháng Chín năm 1904
  22. Louis Jules Morel: 25 tháng 9 năm 1904 đến 16 Tháng 10 năm 1905
  23. Olivier Charles Arthur de Lalande de Calan (Quyền): 16 Tháng Mười 1905 đến 29 Tháng Mười Hai năm 1905
  24. Louis Paul Luce: 29 Tháng Mười Hai 1905-26 tháng Bảy năm 1911
  25. Ernest Amédée Antoine Georges Outrey: 26 Tháng 7, 1911 đến 25 tháng Bảy năm 1914
  26. Joseph Maurice Le Gallen: 25 tháng Bảy năm 1914 đến 22 tháng 10 năm 1914
  27. Francois Marius Baudoin: 22 tháng 1o năm 1914-20 tháng Giêng năm 1927
  28. Gaston René Georges Maspero (Quyền): Ngày 15 tháng 4 năm 1920 đến ngày 06 tháng mười hai 1920
  29. Hector Clair Henri Joseph Létang (Quyền): 6 Tháng Mười Hai 1920 đến 21 tháng 2 năm 1921
  30. Victor Édouard Marie L'Helgoualc'h (Quyền): Ngày 10 tháng 4 năm 1922 đến 8 tháng năm 1924
  31. Aristide Eugène Le Fol: 20 Tháng 1 1927 đến 01 Tháng 1 năm 1929
  32. Achille Louis Auguste Silvestre (Quyền): 1 tháng Giêng 1929-12 tháng Giêng năm 1929
  33. Fernand Marie Joseph Antoine La Vit: 12 Tháng 1 năm 1929 đến 04 tháng 3 năm 1932
  34. Achille Louis Auguste Silvestre: 4 tháng ba 1932-15 tháng Giêng năm 1935
  35. Henri Louis Marie Richomme (Quyền): 15 tháng 1 1935 đến 12 Tháng Mười Hai năm 1936
  36. Léon Emmanuel Thibaudeau: Ngày 12 tháng 12 1936 đến 29 Tháng Mười Hai, 1941
  37. Jean de Lens (Quyền): 29 Tháng Mười Hai năm 1941 đến ngày 02 tháng 3 năm 1943
  38. Georges Armand Léon Gauthier: 2 Tháng Ba 1943_Tháng 11 năm 1944
  39. André Joseph Berjoan (Quyền): Tháng 11 năm 1944 đến 09 Tháng Ba năm 1945
  40. Tadakame, Cố vấn Nhật tối cao: Tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945
  41. Edward Dymoke Murray, Tư lệnh Đồng Minh: 1945-1946
  42. André Joseph Berjoan (Quyền): Năm 1945 đến 15 Tháng 10 năm 1945
  43. Paul Huard, Ủy viên: Ngày 15 tháng 10 năm 1945 đến 10 tháng Tư năm 1946
  44. Romain Victor Pénavaire: 10 tháng Tư năm 1946 đến 20 tháng 5 năm 1947
  45. Léon Marie Adolphe Pascal Pignon: 20 Tháng Năm, 1947 đến ngày 20 Tháng 10 năm 1948
  46. Lucien Vincent Loubet: Ngày 20 tháng 10 năm 1948 đến 26 Tháng Hai năm 1949
  47. Léon Jean François Marie de Raymond: 26 Tháng Hai 1949 đến 29 tháng 10, 1951
  48. Yves Jean Digo: 29 Tháng Mười 1951 đến ngày 16 Tháng Năm năm 1952
  49. Jean Risterucci: 16 tháng năm 1952 đến 09 tháng 11 năm 1953.

Nhật Bản chiếm đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]