Canxi ôxít

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thuộc tính

Trật tự các nguyên tử Ca và O trong tinh thể CaO Thuộc tính chung

Tên gọi Ôxít canxi
Công thức hóa học CaO
Biểu hiện Chất rắn màu trắng

Vật lý

Phân tử gam 56,1 g/mol
Điểm nóng chảy 2572 °C (2845 K)
Điểm sôi 2850 °C (3123 K)
Tỷ trọng riêng 3,3-3,4 ×103 kg/m3
Cấu trúc tinh thể Lập phương tâm mặt
Độ hòa tan Phản ứng với nước

Nhiệt hóa học

ΔfH0khí 43,93 kJ/mol
ΔfH0lỏng −557,33 kJ/mol
ΔfH0rắn −635,09 kJ/mol
S0khí, 1 barơ 219,71 J/mol·K
S0lỏng, 1 barơ 62,31 J/mol·K
S0rắn 38,19 J/mol·K

An toàn

Tiêu hóa Nguy hiểm—kích thích hệ tiêu hóa, lượng lớn gây tử vong.
Hô hấp Nguy hiểm - kích thích; viêm phổi hóa học hoặc tử vong khi liều cao.
Da Kích thích và có thể gây bỏng.
Mắt Có thể sinh ra các tổn thương vĩnh viễn.
Thông tin thêm Cơ sở dữ liệu hóa chất nguy hiểm

Các đơn vị SI được sử dụng khi có thể. Nếu không có thông báo khác thì các điều kiện tiêu chuẩn được sử dụng.
Phủ nhận và tham chiếu

Ôxít canxi (công thức CaO, còn được biết đến với tên gọi canxia, các tên gọi thông thường khác là vôi sống, vôi nung) là một ôxít của canxi, được sử dụng rộng rãi. Nó có phân tử gam bằng 56,1 g/mol, hệ số giãn nở nhiệt 0,148 (đơn vị ?), nhiệt độ nóng chảy 2572 °C.

Nó là chất rắn có dạng tinh thể màu trắng và là một chất ăn da và có tính kiềm. Như là một sản phẩm thương mại thì vôi sống có chứa lẫn cả ôxít magiê (MgO), ô xít silíc SiO2 và mọt lượng nhỏ ôxít nhôm Al2O3 và các ôxít sắt.

Ôxít canxi thông thường được sản xuất bằng cách phân hủy bởi nhiệt (nung nóng) các loại vật liệu tự nhiên như đá vôi là khoáng chất chứa cacbonat canxi (CaCO3). Nó diễn ra khi vật liệu này bị nung nóng tới nhiệt độ khoảng 900°C (American Scientist), một quá trình mà người ta còn gọi là nung vôi, để loại bỏ điôxít cacbon theo một phản ứng hóa học không thuận nghịch. Các nhiệt độ thấp hơn có thể tạo ra phản ứng thuận nghịch, nó cho phép vật liệu bị nung thành vôi sống tái hấp thụ điôxít cacbon ở xung quanh để trở thành đá vôi. Đây là một trong số các phản ứng mà con người đã biết tới từ thời tiền sử: xem thêm lò nung vôi.

CaO cùng với BaO, SrO và MgO tạo thành nhóm ôxít kiềm thổ. Vôi sống là ôxít canxi nguyên chất, nó phản ứng mạnh với nước tạo thành canxi hyđrôxít hay vôi tôi. Canxi hyđrôxít trái lại, rất bền vững. Nguồn thu chất này có thể từ vôi bột trắng, wollastonit (CaSiO3), fenspat, colemanit, đôlômit. Vôi bột trắng là cacbonat canxi. Đôlômit (cacbonat magiê) là một khoáng chất cung cấp ôxít magiê cùng với CaO.

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Khi cho tác dụng với nước nó trở thành vôi tôi (Ca(OH)2), được sử dụng trong các loại vữa để làm tăng độ lên kết và độ cứng. Phản ứng này diễn ra rất mãnh liệt và tỏa nhiều nhiệt. Vôi sống cũng được sử dụng trong sản xuất thủy tinh và khả năng phản ứng của nó với các muối silicat cũng được sử dụng trong công nghiệp sản xuất kim loại/hợp kim ngày nay (thép, magiê, nhôm và một số kim loại màu khác) để loại bỏ các tạp chất dưới dạng xỉ.

Nó cũng được sử dụng trong xử lý nước và nước thải để làm giảm độ chua, để làm mềm như là chất kết bông và để loại bỏ các tạp chất phốtphat và các tạp chất khác; trong sản xuất giấy để hòa tan linhin, như là chất làm đông trong tẩy rửa; trong nông nghiệp để cải thiện độ chua của đất; và trong kiểm soát ô nhiễm - trong các máy lọc hơi để khử các khí thải gốc lưu huỳnh và xử lý nhiều chất lỏng. Nó là chất khử nước và được sử dụng để làm tinh khiết axít citric, glucoza, các thuốc nhuộm và làm chất hấp thụ CO2. Nó cũng được sử dụng trong công nghiệp sản xuất đồ gốm, xi măng, sơn và công nghiệp thực phẩm, trong đó nó đôi khi được sử dụng (kết hợp với nước) để làm nóng các mặt hàng như đồ ăn nhanh và cà phê.

Trong vật liệu gốm[sửa | sửa mã nguồn]

CaO được dùng trong vật liệu gốm nhóm trợ chảy. Ôxít canxi là loại trợ chảy cơ bản cho các loại men nung vừa và nung cao, nó bắt đầu hoạt động ở khoảng 1100 °C.

Ôxít canxi thường làm cho men sau nung cứng hơn, có độ chống trầy xước và ăn mòn axít tốt hơn. Độ giãn nở nhiệt của nó thuộc vào loại trung bình. Nếu chỉ trộn ôxít canxi và silica thì men vẫn khó nung chảy, tuy nhiên khi có sô đabồ tạt, ôxít canxi sẽ trở nên rất hoạt động. Độ cứng, tính ổn định và giãn nở nhiệt của các silicat natrikali hầu như luôn được cải thiện khi có CaO.

CaO là một chất trợ chảy có mức độ hoạt động trung bình ở mức 5-6 của que thăm nhiệt, nhưng rất hoạt động ở mức 10. Dưới mức 4, CaO không phải là một chất trợ chảy hiệu quả cho men nhưng nếu sử dụng với một lượng ít hơn 10% (trọng lượng?) thì nó có thể giúp tăng độ cứng và giảm thẩm thấu cho men. Trong các hệ men không chì, CaO giúp giảm hiện tượng vân rạn.

CaO có thể dùng làm giảm độ nhớt của men có hàm lượng silica cao, tuy nhiên nếu men chảy lỏng quá thì có thể dẫn đến hiện tượng hóa mờ (hiện tượng do kết tinh khi làm nguội), hiện tượng này là một điều mong muốn khi cần tạo một số hiệu quả đặc biệt trên men (như độ xỉn) và là không mong muốn nếu yêu cầu men trong, bóng.

Men có hàm lượng ôxít canxi cao thường "nhạy màu". Ví dụ, khi thêm ôxít sắt ba, ôxít canxi có thể kết hợp với Fe2O3 tạo ra các tinh thể cho màu vàng, men trở thành xỉn. Nếu trong men không có ôxít canxi, men sẽ có màu nâu và bóng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]