Cao Bằng (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cao Bằng (thị xã))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Bằng (thành phố)
Địa lý
Trực thuộc tỉnh Cao Bằng
Vị trí Trung tâm của tỉnh Cao Bằng
Diện tích 107,6281 km²[1]
Số xã/phường 9 phường, 3
Dân số
Dân số 84.421 người (2012) [1]
 - Thành thị
 - Nông thôn
Mật độ 784 người/km2
Thành phần dân tộc người Tày, người Kinh
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân Hà Ngọc Chiến
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Nguyễn Hoàng Anh
Thông tin khác
Xếp loại đô thị 3 [2]
Thành phố Cao Bằng
Thành phố Cao Bằng ở Việt Nam
Thành phố Cao Bằng
Vị trí Thành phố Cao Bằng trên bản đồ Việt Nam
Tọa độ: 22°41′B 106°17′Đ / 22,683°B 106,283°Đ / 22.683; 106.283
Quốc gia  Việt Nam

Thành phố Cao Bằng là tỉnh lị của tỉnh Cao Bằng, Việt Nam. Tháng 10 năm 2010 thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III[3] Ngày 26 tháng 9 năm 2012, đô thị này được nâng cấp lên thành phố.[4]

Thành phố Cao Bằng nằm gần như giữa trung tâm địa lí của tỉnh.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 9 năm 1981, giải thể 4 tiểu khu cũ (Sông Bằng, Sông Hiến, Nội Thị, Nà Phía) để thành lập 4 phường: Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang, Hợp Giang và 3 xã: Ngọc Xuân, Hòa Chung, Duyệt Chung[5]. Ngày 4 tháng 10 năm 2002, chuyển xã Đề Thám thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý[6]. Từ đó đến năm 2010, thị xã Cao Bằng có 4 phường và 4 xã. Ngày 1 tháng 11 năm 2010, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thị xã Cao Bằng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thị xã Cao Bằng có 10.760,93 ha diện tích tự nhiên và 67.415 nhân khẩu; bao gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc

8 phường:

  1. Hợp Giang,
  2. Sông Bằng,
  3. Tân Giang,
  4. Sông Hiến,
  5. Đề Thám,
  6. Ngọc Xuân,
  7. Duyệt Trung,
  8. Hòa Chung,

3 :

  1. Chu Trinh,
  2. Hưng Đạo,
  3. Vĩnh Quang.

[7], Trong đó các phường Đề Thám, Ngọc Xuân, Duyệt Trung, Hòa Chung được thành lập lần lượt vào các năm 20102012 trên cơ sở các xã có tên tương ứng; 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo và Vinh Quang được chuyển từ huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng. Ngày 26 tháng 9 năm 2012, Chính phủ Việt Nam đã quyết định chuyển thị xã Cao Bằng thành thành phố Cao Bằng.[8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Cao Bằng từng chịu thiệt hai nặng nề trong chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979

Kinh tế - Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến hết nhiệm kỳ 2005-2010, Thị xã đã có 10/16 mục tiêu đạt và vượt kế hoạch.[9] Trong đó, giá trị sản lượng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2006 đạt 33,049 tỷ đồng, năm 2007 đạt 36,03 tỷ đồng. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 560 tỷ đồng, năm 2010 ước đạt 1.200 tỷ đồng. Sản xuất nông, lâm nghiệp đạt 39,4 triệu đồng/ha/năm. Tổng mức đầu tư­ ư­ớc đạt trên 1.000 tỷ đồng; Thu ngân sách địa phư­ơng năm 2006, đạt 43,329 tỷ đồng, năm 2010 ước đạt 76,874 tỷ đồng, bình quân tăng 15,5%/năm. 9 trư­ờng đạt chuẩn Quốc gia, đạt 46% so với mục tiêu Đại hội XV đề ra; 8/8 trạm y tế xã, phư­ờng có bác sĩ; 89% hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 63% tổ, xóm và 92% cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa. Thị xã hoàn thành xóa nhà tranh tre, dột nát; Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 899 hộ năm 2006 xuống còn 290 hộ năm 2009, chiếm 1,74%, năm 2010, ­ước giảm còn 1,25%, đời sống dân cư­ đư­ợc cải thiện rõ rệt, tăng số hộ khá, giàu. Đảng bộ tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo lấm g­ương đạo đức Hồ Chí Minh”. Toàn Đảng bộ kết nạp được 534 đảng viên mới, đạt 106,8% KH. Thị xã cơ bản đạt tiêu chí đô thị loại III (đạt 33 tiêu chí với tổng điểm 82,01 điểm)...

Trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ thị xã (nay là Thành phố) tập trung thực hiện 16 mục tiêu chủ yếu: Tiếp tục đẩy nhanh tỷ trọng CN - TTCN (chiếm trên 50% tỷ trọng CN - TTCN trên địa bàn); tốc độ tăng trư­ởng kinh tế bình quân đạt 17%/năm trở lên; giá tri sản xuất CN – TTCN tăng bình quân 20%/năm; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng từ 16% trở lên/năm; phấn đấu giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dư­ới 1,2%, tăng hộ khá, giàu; hàng năm có trên 80% chi, đảng bộ cơ sở đ­ược công nhận trong sạch vững mạnh, không có chi, đảng bộ yếu kém; trên 70% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, phấn đấu kết nạp 600 đảng viên mới trở lên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]