Cao Văn Khánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980) là một tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông qua đời vì bị bệnh ung thư gan và được xác định gây nên bởi di chứng của chất diệt cỏ Dioxin.

Thuở thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1917 tại Huế, trong một gia đình quý tộc trí thức của triều Nguyễn. Được giáo dục theo văn hóa Pháp, thời trẻ, ông từng sang Pháp học bằng Cử nhân Luật và tham gia phong trào Hướng đạo Pháp. Cũng tại đây, ông có những tiếp xúc với một số trí thức trẻ như Phan Anh, Tạ Quang Bửu.... Chính vì vậy, sau khi tốt nghiệp về Việt Nam, nhưng ông lại không làm nghề luật mà trở thành một giáo sư tư thục ở Huế, và tiếp tục tham gia phong trào Hướng đạo Trung Kỳ.

Con đường binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, do sự vận động của Phan AnhTạ Quang Bửu, ông tham gia trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến[1].

Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông trở thành Trung đội trưởng rồi Đại đội trưởng Giải phóng quân của Việt Minh ở Huế.

Khi quân Pháp nổ súng tại Nam Bộ, ông được cử theo đội quân Nam tiến, tiến quân vào Bình định và trở thành Ủy viên quân sự tỉnh Bình Định.

Cuối năm 1945, ông được cử làm Khu trưởng Khu V (với Chính ủy là Trần Lương, chính là tướng Trần Nam Trung sau này), rồi chỉ huy phó phân sở của Ủy ban Hành chính Kháng chiến miền Nam (do Nguyễn Sơn làm Chủ tịch), phụ trách các tỉnh từ Phú Yên đến Bình Thuận.

Giữa năm 1946, khi Đại đoàn 27 ra đời, ông được cử làm Đại đoàn phó, rồi Đại đoàn trưởng. Tháng 12 năm 1946, ông trở lại làm Khu trưởng Khu V một lần nữa.

Tháng 8 năm 1949, ông được điều về làm Đại đoàn phó cho Đại đoàn 308, Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng Tư lệnh [2], cùng tham gia chỉ huy của địa đoàn này trong nhiều chiến dịch lớn như Sông Thao 1949, Biên Giới 1950...

Đầu năm 1954, để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, ông chỉ huy một bộ phận của đại đoàn này, cơ động mở đường hành quân sang Lào, tấn công quân Pháp dọc tuyến sông Nậm Hu, nhằm tiêu hao lực lượng có khả năng tiếp viện và bịt trước đường rút lui dự kiến của binh đoàn Pháp tại lòng chảo Điện Biên.

Sau Hiệp định Genève, ông được điều về làm Cục trưởng Cục Quân huấn. Tháng 4 năm 1958, ông giữ chức Cục trưởng Cục tổ chức Kế hoạch, kiêm Cục trưởng Cục Nhà trường, thuộc Tổng cục Quân huấn [3]. Tháng 10 năm 1960, ông trở thành Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân, quân hàm Đại tá.

Tháng 3 năm 1964, ông được điều vào chức vụ Phó tư lệnh, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhằm mục đích chuẩn bị cho chiến trường miền Nam.

Từ năm 1966 đến 1969, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó tư lệnh của Chiến trường B3, Quân khu Trị Thiên, Quân khu IV. Đến tháng 5 năm 1970, ông được điều làm Tư lệnh Mặt trận 968 Hạ Lào, kiêm Phó tư lệnh Binh đoàn B70. Từ tháng 2 năm 1971, ông là Phó tư lệnh Mặt trận Đường 9 Nam Lào, rồi Tư lệnh Mặt trận B5, kiêm Phó tư lệnh Quân khu 4, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ tháng 12 năm 1972, ông trở thành Tư lệnh Quân khu Trị Thiên. Có thể nói, Cao Văn Khánh gắn bó với chiến trường miền Trung và Tây Nguyên suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, liên tục với các chiến dịch lớn như Đắc Tô (1966), Khe Sanh (1968), Đường 9 (1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên (1974).

Năm 1974, ông được điều về làm việc tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam với chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam và được thăng quân hàm Thiếu tướng (1974), rồi Trung tướng (1980), với nhiệm vụ thường trực, nắm tình hình chiến sự, truyền đạt các mệnh lệnh của Tổng tư lệnh đến các cánh quân, các lực lượng trên chiến trường. Ông giữ chức vụ này liên tục cho đến ngày qua đời.

Cuộc sống gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1949, trong buổi nói chuyện với các sinh viên trường Đại học Y khoa Việt Bắc, ông gặp một nữ sinh viên người đồng hương là Nguyễn Thị Ngọc Toản. Ngày 22 tháng 5 năm 1954, ông bà tổ chức đám cưới tại Điện Biên Phủ sau ngày chiến thắng, ngay trong hầm của tướng Christian de Castries.

Vợ của ông, bà Nguyễn Thị Ngọc Toản xuất thân trong gia đình quý tộc triều Nguyễn. Thân phụ của bà là ông Tôn Thất Đàn, từng giữ chức Thượng thư bộ Hình. Tên gốc của bà là Tôn Nữ Ngọc Toản. Người chị gái của bà là Tôn Nữ Thị Cung là phu nhân của Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ.

Bà Ngọc Toản hiện đang là Giáo sư, Bác sĩ Quân y, hàm Đại tá, Phó chủ tịch Hội phụ sản Việt Nam. Bà cũng là Ủy viên Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/Dioxin. Bà cũng là tác giả một số sách y học, với các chuyên đề về sinh sản và giới tính, kiến thức về bệnh ung thư gan... được người đọc đánh giá cao.

Ông bà có với nhau 4 người con, 3 trai 1 gái. Người con trai đầu tên là Cao Quý Vũ, là học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi [4], đã qua đời trong chiến tranh. Người con trai thứ là Cao Quý Bảo từng phục vụ bộ đội, đã rời ngũ và hiện là doanh nhân, chủ nhân khu Resort Vạn Chài ở Thanh Hóa. Người con gái duy nhất là Cao Thị Bảo Vân hiện là Viện phó Viện Paxtơ thành phố Hồ Chí Minh. Người con trai út là Cao Quý Anh đã qua đời vào năm 2003 do bệnh ung thư gan từ di chứng của Dioxin.

Bản thân tướng Cao Văn Khánh cũng được xác định qua đời do bệnh ung thư gan từ di chứng của Dioxin. Theo lời của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự kể với nhà báo Phùng Nguyên, trong một chuyến công tác qua huyện A Lưới – Thừa Thiên Huế, có 5 người gồm cả tướng Cao Văn Khánh, ông và 3 người nữa, đã có đi qua một khu vực bị rải Dioxin làm trụi lá cây. Sau chiến tranh, 4 người trong chuyến công tác ấy đều chết vì ung thư gan, riêng tướng Nguyễn Đôn Tự sinh một người con gái bị di chứng chất độc da cam, gây chậm phát triển.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cùng học tại đây với ông khi đó còn có Phan Hàm, Võ Quang Hồ, Đào Văn Liêu, Nguyễn Thế Lâm, Cao Pha, Đặng Văn Việt, Đoàn Huyên, về sau đều trở thành tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam
  2. ^ Vương Thừa Vũ làm Đại đoàn trưởng
  3. ^ Do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tổng cục trưởng
  4. ^ Trường dành cho con em cán bộ cao cấp đang công tác tại miền Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]