Châu Kiệt Luân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Link title

Châu Kiệt Luân
Jay Chou in Seoul.jpg
Jay Chou tại buổi công chiếu phim "Secret" ở Seoul, Hàn Quốc, 10/1/08
Phồn thể 周杰倫
Giản thể 周杰伦
Bính âm Zhōu Jiélún
Nguyên quán Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan)
Tên khác Jay Chou, Chu Đổng (周董)
Nghề nghiệp ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất, rapper, diễn viên
Loại hình Mandopop, R&B, hip hop, pop rap, C-pop, rock
Nhạc cụ Dương cầm, Cello, Ghi-ta
Hãng đĩa Sony BMG Châu Á, Alfa Music
JVR Music
Năm hoạt động 2000–nay
Jay Chou signature.gif
Ảnh hưởng từ Nam Quyền ma ma
Trang web chính thức jay2u.com
jvrmusic.com

Châu Kiệt Luân hay Jay Chou (Trung周杰倫 <周杰伦>/ Zhōu Jiélún, Wade-Giles: Chou Chieh-lun; Pe̍h-ōe-jī: Chiu Kia̍t-lûn; sinh ngày 18 tháng 1 năm 1979) là nhạc sĩ người Đài Loan đoạt giải thưởng âm nhạc thế giới, đồng thời là ca sĩ, nhà sản xuất nhạc.

Châu Kiệt Luân là một nhạc sĩ kiêm ca sĩ, nhà sản xuất, diễn viên và đạo diễn từng đạt giải âm nhạc thế giới. Năm 1998, anh được phát hiện trong một cuộc thi tài năng, nơi anh đã trình diễn kĩ năng chơi piano và khả năng viết bài hát của mình. Trong 2 năm kế tiếp, anh được thuê để sáng tác cho những ca sĩ Trung Quốc nổi tiếng. Với kiến thức về nhạc cổ điển, anh phối hợp phong cách nhạc Trung Hoa và phương tây để sáng tác những bài hát hợp nhất các thể loại R&B, rock, và pop, mà trong đó các chủ đề thường đề cập đến sự bạo lực, chiến tranh, và đô thị hóa của quê hương mình.

Năm 2000, anh cho ra album đầu tay mang tên Jay dưới tên nhà sản xuất là công ty Alfa Music. Từ đó về sau, anh phát hành đều đặn mỗi năm một album, bán được hàng triệu bản. Châu Kiệt Luân đã bán hơn 25 triệu album trên khắp thế giới. Trong năm 2007, anh được cho là một trong 50 người có ảnh hưởng nhất ở Trung Hoa (bởi Kerry Brown của Anh)[cần dẫn nguồn]. Giải thưởng này không được đa số người quan tâm. Anh đã đóng vai chính trong Ban đầu D (2005) và nhờ đó anh đã đoạt giải diễn viên mới xuất sắc nhất trong giải Kim Mã, và được tiến cử cho giải Diễn viên phụ hay nhất trong Lễ trao giải phim Hồng Kông trong phim Mãn thành tận đới hoàng kim giáp (Hoàng Kim Giáp 2006). Châu Kiệt Luân đang dồn tâm huyết vào sự nghiệp đạo diễn và đang điều hành công ty nhạc của chính mình mang tên JVR Music.

Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Kiệt Luân sinh ra và lớn lên tại hương Lâm Khẩu, huyện Đài Bắc nay là quận Lâm Khẩu, thành phố Tân Bắc, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Cha mẹ anh đều là giáo viên trường cấp II: mẹ anh là Diệp Huệ Mĩ (tiếng Trung: 葉惠美; bính âm: Yè Huìměi) dạy vẽ trong khi cha anh Châu Diệu Trung (tiếng Trung: 周耀中; bính âm: Zhōu Yàozhōng) là một thầy giáo sinh học. Mẹ anh đã phát hiện ra năng khiếu âm nhạc của con trai mình nên đã cho Châu Kiệt Luân học piano năm anh lên 4. Trong suốt thời thơ ấu, Châu Kiệt Luân đã bị hấp dẫn với việc thu âm và bái hát với máy thu âm mà anh luôn mang theo bên mình. Lên lớp 3, anh trở nên thích lí thuyết âm nhạc và cũng bắt đầu chơi cello. Châu Kiệt Luân thích chơi piano, bắt chước các diễn viên TV, và biểu diễn ảo thuật. Ba mẹ đã li dị khi anh 14 tuổi khiến anh trở nên nhút nhát và sống khép kín. Mặc dù anh có nhiều bạn, nhưng anh chỉ muốn một mình nghe nhạc, du ngoạn và mơ mộng. Anh bắt đầu thích thể loại pop và bắt đầu sáng tác bài hát.

Châu Kiệt Luân không đủ điểm để đỗ đại học, anh học quá tệ, nên bị buộc phải phục vụ nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, chấn thương trong lúc chơi thể thao đã gây nên một cơn đau lưng, một căn bệnh viêm xương sống di truyền khiến cho anh được miễn phục vụ quân sự. Sau đó, anh đã trở thành một người hầu bàn. Bạn anh đã ghi danh cho cả hai trong một kì thi tài năng được gọi là Super New Talent King mà đã không cho Luân biết. Luân đã chơi piano đệm cho bạn mình, người có giọng hát được cho là "lousy". Mặc dù họ không thắng nhưng Luân đã gây ấn tượng đến người tổ chức chương trình Ngô Tông Hiến, một nhân vật có ảnh hưởng trong lãnh vực giải trí Đài Loan. Ngô đã thuê anh như một nhạc sĩ và cho anh biểu diễn chung với nhà thơ trữ tình Phương Văn Sơn (tiếng Trung: 方文山; bính âm: Fāng Wénshān).

Trong suốt hai năm kế, Châu Kiệt Luân sáng tác bài hát cho các ca sĩ pop Trung Quốc, và học thu âm với trộn âm. Ngô không dự định cho Châu trở thành một ca sĩ bởi vì Ngô nghĩ rằng anh hay thẹn thùng và không điển trai. Xưởng nhạc của Ngô sau đó được bán cho Alfa Music, và giám đốc mới Dương Tuấn Vinh đề nghị Châu cho ra album của riêng mình. Châu đã có sẵn trong tay một chuỗi bài hát mà anh đã sáng tác cho các ca sĩ nhưng bị từ chối cho nên anh đã chọn 10 bài hát ở trong ấy cho đĩa CD mà Châu đã cho ra trong năm 2000. Album đã giúp Châu nổi tiếng như một nhạc sĩ kiêm ca sĩ với phong cách trộn lẫn nhiều thể loại nhạc (R&B, rap, nhạc cổ điển,...). Sự nổi tiếng của Châu lan truyền nhanh chong không chỉ trong những vùng Trung Hoa, mà còn khắp các quốc gia ở Nam Á. Từ năm 2000, Châu đã cho ra mỗi năm một album, bán được nhiều triệu bản, và được công nhân với hàng trăm giải thưởng. Năm 2003, anh được đưa lên làm trang bìa trong tạp chí Time (Châu Á), công nhận ảnh hưởng của Châu. Châu đã tổ chức bốn tours, "The One" (2002), "Uncomparable" (2004), "World Tour" (2007) và "The Era" (2010) biểu diễn ở những thành phố như Đài Bắc, Hồng Kông, Bắc Kinh, Kuala Lumpur, Singapore, Las Vegas, và Vancouver. Không giống hầu hết các ca sĩ, Châu không chỉ là nhạc sĩ mà còn là nhà sản xuất trong tất cả album của mình; từ nặm 2005 anh còn là đạo diễn âm nhạc cho video của mình và các ca sĩ khác.

Trong lúc tiếp tục sản xuất abum hàng năm, Châu cũng tham gia vào lãnh vực điện ảnh với vai trò như một diễn viên trong "Initial D", mà nhờ nó anh đã dành được danh hiệu Diễn viên mới hay nhất tại giải Kim Mã 2005. Trong những năm kế tiếp, Châu tham gia như một nhân vật thứ chính trong "bom tấn" Hoàng Kim Giáp, với những ngôi sao Trung Hoa như Châu Nhuận Phát và Củng Lợi. Tháng hai 2007, Châu cuối cùng vung đầy giấc mơ thơ ấu của mình trở thành đạo diễn trong Bí mật, trong đó anh đã vào vai chính. Tháng 3 2007, hợp đồng 8 năm với Alfa Music chấm dứt. Châu, quản lí của anh Dương Tuấn Vinh, và nhạc sĩ Phương Văn Sơn hợp tác thành lập công ty thu âm mới, JVR Music (Viết tắt tên của Jay, Vincent, Jun Rong) mà thông qua đó Châu sẽ có thể tiếp tục sự nghiệp âm nhạc của mình và nuôi dưỡng những tài năng những tài năng ca hát mới.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Những sáng tác của Châu phần lớn thuộc thể loại nhạc pop. Trong khi nhiều tác phẩm của anh lại rơi vào các thể loại R&B, rap, rock hiện đại. Thuật ngữ "phong cách họ Châu" (phồn thể: 周氏風格; bính âm: zhōu shì fēnggé)[2][3] được phổ biến để diễn tả phong cách nhạc pha trộn nhiều nền văn hóa của anh. Anh thường xuyên phối hợp nhạc cụ Trung Hoa với những phong cách như R&B hay rock để tạo nên một thể loại nhạc mới được gọi là "gió Trung Quốc" (phồn thể: 中國風; bính âm: Zhōngguó fēng), trong đó một vài bài hát được viết trên thang âm Pentatonic như trên thang âm 7 nốt để nhấn mạnh phong cách phương đông. Bên cạnh đó, anh còn phối hợp đàn ghi-ta Tây Ban Nha trong "Hồng mô phỏng" (phồn thể: 紅模仿; bính âm: hóng mófǎng), techno/electronica của Mĩ trong "Bản thảo cương mục" (phồn thể: 本草綱目; bính âm: Běncǎo Gāngmù), rap với phong cách nhạc cổ điển trong "Nghịch luân" (phồn thể: 逆鱗; bính âm: nìlín), và phong cách Bossanova trong "Mê điệt hương" (phồn thể: 迷迭香; bính âm: mídiéxiāng). Những ảnh hưởng âm thanh trong cuộc sống đời thường thêu dệt nên âm nhạc của Châu, như âm thanh quả banh bóng bàn, tiếng điện thoại reo, âm thanh của những cách quạt trực thăng, mưa, và tiếng ồn của rađio. Châu thường sáng tác những tác phẩm với âm hưởng cổ điển như đối âm trong tác phẩm "Chủ nghĩ hoàn hảo" (phồn thể: 完美主義; bính âm: wánměizhǔyì) và "Xin lỗi" (phồn thể: 對不起; bính âm: duìbuqǐ), và "phức điệu" trong "Vết thương của chiến tranh" (phồn thể: 止戰之殤; bính âm: zhǐ zhàn zhī shāng) và trong "Chương VII của đêm" (phồn thể: 夜的第七章; bính âm: yè de dì-qī zhāng).

Những album gần đây của Châu được cho rằng thiếu sự biến đổi so với các tác phẩm đầu tay của anh, nhưng anh đã kiên quyết khẳng định rằng anh sẽ không thay đổi phong cách của mình: "Họ nói rằng tôi đang bế tắc... nhưng đây là âm nhạc mà tôi muốn, và tôi không thấy điều tôi muốn bằng cách tiến lên phía trước...". Để bày tỏ quan điểm của mình, Châu đặt tên album phát hành năm 2006 Giống như Fantasy sau album anh đã phát hành năm 2000 Fantasy. Album này của anh đã bị chỉ trích là "(nói) lầm bầm" mà anh đã nhấn mạnh rằng anh sẽ không thay đổi. Tuy nhiên, gần đây Châu đã sử dụng cách phát âm rõ ràng hơn trong những tác phẩm như "Thiên lí chi ngoại" (phồn thể: 千里之外; bính âm: qiānlǐ zhīwài) và "Đài hoa cúc" (phồn thể: 菊花臺; giản thể: 菊花台; bính âm: júhuā tái).[4] mà anh cũng nhấn mạnh rằng sẽ không thay đổi;[5]

Hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Châu bắt đầu sự nghiệp sáng tác bài hát cho các ca sĩ và tiếp tục lãnh vực này ngay cả sau khi anh quyết định bước vào lãnh vực ca hát. Anh đã thường xuyên sáng tác cho Thái Y Lâm, Ôn Lam Ảnh (Landy Wen), và thỉnh thoảng cho các ca sĩ Đài Loan khác như Lý Mân, S.H.E, Từ Nhược Tuyên, Vương Lực Hoành, Lưu Canh Hoành, Hứa Như Vân, và các ngôi sao nhạc pop Lương Hán Văn, Lương Vịnh Kì, Trần Tiểu Xuân, Trần Quán Hi, Mạc Văn Uý, Cổ Cự Cơ, Trần Dịch Tấn, và Dung Tổ Nhi. Anh cũng sáng tác cho các ca sĩ thế hệ trước như Ngô Tông Hiến, sau đó là ca sĩ Đài Loan Giang Huệ, và các ca sĩ Hồng Kông Trương Học Hữu, Lưu Đức Hoa, Lữ Phương, Quách Phú Thành, và Chung Trấn Đào[6][7][8][9]. Anh thu nhận nhóm nhạc Nam Quyền Mama năm 2004, lựa chọn các thành viên nhóm nhạc và trông nom việc sản xuất album của họ. Nhóm nhạc Nam Quyền Mama được cho là có phong cách hòa âm rất giống với Châu;[10] kết quả là Châu phải giảm sự liên quan của mình vào nhóm,[11] nhưng anh vẫn tiếp tục giúp họ thu hút khán giả bắng cách mời họ tham gia những buổi hòa nhạc và video nhạc của mình.[12][13][14][15] Châu đã biểu diễn trực tiếp cùng với Ôn Lam[13], Thái Y Lâm,[16] và bạn gái cũ Hầu Bội Sầm[17], nhưng chỉ có hai bài hát được vào albums của anh: "Hải san hô" (tiếng Trung: 珊瑚海; bính âm: shānhú hǎi) năm 2005 với Lương Tâm Di (thành viên của nhóm Nam Quyền Mama)[18] và "Thiên lí chi ngoại" (tiếng Trung: 千里之外; bính âm: qiānlǐ zhīwài) năm 2006 với Phí Ngọc Thanh, người đã bắt đầu sự nghiệp của mình những năm 1970[19]. Bên cạnh làm việc với những ca sĩ, Châu còn hợp tác với nhà thơ trữ tình Phương Văn Sơn bởi vì họ cùng bắt đầu sự nghiệp âm nhạc năm 1998. Album Đối tác (phồn thể: 拍檔; giản thể: 拍档; bính âm: pāidàng) bao gồm 12 bài hát, mỗi bản gồm có sự phối hợp âm của Châu và lời nhạc của Phương[20]. Phương đã viết cho Châu hơn 40 bài hát, đóng vai trò là một nhà biên soạn chính trong quyển sách mang tựa đề là Grandeur de D Major (phồn thể: D調的華麗; giản thể: D调的华丽; bính âm: D diào de huálì), và bây giờ cả hai đang hợp tác phát triển công ty ghi âm JVR cùng với nhà quản lí của Châu, Dương Tuấn Vinh.[21][22][23]

Những công việc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Châu chính thức bước vào lĩnh vực điện ảnh vào năm 2005 với bộ phim Initial D (頭文字D). Trước đó anh đã tham gia diễn xuất trong 3 bộ phim, đạo diễn một bộ phim và một số video âm nhạc khác. Châu, người đã từng nói "Tôi sống cho âm nhạc"[24], mạo hiểm vào những bộ phim bởi vì anh cảm thấy cần thiết cho một thử thách mới. Do những fan hâm mộ lo lắng rằng anh sẽ làm hại sự nghiệp âm nhạc của mình, Châu đã cam đoan một lần nữa rằng phim ảnh là nguồn gốc cho sự cảm hứng và nó sẽ không làm hỏng sự nghiệp âm nhạc của anh. Cùng lúc đó, anh nhận thấy rằng mình cần cân bằng cả hai lĩnh vực cũng như sự nghiệp và duy trì vị trí của mình trong lĩnh vực âm nhạc để không làm mất sự ủng hộ của người hâm mộ.[25][26][27][28]

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bước đi vào diễn xuất được xem như là một bước đi không tưởng cho Châu[26]. Giáo viên anh văn của anh đã nghĩ rằng anh chỉ có khả năng đóng một số ít nhân vật[29], và đạo diễn của Tầm trảo Châu Kiệt Luân (Hidden Track, 2003) đã nói rằng tính cách cá nhân của Châu sẽ không giúp Châu trở thành một diễn viên chuyên nghiệp[30]. Trong năm 2005, Châu vào vai chính trong bộ phim Initial D với hai mục đích: Khởi đầu sự nghiệp diễn viên, và gia tăng danh tiếng của mình với các khán giả Nhật[31]. Bộ phim được viết dựa trên một bộ truyện cùng tên, trong đó Châu Kiệt Luân vào vai Fujiwara Takumi, một tay đua xe có tài năng, người hiếm khi biểu lộ cảm xúc của mình. Một số người xem phê bình diễn xuất ôn hòa của anh[32], trong khi nhiều người khác cảm thấy rằng anh đã diễn xuất rất tự nhiên, nhưng chỉ vì tính cách nhưng vật khá giống bản thân anh[33][34]. Tài năng diễn xuất của Châu đã giúp anh giành được giải Diễn viên mới xuất sắc nhất tại Giải Kim MãGiải thưởng Điện ảnh Hồng Kông[35][36]. Châu tham gia một vai phụ trong bộ phim bom tấn năm 2006, Hoàng Kim Giáp và đã gây được rất nhiều sự chú ý với các nhà phê bình Trung Quốc. Sự tham gia của Châu trong bộ phim này được công bố trong một buổi họp báo[37] riêng với buổi họp báo của Châu Nhuận Phát, Củng Lợi và các diễn viên khác. Châu thể hiện nhân vật Hoàng tử Nguyên Kiệt, một hoàng tử tham vọng và cũng là một vị tướng của quân đội Hoàng gia với tính cách tượng trưng cho "Hiếu", một trong những phẩm chất cổ điển Trung Hoa. Hoàng Kim Giáp được công chiếu trên khắp thế giới, đây là lần đầu tiên khán giả Bắc Mĩ biết đến Châu với tư cách một diễn viên điện ảnh. Diễn xuất của Châu được giới phê bình Trung Quốc đánh giá có cả "thiếu tính phức tạp"[38] cho đến "có thể chấp nhận được"[39][40] nhưng lại được tán dương nhiệt liệt từ những khán giả phương Tây[41][42][43][44][45]. Với vai diễn trong Hoàng Kim Giáp, Châu được đề cử diễn viên phụ hay nhất trong Giải thưởng điện ảnh Hồng Kông[46]. Trong bộ phim năm 2008, Kung Fu Dunk, Châu vào vai một võ sinh Kung Fu. Bộ phim có doanh thu hơn 100 triệu tệ (khoảng 14.7 triệu USD).[47] Châu thể hiện nhân vật Kato trong The Green Hornet, đạo diễn bởi Michel Gondry và phát hành tháng 1 năm 2011, sau khi diễn viên Hồng Kông Châu Tinh Trì rút khỏi dàn diễn viên chính. Bộ phim thu được 228 triệu USD trên toàn thế giới.[48] MTV Networks' NextMovie.com named him one of the 'Breakout Stars to Watch for in 2011'.[49]

Đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Châu đã vào vai trò đạo diễn lần đầu tiên trong những videos âm nhạc năm 2004. Ban đầu anh thử sức với bài hát mang tên "Nhà" được trình bày bởi nhóm Nam Quyền Mama (tiếng Trung:家; bính âm: jiā) nơi anh đã tham gia trong suốt toàn bộ quá trình từ nghiên cứu đến chỉnh sửa. Sau khi trải qua những khó khăn để trở thành đạo diễn, anh đã từ chối chỉ huy một lần nữa theo yêu cầu của chính công ty thu âm của mình[50]. Tuy nhiên, sở thích của anh lại nổi lên lần nữa và anh đã chỉ huy cho 4 videos âm nhạc trong 12 bài hát nằm trong album của mình Tháng 11 của Chopin năm 2005[51] và sau đó là những quảng cáo trên TV[52][53]. Gần năm 2006, anh chịu trách nhiệm cho cốt truyện, chỉ huy, và chỉnh sửa những video âm nhạc cho tất cả những bài hát của mình[25]. Việc đánh giá công việc của anh thì không rõ ràng bởi vì những video âm nhạc hiếm khi được các nhà phê bình để mắt đến. Tuy nhiên, đạo diễn Trương Nghệ Mưu đã nói rằng khả năng chỉ huy của Châu có thể vượt trội hơn cả ông trong tương lai sau khi ông xem những video âm nhạc của Châu[37][54].

Tháng 2 năm 2007, Châu đạo diễn tác phẩm đầu tay mang tựa đề Secret. Câu chuyện anh viết dựa trên mối quan hệ của anh với cô bạn gái trung học, với cốt truyện tập trung vào âm nhạc, tình yêu, và gia đình[55]. Anh đã vào vai chính trong bộ phim với Quế Luân Mĩ đóng vai nữ chính, và diễn viên kì cựu Hồng Kông Hoàng Thu Sinh với vai cha của Châu. Mặc dù với kinh nghiệm đạo diễn của mình trong những videos âm nhạc, Châu thừa nhận rằng chỉ đạo diễn xuất cho những bộ phim thì cam go hơn so với các video âm nhạc bởi vì những lời thoại và thời gian[55]. Bộ phim này đã được ra mắt vào tháng 7, 2007[56].

Sách: Grandeur de D Major[sửa | sửa mã nguồn]

Châu xuất bản quyển sách đầu tiên của mình mang tên Grandeur de D Major (phồn thể: D調的華麗; giản thể: D调的华丽; bính âm: D diào de huálì) vào 25/11/2004. Quyển sách 200 trang này diễn tả đoạn mở đầu được viết bởi gia đình, bạn bè, và những công nhân của anh; tiết đoạn chính là sự biên soạn những quan điểm, triết lí, và kí ức cùng những kinh nghiệm ấu thơ song song với những bức ảnh từ những video âm nhạc của anh, trong đó rất nhiều video chưa được ra mắt; và cuối cùng, một danh sách liệt kê những giải thưởng của những nghệ sĩ, những tác phẩm âm và lới nhạc. Quyển sách này tiết lộ tính cách của anh và những lời thú nhận đã phục vụ như một nền tảng cơ sở cho hình tượng âm nhạc cũng như hình tượng quần chúng. Anh đã bày tỏ giá trị của gia đình với sự liên kết một cách đặc biệt đến mẹ và bà ngoại mình. Anh đã cống hiến 2 trong 7 chương về âm nhạc: tình trang hiện tại của nền công nghiệp, phương pháp sáng tác của anh, và chủ nghĩa cá nhân đến thành công trong âm nhạc. Sự hãnh diện này lại tương phản với sự nhún nhường và ngờ nguệch của anh trong nhiều khía nghĩa cuộc sống, đạc biệt là những mối quan hệ và hôn nhân.

Truyền thông và quan hệ công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh quần chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù sống dưới sự chú ý của giới truyền thông, hình ảnh quần chúng của Châu đã thay đổi dần dần trong suốt những năm gần đây từ khi anh nhấn mạnh sự tự lập như là "triết lí sống của mình"[57][58]. Trong những tác phẩm của mình, rõ ràng anh đã pha trộn phong cách âm nhạc Trung Hoa và phương Tây cũng như khám phá ra những đề tài bất lợi cho các ca sĩ nhạc pop, cái mà được xem là "thực tế" và "mang tính cách mạng"[29][59][60]. Giới truyền thông diễn tả Châu như một người theo nghĩa hoàn hảo chăm chỉ với khả năng tự định hướng cho mình, người mà thỉnh thoảng được cho là cạnh tranh[61] và một "control freak"[29]. Nickname của anh là "chủ tịch Châu" (tiếng Trung: 周董; bính âm: Zhōu dǒng) được dùng bởi giới báo chí và các fan để nhấn mạnh tính cách độc đoán và tác động của anh vào làng nhạc Châu Á[62], nhưng đồng thời cũng chỉ ra tài năng âm nhạc của anh[63][64] Bên cạnh âm nhạc, Châu được xem là một người mắc cỡ, ít nói[65][66], khiêm tốn, và hiếu thảo, tính chất anh xem là quan trọng nhất[67]. Anh không hút thuốc, không nhậu nhạc, và không đi dến những hộp đêm[68]. Những viên chức nhà nước và bộ giáo dục ở Châu Á đã trao anh phẩn thưởng cho thái độ mẫu mực của Châu[69], và bổ nhiệm anh vị trí phát ngôn viên trong chủ đề "Young Voice" năm 2005 và chiến dịch chống trầm cảm năm 2007[70][71]. Anh đã đồng ý sát nhập hai tác phẩm của mình vào chương trình giáo giục để khuyến khích phát triển những quan điểm về đạo làm con[72][73][74][75]. Tháng 11 2007, Châu bị chỉ trích vì việc tham gia đám tang của tên cầm đầu băng nhóm gang Đài Loan Trần Khởi Lễ để an ủi con trai của Trần là Trần Sở Hà, người mà Châu đã gặp trong khi quay phim Kung Fu Dunk[76][77][78].

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ lúc khởi nghiệp vào năm 2000, Châu đã nhận được hơn 350 giải thưởng cho vai trò ca sĩ, nhạc sĩ, và nhà sản xuất ở Châu Á[79]. CD Fantasy của Châu đã được trao giải "Album hay nhất" trong Lễ trao giải giai điệu vàng (Golden melody Awards) ở Đài Loan, và năm giải thưởng khác bao gồm "Album hay nhất", "Nhạc sĩ hay nhất", "Nhà sản xuất hay nhất" trong năm kế tiếp cho album Fantasy (2001). Tuy nhiên, thất bại trong việc đoạt giải "Album hay nhất" năm thứ ba liên tiếp đã làm cho anh ngã lòng. Lễ trao giải giai điệu vàng đã không trao cho Châu giải thưởng nào trong năm 2005, và năm kế tiếp. Ngoài những fan hâm mộ đang nổi giận, nhiều hãng thông tấn xã đã chỉ trích sự tín nhiệm của tổ chức. Họ đã bị tố cáo cho hành động lan truyền sự ghét bỏ Châu và các ngôi sao khác như Vương Lực Hoành và Thái Y Lâm. Mặc dù Châu vẫn tiếp tục đoạt hơn 20 giải thưởng hằng năm từ nhiều tổ chức khác nhau ở Châu Á, nhưng anh đã khẳng định anh sẽ dựa vào số lượng album được tiêu thụ như người chỉ đạo chất lượng âm nhạc[80]. Trong năm 2004, 2006 và 2007, anh được trao giải nghệ sĩ có số lượng tiêu thụ tác phẩm cao nhất ở Trung Quốc trong lễ trao giải âm nhạc thế giới (World Music Awards) cho album Common Jasmin Orange and Still Fantasy[81].

Thái độ với giới truyền thông và các thợ săn ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Như các ngôi sao khác, Châu không thích các thợ săn ảnh. Trong những năm đầu sự nghiệp, Anh thường lẩn tránh những sự chú ý không mong muốn từ giới truyền thông. Song song với tính cách khá trầm, anh thường đội những cái nón bóng chày và mũ trùm đầu trong khi hạ đầu và chạm kính sát tròng trong suốt phong vấn[66]. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, anh đã chủ động công kích giới truyền thông vì việc xâm phạm đời tư của anh. Để làm ngã lòng các thợ săn ảnh hay chụp những tấm ảnh không mong đợi của mình, Châu đã chụp lại ảnh những thợ săn ảnh theo dõi anh[82]. Anh công khai gọi những thợ săn ảnh và công ty tạp chí là "những con chó" và "những tạp chí chó" (dog magazines) trong ca khúc "Bị vây hãm từ mọi phía" (Tứ diện sở ca) (tiếng Trung: 四面楚歌;bính âm: sìmiànchǔgē). Châu bị đăng báo nói rằng anh có quan hệ lãng mạn với các nhân vật nổi tiếng như Thái Y Lâm, Từ Nhược Tuyên, và Điền Phức Chân của nhóm nhạc nữ S.H.E. Mặc dù tất cả mọi quan hệ (ngoại trừ Hầu Bội Sầm)[17] đều được Châu phủ nhận, nhưng những bài báo này đã trao anh danh hiệu "dân chơi". Giới truyền thông và nhà nước Đài Loan đa tố cáo Châu về việc từ chối phục vụ nghĩa vụ phân sự[83] bằng cách giả bệnh. Sau năm đó, anh buộc phải cung cấp những lá thư và hồ sơ y tế từ quân đội xác nhận sự miễn phục vụ quân sử trước lúc anh khởi đầu sự nghiệp[84].

Mặc dù luôn bị quấy rối và xâm phạm bởi giới truyền thông, nhưng Chu đã thừa nhận rằng không phải tất cả những chú ý truyền thông đều không được đón tiếp. Được động viên bởi các nhà báo quốc tế và những nhân viên tin tức như Time[29], The Guardian[85] và Reuters[58] đã giúp anh củng cố và duy trì sự ảnh hưởng của mình trong làng âm nhạc nói riêng cũng như nền văn hóa nói chung. Một bài báo được viết bởi Kerry Brown của Chatham House mang tên Châu được xem là một trong 50 bài báo ảnh hưởng nhất Trung Hoa. Châu được xem là một trong 3 ca sĩ được giúp đỡ bởi những nhà chính trị và hợp tác[86].

Fanbase[sửa | sửa mã nguồn]

Thật dễ dàng để thống kê phạm vi số lượng fan hâm mộ của Châu. Fan của anh chủ yếu là người dân nói tiếng Trung Hoa ở Đài Loan, Hồng Kông, và Trung Hoa. Mặc dù sự vi phạm bản quyền tác giả lan tràn trong những vùng này, đặc biệt là Trung Hoa, mỗi album của Châu ra mắt gần đây đã tiêu thụ hơn 2 triệu bản. Theo Baidu, công cụ dò tìm internet phổ biến ở Trung Hoa, Châu là nghệ sĩ nam được tìm kiếm nhiều nhất ở Trung Hoa trong năm 2002, 05, 06 và 07[87][88][89][90].

Ở Hồng Kông, anh là nghệ sĩ có số lượng tác phẩm tiêu thụ nhiều nhất kể từ năm 2004-2007[91]. Theo cuộc khảo sát ở 5 trung tâm thành thị người Trung Hoa năm 2004, cứ trong 6 thì có 1 trẻ từ độ tuổi 9-14 xem Châu như thần tượng của mình[92]; Anh cũng được thuật lại như là một ca sĩ yêu thích của thanh niên từ 8-25 trong một cuộc khảo sát ở bảy nước Châu Á (2006).

Hiện tại Châu vẫn là một nghệ sĩ vô danh bên ngoài châu Á, ngoại trừ những thành phố với số lượng người Trung Hoa cao như Vancouver, Toronto, Calgary, Sydney, Los Angeles, New YorkSan Francisco. Anh đã tổ chức những buỗi lễ âm nhạc ở những nơi như MGM Grand (Las Vegas — 25 tháng 12, 2002)[29], Shrine Auditorium (Los Angeles — 18 tháng 12, 2004)[93]Galen Center (Los Angeles — 24 tháng 12, 2007). Mục đích của anh là gia tăng sự chú ý ở phương Tây bên canh những khán giả Trung Hoa. Trong năm 2006, Châu đã sáng tác và hát bài hát mở đầu cho phim Hoắc Nguyên Giáp, một bộ phim đã được ra mắt ở những rạp phim trong những quốc gia phổ biến tiếng Anh[94], mặc dù nó vẫn chưa giúp anh phổ biến danh tiếng của mình. Vai diễn trong bộ phim Hoàng Kim Giáp đã mang khả năng diễn xuất của anh đến với các khán giả ở Bắc Mĩ. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong phim, nhưng phiên bản của những poster chính thức ở Bắc Mĩ chỉ thể hiện sơ lược Châu, tương phản rất lớn so với những phiên bản của Châu Á nơi mà khuôn mặt và tên anh đuợc giới thiệu rõ ràng. Tuy danh tiếng của Châu vẫn còn khá mờ nhạt với các khán giả nói tiếng Anh, bộ phim này đã mang anh đến với thế giới.

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên TV Tên tiếng Anh Tên gốc Ghi chú
2003 Truy tìm Châu Kiệt Luân Hidden Track 尋找周杰倫 "Tự thuật"
2005 Đầu chữ cái D Initial D 頭文字D "Takumi Fujiwara"
2006 Hoàng Kim Giáp Curse of the Golden Flower 滿城盡帶黃金甲 "Nhị hoàng tử Jai"
2007 Bí mật không thể nói Secret 不能說的秘密 "Jay - Ye Xiang Lun - 葉湘倫"
Đạo diễn, sản xuất, kịch bản gốc
2008 Công phu bóng rổ Kung Fu Dunk 功夫灌籃 "Fang Shi Jie - Fong Sai Kit - 方世杰"
2009 Thích Lăng săn báu vật The Treasure Hunter 刺陵 "Diễn viên chính [95] - Qiao Fei"
2010 Tô Khất Nhi True Legend 蘇乞兒 "God of Wushu" / "Drunken God"
2011 Chiến binh bí ẩn
(Hiệp sĩ ong xanh)
The Green Hornet 青蜂俠 "Kato" (Phim Hollywood đầu tiên)
Bí mật không thể nói 2 Secret 2[96] 不能說的秘密2 "Jay - Ye Xiang Lun - 葉湘倫"
Đạo diễn
2012 Đầu chữ cái D 2 Initial D 2[97] 頭文字D2 "Takumi Fujiwara"
Đạo diễn

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • Drifting, All the way North (Đầu chữ cái D)
  • Hoắc Nguyên Giáp (Fearless)
  • Bí mật không thể nói
  • Đài hoa cúc (Hoàng Kim Giáp)
  • Nói lời tạm biệt (说了再见) (Hải dương thiên đường)

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Trung) Văn phòng thông tin chính phủ (Đài Loan) Người đoạt giải Giai điệu vàng lần thứ 13. 28 tháng 4, 2004. Truy cập 11 tháng 12, 2007.
  2. ^ (tiếng Trung) “"Giống như Fantasy" Hai triệu album bán được công nhận cho Châu Kiệt Luân 《依然范特西》两百万销量力证周董”. www.ccwb.net. 11 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  3. ^ (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân giống như "Fantasy". Giấc mơ sẽ kéo dài trong bao lâu? 周杰伦依然"范特西" 周董还会梦幻多久”. East Day. 5 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân phát âm chưa rõ ràng, resulting in a request for a clearer version of "Dragon Fist" 周杰伦咬字不清被退货《龙拳》要出清晰版”. people.com.cn. 26 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  5. ^ (tiếng Trung) “Phương Văn Sơn thảo luận về âm nhạc. Châu Kiệt Luân cố tình phát âm không rõ 方文山畅聊音乐 透露周杰伦唱歌故意咬字不清”. music.tom.com. 15 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  6. ^ (tiếng Trung) Châu, Kiệt Luân (1 tháng 11 năm 2004). Grandeur de D Major (sách). Trung Quốc: Hua Ren Ban Tu. tr. 204–211. ISBN 9572937146. 
  7. ^ (tiếng Trung) “Chung Trấn Đào chuẩn bị cho album mới. Châu Kiệt Luân viết "Ma quỷ đích tình thi" 钟镇涛筹备新专辑 周杰伦献曲《魔鬼的情诗》”. tom.com. 11 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  8. ^ (tiếng Trung) “Lương Vịnh Kì cảm thấy hạnh phúc. Yêu cầu bồi thường để cảm ơn Châu 梁咏琪谈感情心情愉快 声称要感谢周杰伦”. ent.qq.com. 8 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  9. ^ (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân và Phương Văn Sơn viết bài hát cho Dung Tổ Nhi. Thiên vương và thiên hậu hợp tác lần đầu tiên 周杰伦方文山为容祖儿写歌 天王天后首度合作”. Eastday. 17 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2007. 
  10. ^ (tiếng Trung) “Nam Quyền Mama: 南拳媽媽:一個周杰倫和四個小周杰倫的夏天”. people.com.cn. 31 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  11. ^ (tiếng Trung) “Nam quyền Mama "trục xuất" Châu Kiệt Luân. Album mới thể hiện phong cách của họ 南拳妈妈"驱逐"周杰伦 新专辑体现自己风格”. sina.com.cn. 3 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  12. ^ (tiếng Trung) “"Châu Kiệt Luân và Những người bạn" Hoà tấu tháng tư tại Trung tâm thể thao Olympic Trùng Khánh "周杰伦和他的朋友们"四月唱响重庆奥体”. sina.com.cn. 5 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  13. ^ a ă Jay 2004 Incomparable Live DVD. In Jay 2004 Incomparable Live DVD 無與倫比演唱會 [DVD liner notes] (2004). Đài Bắc, Đài Loan: Alfa Music International Co., Ltd.
  14. ^ Kẹo mạch nha 麥芽糖. Trong Hoắc Nguyên Giáp 霍元甲 [DVD liner notes] (2006). Đài Bắc, Đài Loan: Alfa Music International Co., Ltd.
  15. ^ Chương VII của đêm 夜的第七章. Trong Hoàng Kim Giáp 黄金甲 [DVD liner notes] (2006). Đài Bắc, Đài Loan: Alfa Music International Co., Ltd.
  16. ^ (tiếng Trung) “Người đẹp Thái Y Lâm. Châu Kiệt Luân và cha mình tham dự buổi hoà nhạc 美豔蔡依林 周董父子搶著看”. Epoch Times. 21 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  17. ^ a ă (tiếng Trung) “Hầu Bội Sầm và Thái Y Lâm. Ai làm Châu Kiệt Luân hạnh phúc hơn 侯佩岑Vs蔡依林 誰更能討得"周董"歡心”. people.com.cn. 23 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  18. ^ Biển san hô 珊瑚海. Trong Tháng 11 của Chopin 十一月的蕭邦 [CD liner notes] (2005). Đài Bắc, Đài Loan: Alfa Music International Co., Ltd.
  19. ^ Thiên lí chi ngoại 千里之外. Trong Still Fantasy 依然范特西 [CD liner notes] (2006). Đài Bắc, Đài Loan: Alfa Music International Co., Ltd.
  20. ^ Đối tác. Trong Đối tác [CD liner notes] (2002). Đài Bắc, Đài Loan: Alfa Music International Co., Ltd.
  21. ^ (tiếng Trung) “Lời bài hát Đối tác (phần 1) Châu Kiệt Luân - Phương Văn Sơn 詞曲黃金拍檔(上)周杰倫 方文山寫出創作4部曲”. showbiz.chinatimes.com. 27 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  22. ^ (tiếng Trung)“Châu Kiệt Luân khẳng định xu hướng. Thành lập vương quốc giải trí của anh 周杰倫動向確定 欲打造娛樂全方位王國”. www.epochtimes.com. 4 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  23. ^ Châu, Kiệt Luân (1 tháng 11 năm 2004). Grandeur de D Major. Trung Quốc: Hua Ren Ban Tu. tr. 92. ISBN 9572937146. 
  24. ^ (tiếng Trung) Kiệt Luân, Châu (tháng 12 năm 2004). Grandeur de D Major. Hua Ren Ban Tu. tr. 109. ISBN 957-29371-4-6. 
  25. ^ a ă (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân trên con đường giám đốc 周杰倫攻陷導演路”. Mingpao. 7 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  26. ^ a ă (tiếng Trung) “Plans to slowly distance from movies and "other occupations". Châu Kiệt Luân sẽ trở lại với âm nhạc 規划逐漸遠离電影等"副業" 周杰倫要回歸音樂”. Thời Đại thương báo/Sohu. 29 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  27. ^ (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân: niềm vui trong phim không thể được tìm thấy trong âm nhạc nữa 周杰倫:拍電影的興奮感在做音樂時已經找不回來”. Epoch Times. 10 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  28. ^ (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân không thể thất bại: it’s good to be number one 無可匹敵周杰倫:保持第一的感覺非常好”. ent.tom.com. 14 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  29. ^ a ă â b c Drake, Kate (3 tháng 3 năm 2003). “Cool Jay”. Time (Asia). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  30. ^ (tiếng Trung) “Giám đốc Lâm Ái Hoa: phong cách riêng của Châu Kiệt Luân là quá mạnh / Không phải là một diễn viên tốt 导演林爱华:周杰伦个人风格太强烈 不是好演员”. ent.anhuinews.com. 25 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  31. ^ “Châu Kiệt Luân đẩy mạnh phim "Ban đầu D" ở Nhật Bản”. People's Daily. 29 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  32. ^ Elley, Derek (28 tháng 7 năm 2005). “Ban đầu D”. Variety. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  33. ^ Chyn, Stina (21 tháng 9 năm 2005). “Ban đầu D”. Film Threat. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  34. ^ “Ban đầu D [2005]”. Beyond Hollywood. 6 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  35. ^ “Châu Kiệt Luân ấn tượng về Trương Nghệ Mưu”. chinadaily.com.cn. 22 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  36. ^ “Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần 25 ra mắt”. crienglish.com. 8 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  37. ^ a ă (tiếng Trung) “Trương Nghệ Mưu khen ngợi tiềm năng chỉ đạo của Châu Kiệt Luân: sẽ vượt tôi trong tương lai 张艺谋赞周杰伦有导演潜质:将来会超过我”. sina.com.cn. 22 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  38. ^ (tiếng Trung) “Mãn thành tận đới hoàng kim giáp 滿城盡帶黃金甲”. KingNet. 22 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  39. ^ (tiếng Trung) “《满城尽带黄金甲》:金玉其外,败絮其中”. thebeijingnews.com. 16 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  40. ^ (tiếng Trung) “Hoàng Kim Giáp: Không có gì để nói 《满城尽带黄金甲》:没什么可说的” (Movie review). sina.com.cn. 15 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  41. ^ Molayeme, Ester (4 tháng 12 năm 2006). “Xem phim: Hoàng Kim Giáp”. IndependentFilm.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  42. ^ Berardinelli, James (22 tháng 12 năm 2006). “Hoàng Kim Giáp”. Reelviews. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  43. ^ Wilmington, Michael (22 tháng 12 năm 2006). “Xem phim: 'Hoàng Kim Giáp'”. metromix.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  44. ^ Hilbrenner, Jill (22 tháng 12 năm 2006). “Hoàng Kim Giáp”. LondonNet. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  45. ^ Hall, Phil (22 tháng 12 năm 2006). “Hoàng Kim Giáp”. Film Threat. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  46. ^ (tiếng Trung) “Độc quyền: Danh sách đề cử giải thưởng điện ảnh Hồng Kông lần 26 独家:第26届香港电影金像奖完全提名名单揭晓”. sina.com.cn. 1 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  47. ^ Landreth, Jonathan (28 tháng 9 năm 2009). “China gets LeBron James' 'Game'”. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009.  [[]][liên kết hỏng]
  48. ^ Wallace, Lewis (7 tháng 8 năm 2009). Green Hornet Gets Its Kato: Asian Pop Star Jay Chou”. Wired. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  49. ^ Evry, Max (5 tháng 1 năm 2011). “25 Breakout Stars to Watch for in 2011”. Next Movie. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011. 
  50. ^ (tiếng Trung) Kiệt Luân, Châu (tháng 12 năm 2004). Grandeur de D Major. Hua Ren Ban Tu. tr. 106. ISBN 957-29371-4-6. 
  51. ^ Hoắc Nguyên Giáp. Trong Hoắc Nguyên Giáp 霍元甲 [DVD liner notes] (2006). Đài Bắc, Đài Loan: Alfa Music International Co., Ltd.
  52. ^ “Jay Chou ready to direct again”. youth.cn. 10 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  53. ^ (tiếng Trung) “Jay Chou gives advice for eye health 周杰伦闪亮护眼心得大揭密 四招全搞定”. sina.com.cn. 20 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  54. ^ “Châu Kiệt Luân ấn tượng về Trương Nghệ Mưu”. Tân Hoa. 22 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  55. ^ a ă (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân chỉ đạo cho lần đầu tiên / "The Secret That Can't Be Told" quay ở trường trung học của mình 周杰伦首次执导 《不能说的秘密》回母校取景”. sina.com.cn. 23 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  56. ^ “Singer Jay Chou's directorial debut to be released in late July”. Associated Press. 8 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2007. 
  57. ^ Drake, Kate (3 tháng 3 năm 2003). “Cool Jay”. Time (châu Á). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  58. ^ a ă “Taiwan singer Jay Chou looks East to crack the West” (News article (PDF file)). Reuters/Epoch Times. 27 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  59. ^ Chung, Oscar (10 tháng 1 năm 2005). “Ngôi sao Đông Á mới nổi”. Trang thông tin chính phủ, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  60. ^ “Jay—A Nhạc sĩ cách mạng”. china.org.cn. 4 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  61. ^ The Ice King Thaws. V Mag (Malaysia). 28 tháng 12 năm 2004. “I love competing with myself because I feel that this will force me to improve as a singer. For one, I would definitely love to win more awards” 
  62. ^ Taylor, Chris (5 tháng 1 năm 2004). “An Industry on the Edge”. Taiwan Review. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  63. ^ “Ai dục, ai dục, Châu Kiệt Luân 唉唷,唉唷,周杰倫”. www.chinatimes.com, Mass-age. 28 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  64. ^ “Châu Kiệt Luân khuyến khích niềm hi vọng trẻ”. china.org.cn. 14 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  65. ^ “Mandarin R&B Singer Hits It Big”. china.org.cn/Nhật báo Trung Quốc. 9 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  66. ^ a ă Woodworth, Max (1 tháng 10 năm 2004). “All Hail Jay”. Taipei Times. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  67. ^ “"Châu Kiệt Luân nói rằng anh vẫn chỉ là một cậu bé”. Associated Press/Nhật báo Trung Quốc. 13 tháng 2 năm 2006. 
  68. ^ Chou, Jay (1 tháng 11 năm 2004). Grandeur de D Major (bằng tiếng Trung). Trung Quốc: Hua Ren Ban Tu. tr. 10. ISBN 9572937146. 
  69. ^ “Thi đua với Châu Kiệt Luân”. New Straits Times. 28 tháng 1 năm 2005. 
  70. ^ (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân là người phát ngôn cho Mạng Thanh thiếu niên để khuyến khích thanh thiếu niên thể hiện quan điểm của mình 周杰伦代言青少年网 鼓励青少年发表观点”. ent.163.com. 8 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  71. ^ (tiếng Trung) “周杰伦拍公益广告呼吁帮助忧郁症患者 周杰伦担任公益活动代言人” (News article). ent.sina.com.cn. 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2007. 
  72. ^ Xu, Xiaomin (24 tháng 3 năm 2005). “Echos of ancient sacrifice”. Thượng Hải anh văn tinh báo. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  73. ^ “Bài hát pop được chấp thuận trong lớp học”. Nhật báo Thượng Hải/Eastday. 16 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  74. ^ (tiếng Trung) “Bài hát của Châu Kiệt Luân "Nghe mẹ nói" được giảng dạy trong trường học 周董新歌「聽媽媽的話」,成小一生教材”. ETtoday. 4 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  75. ^ “Bài hát của Châu Kiệt Luân được sử dụng trong giảng dạy”. china.org.cn. 3 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  76. ^ “Biên tập: Gangster, gangster mọi nơi”. Taipei Times. 9 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2007. 
  77. ^ “陳啟禮告別式 周董獻唱致意? (Châu sẽ hát tại tang lễ của Trần Khởi Lễ?)”. Sina News (bằng tiếng Trung). 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  78. ^ “周杰倫弔陳啟禮 慰陳楚河喪父痛 (Châu Kiệt Luân chia sẻ với Trần Khởi Lễ, consoles Chen Chuhe on the loss of his father)”. PChome Magazine (bằng tiếng Trung) (TVBS). 31 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2007. 
  79. ^ Chi tiết danh sách giải thưởng (liên kết ngoài) của Jay Chou Studio
  80. ^ "For every album I hope to improve from my last, sell more than my last, … better sales means more people like the music…"(tiếng Trung) Kiệt Luân, Châu (tháng 12 năm 2004). Grandeur de D Major. Hua Ren Ban Tu. tr. 113. ISBN 957-29371-4-6. 
  81. ^ “Châu Kiệt Luân giành hat-trick của World Music Awards”. Channel NewsAsia. 12 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2008. 
  82. ^ (tiếng Trung) “Châu Kiệt Luân và các paparazzi trong một cuộc đối đầu trực tiếp 周杰倫與狗仔隊打埋身戰”. Nhật báo Tinh Đảo (Hồng Kông). 23 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  83. ^ “Ca sĩ nhạc pop Châu Kiệt Luân bị buộc tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự”. Associated Press/Sina. 24 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  84. ^ (tiếng Trung)“Châu Kiệt Luân làm giả hồ sơ y tế để trốn tránh nghĩa vụ quân sự? Toà án khôi phục sự trong sạch của anh 周董利用假病历逃兵? 出庭应讯法院还清白”. yule.sohu.com. 10 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  85. ^ Heawood, Sophie (21 tháng 4 năm 2006). “We're Not Listening Until You Sing In English”. London: The Guardian (UK). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  86. ^ Brown, Kerry (11 tháng 4 năm 2007). “China Power List 2007”. openDemocracy. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  87. ^ (tiếng Trung) Top tìm kiếm của Baidu năm 2002
  88. ^ (tiếng Trung) Top tìm kiếm của Baidu năm 2005
  89. ^ (tiếng Trung) Top tìm kiếm của Baidu năm 2006
  90. ^ (tiếng Trung) Top tìm kiếm của Baidu năm 2007
  91. ^ (tiếng Trung) “Hong Kong Top Sales Music Awards presented”. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. [[]][liên kết hỏng]
  92. ^ “Sinh trong thập niên 1990”. Nhật báo Trung Quốc. 9 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  93. ^ Quah, Junie (2 tháng 3 năm 2005). “Châu Kiệt Luân tại LA: đột phá có một không hai”. UCLA Asia Institute. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  94. ^ “Châu đã sáng tác và hát bài hát mở đầu của Lý Liên Kiệt - Hoắc Nguyên Giáp”. Associated Press. 1 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  95. ^ “Jay Chou to star in action film 'Ci Ling'”. Channel NewsAsia. 21 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  96. ^ Jay-Chou.net
  97. ^ “Jay Chou to direct "Initial D 2", Edison Chen confirmed as cast”. Jay Chou Studio. 29 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chính thức
Tại Việt Nam