Châu Thành, Long An

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Châu Thành
Huyện
Ruộng lúa xanh mát của Phú Ngãi Trị - Tầm Vu - Long An.jpg
Ruộng lúa ở Châu Thành
Địa lý
Tọa độ: 10°27′52″B 106°30′0″Đ / 10,46444°B 106,5°Đ / 10.46444; 106.50000Tọa độ: 10°27′52″B 106°30′0″Đ / 10,46444°B 106,5°Đ / 10.46444; 106.50000
Diện tích 155,44 km²[1]
Dân số (1 tháng 4, năm 2009)  
 Tổng cộng 97.419 người[1][2]
 Mật độ 664 người/km²[1]
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Long An
Phân chia hành chính Huyện có 1 thị trấn và 12 xã:
Website www.longan.gov.vn

Châu Thành là một huyện nhỏ nằm ở phía nam của tỉnh Long An. Châu Thành là nơi hai sông Vàm Cỏ ĐôngVàm Cỏ Tây gặp nhau. Hợp lưu của hai sông này chảy qua địa phận của xã Thuận MỹThanh Vĩnh Đông trước khi chảy xuống Gò Công để ra biển.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành giáp ranh thành phố Tân An, cách trung tâm thành phố 12 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 52 km theo tuyến Quốc lộ 1A và 42 km theo tuyến Quốc lộ 50.


Biểu đồ gió thành phố Tân An huyện Tân Trụ Biểu đồ gió
huyện Châu Thành (Tiền Giang) B huyện Cần Đước
T    huyện Châu Thành    Đ
N
huyện Chợ Gạo
Enclave: {{{enclave}}}
Cây thanh long là cây trồng chính của Long Trì

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

  1. An Lục Long.
  2. Bình Quới.
  3. Dương Xuân Hội.
  4. Hiệp Thạnh.
  5. Hòa Phú.
  6. Long Trì.
  7. Phú Ngãi Trị.
  8. Phước Tân Hưng.
  9. Thanh Phú Long.
  10. Thanh Vĩnh Đông.
  11. Thuận Mỹ.
  12. Vĩnh Công.

Vài nét về địa danh Châu Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn học dân gian ở Nam Bộ có khá nhiều câu sử dụng từ “châu thành”, mặc dù trong văn bản được viết hoa, nhưng “châu thành” ở đây được dùng như là một danh từ chung, chỉ nơi phố xá đông đúc, văn minh. Từ "châu thành” vốn là một từ Hán-Việt, được sử dụng khá phổ biến ở Nam Bộ. Khái niệm “châu thành” có thể hiểu là:

  • Phố phường, thành thị, nơi dân cư đông đúc
  • Khu vực chính một xứ hay một tỉnh
  • Vùng đất bao quanh, ở cạnh thành phố, thị xã, đơn vị hành chính cấp huyện.

Sau khi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ngày 5 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp ra nghị định chia 6 tỉnh Nam Kỳ ra 24 hạt tham biện (arondissemnent). Viên cai trị hạt là tham biện (inspecteur, sau đổi là administrateur). Lỵ sở của hạt gọi là “châu thành”, có chức năng như một “trung tâm hành chính” của hạt. Bắt đầu từ năm 1912, địa danh Châu Thành chính thức được đặt tên cho nhiều đơn vị hành chính cấp quận ở các tỉnh Nam Kỳ.

Ban đầu, “châu thành” chỉ các trung tâm hành chính, nơi có chợ búa, các cơ quan của hạt tham biện trú đóng. Sau khi thành lập các thị xã với chức năng “tỉnh lỵ”, nó chiếm một phần diện tích của “châu thành”, phần diện tích còn lại vẫn giữ tên cũ là quận Châu Thành và sau này là huyện Châu Thành. Hiện nay các thị xã tỉnh lỵ đó đều đã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Huyện Châu Thành thuộc tỉnh Long An ngày nay chính là quận Châu Thành thuộc tỉnh Tân An thời Pháp thuộc. Địa bàn thành phố Tân An ngày nay khi đó vẫn nằm trong quận Châu Thành.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quyết định 54-CP[3] ngày 11 tháng 3 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ sáp nhập huyện Châu Thành với huyện Tân Trụ, lấy tên là huyện Tân Châu.

Quyết định 298/CP[4] ngày 19 tháng 9 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ đổi tên huyện Tân Châu thành huyện Vàm Cỏ.

Quyết định 36/HĐBT[5] ngày 4 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng chia huyện Vàm Cỏ trở lại 2 huyện cũ.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân từ 1.350 - 1.800 mm/ năm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình của năm là 27,0 C. Số giờ nắng vào khoảng 2.350 - 2.500 giờ/năm. Bình quân 6 - 7 giờ/ngày. Độ ẩm trung bình từ 87% - 89%. Tốc độ gió trung bình 2,8 m/s, lớn nhất 3,8 m/s.

Huyện Châu Thành nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long nên có ưu thế về nhiệt độ, tổng tích ôn gần 3.000 oC, ánh sáng trên 800 giờ nắng/năm, lại ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt nên thuận lợi trong việc đa dạng hóa cây trồng, thâm canh tăng vụ.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Các kênh Hòa Phú, rạch Bà Lý, kênh Chiến Lược, kênh 30/4, sông Vĩnh Công tiếp nhận nước ngọt từ hệ thống rạch Bảo Định và kênh Chợ Gạo, chất lượng nước khá tốt nhưng lưu lượng bị hạn chế.

Châu Thành cũng như các huyện phía nam của tỉnh ít chịu ảnh hưởng của mùa lũ, vào những tháng mưa tập trung (tháng 10, 11) gặp triều cường thì lũ lụt mới xảy ra, thời gian ngắn và mức độ ảnh hưởng không lớn, các xã ven sông như Thanh Phú Long, Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông nền địa hình thấp (từ 0,5 - 0,8m, hệ Hòn Dấu) nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của triều cường trong mùa lũ, các xã có nền địa hình cao như Hòa Phú, Vĩnh Công (từ 1,0 - 1,4 m, hệ Hòn Dấu) ít bị ảnh hưởng. Đặc điểm địa hình của huyện Châu Thành là dốc thoai thoải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cao ở đầu nguồn nước ngọt và thấp ở cuối nguồn. Huyện Châu Thành đã có hệ thống đê bao nên đã ngăn được lũ. Ngập lũ cũng có tác dụng tích cực là đưa nhiều thủy sinh vật vào đồng ruộng, rửa mặn xổ phèn vào tạo phù sa cho đất. Vì vậy, dọc theo đê bao cần có cống điều tiết để kiểm soát mức ngập và thời gian ngập.

Nước mặn Biển Đông qua sông Soài Rạp - Vàm Cỏ dẫn sâu vào nội đồng theo 2 hướng chính là sông Vàm Cỏ Tây ở phía bắc và sông Tra ở phía nam. Do xu hướng mực nước biển dâng cao nên xâm nhập mặn cũng có xu hướng tăng nhanh về hàm lượng và thời gian nhiễm mặn. Do các huyện phía bắc vùng Đồng Tháp Mười như Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa sử dụng nguồn nước ngọt ngày càng tăng nên độ nhiễm mặn có xu hướng ngày càng tăng.

  • Sông Vàm Cỏ Tây: nước sông bị xâm nhập mặn từ tháng 1 đến tháng 2, hàm lượng mặn 2g/l, từ tháng 3 đến tháng 5, hàm lượng mặn 4 g/l.
  • Sông Vàm Cỏsông Tra gần Biển hơn nên độ nhiễm mặn cũng cao hơn, khoảng 4g/l, thời gian nhiễm mặn kéo dài 6 - 7 tháng/năm.

Huyện Châu Thành đã có hệ thống cống ngăn mặn và điều tiết nước, cần tiếp tục nạo vét kênh, rạch dẫn nước ngọt, bố trí cơ cấu cây trồng, mùa vụ hợp lý để né mặn.

Địa hình - địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Các xã vùng Thượng có địa hình cao như Long Trì, An Lục Long, Hiệp Thạnh, Vĩnh Công, Hòa Phú... nền mặt ruộng cao từ 1,0 - 1,4m. Các xã vùng Hạ như Thanh Vĩnh Đông, Thuận Mỹ, Phú Ngãi Trị, Phước Tân Hưng, Bình Qưới... nền mặt ruộng từ 0,5 - 0,8m, riêng xã Thuận Mỹ có gò cao nằm ở bến đò Thuận Mỹ - Cần Đước, đỉnh gò cao 2,2m.

Cao độ trung bình toàn Huyện từ 0,8 - 1,2m, cao ở phía đầu nguồn nước ngọt, thấp cuối nguồn, thuận lợi cho công việc dẫn nước ngọt vào đồng ruộng nhưng thấp về cuối sông nên nước mặn cũng dễ xâm nhập.

Huyện Châu Thành có 4 nhóm đất:

  • Đất phù sa: diện tích 7.958 ha, chiếm tỷ lệ 53,4%, bao gồm đất phù sa sông Vàm Cỏ có tầng loang lỗ đỏ vàng (chiếm 21%, diện tích 1.650 ha) và đất phù sa sông Cửu Long có tầng loang lỗ đỏ vàng (chiếm 79%, diện tích 6.308 ha). Phân bố khá tập trung ở các xã Hòa Phú, Vĩnh Công, Hiệp Thạnh, Dương Xuân Hội, Long Trì, An Lục Long và thị trấn Tầm Vu. Đất phù sa có độ pHH20 = 4,5 - 5,5, mùn tầng mặt từ khá đến giàu đạm tổng số từ 0,14 - 0,22, nhiều dinh dưỡng nên canh tác lúa được 2 - 3 vụ/năm.
  • Đất mặn: chiếm tỷ lệ 8,09%, diện tích 1.218 ha, bao gồm nhóm đất ít mặn 276 ha (chiếm 23%) và nhóm đất mặn 942 ha (chiếm 77%). Phân bố ở các xã ven sông như Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông, một phần Thanh Vĩnh Long và rãi rác ngoài đê của các xã Bình Qưới, Phú Ngãi Trị. Đất mặn thích hợp với nuôi trồng thủy sản hơn là canh tác lúa.
  • Đất phèn: chiếm tỷ lệ 9,16%, diện tích 1.378 ha. Phân bố ở các xã ven sông Vàm CỏVàm Cỏ Tây, xa nguồn nước ngọt nên trồng trọt gặp nhiều khó khăn, muốn canh tác lúa 2 - 3 vụ cần có hệ thống thủy nông hoàn chỉnh, tháu chua rửa phèn, kết hợp với việc sử dụng giống, phân bón, bố trí mùa vụ hợp lý và kỹ thuật canh tác tốt.
  • Đất líp (đất xáo trộn) : Chiếm tỷ lệ 24,92%, diện tích 3.7514 ha. Phân bố hầu như khắp các xã. Đất líp hiện dùng làm đất ở, xây dựng cơ bản, trồng cây lâu năm, cây ăn quả, chủ yếu là cây thanh long, dừa, mãng cầu.

Dân số và nguồn nhân lực[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số trung bình huyện Châu Thành đến năm 2000 là 99.077 người, bằng 7,48% dân số toàn Tỉnh, trong đó dân số đô thị là 6.345 người, chiếm 6,4% dân số huyện, mật độ dân số bình quân là 649 người/km2 (tháng 4/1999). trong đó dân số phi nông nghiệp là 15.472 người chiếm 15,67% dân số huyện. Tỷ lệ sinh bình quân thời kỳ từ băn 1991 đến 2000 là 20,96%, tỷ lệ chết bình quân 5,35%, tốc độ tăng dân số bình quân 0,63%. Trong thời kỳ này có giảm cơ học do di dân Đồng Tháp Mười và lao động di chuyển lên Tp. Hồ Chí Minh.

Lao động trong độ tuổi (LĐTĐT) năm 2000 là 50.939 người, chiếm 51,41% dân số huyện. Trong đó lao động đô thị là 3.244 người, chiếm 6,39% LĐTĐT Huyện. Lao động trong khu vực I là 36.991 người chiếm 71,58%, khu vực II 1.769 người chiếm 3,47%, khu vực III 1.208 người chiếm 2,37%, số còn lại chưa tham gia lao động.

Lao động qua đào tạo là 2.701 người, chiếm 5,3% LĐTĐT. Trong đó công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ qua đào tạo 695 người, chiếm 1,36%; trung học chuyên nghiệp có 1.115 người chiếm 2,19%; cao đẳng có 527 người chiếm 1,03%; đại học có 363 người chiếm 0,71%; trên đại học có 1 người chiếm 0,02%. Tổng lao động qua đào tạo là 2.701 người, chiếm 5,30%. Trong tương lai cần thiết đẩy nhanh hơn nữa tốc độ đào tạo lao động để lao động qua đào tạo đạt từ 12% - 15% LĐTĐT, chú ý đến hướng nghiệp vào các khu công nghiệp để đối tượng chưa tham gia lao động có cơ hội tham gia lao động.

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Với đặc điểm về địa hình, tài nguyên nước và hiện trạng phát triển kinh tế xã hội có thể phác họa ra 3 Tiểu vùng với những nét đặc trưng có khác nhau :

Hiện trạng phần lớn diện tích đất trồng lúa 3 vụ: Đông - Xuân, ThuThu - Đông, một ít diện tích trồng lúa 1 vụ. Có nhiều vườn cây ăn quả các loại. Đang được ngọt hóa, từng bước ngăn mặn hoàn toàn. Có một số cơ sở chế biến, CNTTCN bước đầu phát triển. Hệ thống tuyến giao thông nền hạ khá tốt. Chăn nuôi phát triển, nhất là gà công công nghiệp.

  • Tiểu vùng II: Phạm vi thuộc các xã Long Trì, Dương Xuân Hội, An Lục Long, một phần Thanh Phú Long và thị trấn Tầm Vu. Diện tích 4.449,2 ha, chiếm tỷ lệ 29,55% tổng diện tích, toàn bộ là đất phù sa sông Cửu Long, địa hình cao, bằng phẳng, đã được ngọt hóa từ hệ thống rạch Bà Lý 1, rạch Ông Đăng, kênh Chiến Lược, kênh Cầu Đôi, kênh 30/4...., hầu hết diện tích không nhiễm mặn. Hiện trạng phần lớn diện tích đất trồng lúa 3 vụ : Đông - Xuân, ThuThu - Đông, một ít diện tích trồng lúa 1 vụ. Có nhiều vườn cây ăn quả các loại và cây Thanh long. Người dân có kinh nghiệm trồng lúa cao sản. Có một số cơ sở chế biến, CNTTCN bước đầu phát triển. Hệ thống tuyến giao thông nền hạ khá tốt. Chăn nuôi phát triển, nhất là chăn nuôi bò thịt.
  • Tiểu vùng III: Phạm vi thuộc các xã Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông và một phần xã Thanh Phú Long. Diện tích 4.191,9 ha, chiếm tỷ lệ 27,83% tổng diện tích, đất kém màu, địa hình thấp, thường bị ngập úng và xâm nhập mặn. Hiện trạng phần lớn diện tích đất trồng lúa 2 vụ : ThuThu - Đông, một ít diện tích trồng 1 vụ. Có một ít vườn Mãng cầu, Dứa. Thích hợp nuôi tôm, cá nên vuông nuôi tôm, ao nuôi cá bước đầu phát triển. Hệ thống tuyến giao thông thấp kém.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành có giao thông thủy, giao thông bộ nên thuận lợi trong việc tiêu thụ nông sản phẩm, tiếp thu khoa học công nghệ để sớm phát triển nền nông nghiệp kỹ thuật cao, phát triển công nghiệp chế biến, phát triển thương mại - dịch vụ và đầu mối thu mua hàng nông sản. Đường tỉnh 827 và đường tắt Quốc lộ 50 sẽ là trục giao thông đối ngoại chính của Huyện nối liền các vùng kinh tế với nhau.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế chính của huyện Châu Thành nông nghiệp. Một ít cư dân sống bằng nghề chài lưới và chăn nuôi vịt thả đồng. Châu Thành là nơi sản xuất nhiều giống lúa đặc sản như: Tài Nguyên, Nàng Thơm, nếp ngắn ngày, v.v... với năng suất cao, khoảng 7-8 tấn/ha. Một số đặc sản khác của huyện Châu Thành là dưa hấu ở xã Long Trì và thanh long. Thanh long Châu Thành trái không to như thanh long Phan Thiết, nhưng có vị ngọt hơn và đậm đà hơn.

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội làm chay - trấn Tầm Vu

Hàng năm Châu Thành có làm Lễ hội làm chay hay còn gọi là lễ hội rước Ông Tiêu diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch. Tục truyền xưa kia dân làng Hiệp ThạnhDương Xuân Hội thường hay bị thiên tai, mất mùa. Các bô lão ở thị trấn Tầm Vu đã làm những bài vị cúng những vị thần làng để cầu an. Trong lễ hội này, người Tầm Vu dựng một Ông Tiêu cao to trên ngôi đình và làm thuyền rồng dưới sông. Một số trò chơi dân gian diễn ra vào dịp này như đập nồi, kéo co, lội bắt vịt trên sông. Những trò chơi này tăng thêm niềm vui cho ngày lễ hội.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Thành là quê hương của nghệ sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu), người đã sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản vọng cổ. Nghệ sĩ Cao Văn Lầu sinh năm 1892, tại làng Thuận Lễ, tổng Cửu Cư Hạ, nay là xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông mất ngày 13/08/1976 (âm lịch) tại thị xã Bạc Liêu. Ngoài ra Châu Thành cũng là quê hương của giáo sư Trần Văn Giàu, của cụ Nguyễn Thông.

Châu Thành cũng là quê huơng của cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Trần Thiện Khiêm. Hiện giờ Châu thành cũng là quê hương của cầu thủ Phan Văn Tài Em mà khán giả hâm mộ bóng đá Việt Nam đều biết đến.

với những làng nghề nổi tiếng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]