Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Chính quyền Sài Gòn)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Việt Nam Cộng hòa

1955 – 1975
Cờ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
Tổ quốc - Danh dự - Trách nhiệm (1954 - 1967)
Tổ quốc - Công minh - Liêm chính (1967 - 1975)
Quốc ca
Tiếng gọi Công dân
Vị trí của Việt Nam Cộng hòa
Thủ đô Sài Gòn
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống
 - 1955 Ngô Đình Diệm (đầu tiên)
 - 1975 Dương Văn Minh (cuối cùng)
Thủ tướng
 - 1975 Vũ Văn Mẫu (cuối cùng)
Lập pháp Nghị viện
 - Thượng viện Thượng viện Việt Nam Cộng hòa
 - Hạ viện Hạ viện Việt Nam Cộng hòa
Thời đại lịch sử Chiến tranh lạnh
 - Thay đổi chính thể 26 tháng 10 năm 1955
 - Đầu hàng 30 tháng 4 năm 1975
Diện tích
 - 1973 173.809 km²; (67.108 mi²)
Dân số
 - 1973 ước tính 19.370.000 
     Mật độ 111,4 /km²  (288,6 /mi²)
Tiền tệ Đồng

Việt Nam Cộng hòa (19551975) là một nước độc lập ở vùng Đông Nam Á được thành lập từ Quốc gia Việt Nam (19491955), có chủ quyền lãnh thổ chính thức ở miền Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ sau khi đầu hàng lực lượng Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt NamViệt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Mục lục

[sửa] Tên gọi

Tên gọi chính thức của quốc gia này trong tiếng Việt là "Việt Nam Cộng hòa". Người ta cũng dùng "Nam Việt Nam" làm tên gọi không chính thức cho quốc gia này.

[sửa] Lịch sử

Trưng cầu dân ý năm 1955 đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền
Trưng cầu dân ý năm 1955 đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền

Sau trưng cầu dân ý, nước Việt Nam Cộng hoà được thành lập, thủ đô là thành phố Sài Gòn và ngày 26 tháng 10 trở thành ngày Quốc khánh của Đệ nhất Cộng hoà. Việt Nam Cộng hoà theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế tư bản chủ nghĩa và được Mỹ đỡ đầu, bảo vệ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Việt cộng tại miền Nam.

Chính quyền Quốc gia Việt Nam không ký vào Hiệp định Genève (không có quyền ký do lực lượng quân sự quá nhỏ [1]). Cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền theo hiệp định dự định sẽ được tổ chức hai năm sau đó. Tuy nhiên, vì lo ngại cuộc bầu cử có thể không công bằng ở cả hai miền [cần chú thích], nhất là từ nhận định của Tổng thống Mỹ Eisenhower rằng Hồ Chí Minh sẽ được khoảng 80% dân số Việt Nam bầu làm người đứng đầu chính phủ[2], nên chính quyền Quốc gia Việt Nam đã cự tuyệt thực hiện tổng tuyển cử.

Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền đi theo chủ nghĩa Cần lao Nhân vị. Trong khoảng 5 năm, Việt Nam Cộng hoà đã có một số thành tựu: xã hội ổn định, kinh tế phát triển, định cư gần 1 triệu dân di cư từ miền bắc, thành lập Viện Đại học Huế...

Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm bị xem là chính phủ độc tài gia đình trị, dần dần có nhiều mâu thuẫn nội bộ. Từ năm 1955 và đặc biệt là từ 1959, cùng với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ (do lo ngại ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản), chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách đàn áp cộng sản, tố cộng diệt cộng trên toàn bộ Nam Việt Nam (luật 10/59). Phong trào Đồng khởi năm 1960 (do Đảng cộng sản lãnh đạo) và cuộc đảo chính hụt năm 1961 là những đòn giáng mạnh vào chế độ. Sự kiện Phật Đản năm 1963, việc cấm treo cờ Phật giáo ở Huế đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ các Phật tử, dẫn đến các hoạt động đàn áp Phật giáo của chính quyền. Việc Thượng toạ Thích Quảng Đức tự thiêu giữa đường phố Sài Gòn cùng những phát biểu của bà Ngô Đình Nhu (tức dân biểu Trần Lệ Xuân) làm chế độ Ngô Đình Diệm bị báo chí phương Tây đả kích kịch liệt và mất hết mọi sự ủng hộ từ phương Tây.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, nền Đệ nhất Cộng hoà bị lật đổ bởi một nhóm quân nhân dưới sự chỉ huy của một số tướng lãnh trong đó có tướng Dương Văn Minh (về sau, ngày này được xem là ngày Quốc khánh của Đệ nhị Cộng hoà). Ngô Đình Diệm cùng nhiều người trong gia tộc đã bị giết để trừ hậu hoạ. Theo như hồi ký của bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ Robert McNamara, chính CIA đã hậu thuẫn cho việc lật đổ này và McNamara xem đó là một sai lầm nghiêm trọng mà Hoa Kỳ mắc phải. Tuy nhiên việc sát hại không phải là chủ trương của Hoa Kỳ.

Kể từ đây, sự phụ thuộc của Việt Nam Cộng hòa vào viện trợ của Hoa Kỳ, về tài chính cũng như về quân sự, cũng như sự can thiệp của tòa đại sứ Mỹ vào công việc nội bộ về chính trị và quân sự của Việt Nam Cộng hòa ngày càng lên cao.

Tiếp sau đó là giai đoạn khủng hoảng lãnh đạo chính trị ở miền Nam bởi một loạt các cuộc đảo chính liên tiếp (đảo chính 1964 của tướng Nguyễn Khánh, đảo chính hụt 1965), cho đến khi tướng Nguyễn Văn Thiệu thiết lập nền Đệ nhị Cộng hoà Việt Nam. Chính phủ Việt Nam Cộng hoà cùng với các đồng minh của mình chiến đấu chống lại các hoạt động quân sự của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Liên Xô, Trung Quốckhối xã hội chủ nghĩa hậu thuẫn trong Chiến tranh Việt Nam.

Hiện trường một vụ đánh bom của Việt Cộng ở Sài Gòn năm 1965
Hiện trường một vụ đánh bom của Việt CộngSài Gòn năm 1965

Tháng 6 năm 1969, trong vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã diễn ra Đại hội đại biểu quốc dân và thành lập ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, do Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch và Hội đồng Cố vấn do Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch.

Vào năm 1973, sau Hiệp định Paris (được thảo luận giữa bốn bên tham chiến là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam), quân đội Hoa Kỳ đã rút khỏi Việt Nam. Bị mất viện trợ về tài lực và quân sự từ phía Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa không thể tự đứng vững được. Năm 1975, sau khi thất thủ Ban Mê Thuột (nay gọi là Buôn Ma Thuột), trước sự tấn công mãnh liệt của Quân Giải phóng, cộng thêm các sai lầm chiến lược, quân đội Việt Nam Cộng hoà đã nhanh chóng tan rã, mất quyền kiểm soát lãnh thổ. Nhiều tướng lãnh cao cấp miền Nam Việt Nam đã tự ý rời bỏ hàng ngũ. Tổng thống Dương Văn Minh, người được đề cử chức vụ này vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, đã ra lệnh đầu hàng vô điều kiện trước Quân Giải phóng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà giải thể và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thay thế chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý miền Nam Việt Nam. Chính phủ mới này nằm dưới sự chỉ đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho đến khi nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, sáp nhập hai chính phủ, vào ngày 2 tháng 7 năm 1976.

[sửa] Tổ chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Hiến pháp 1967 xác lập cơ cấu tổ chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa rất hoàn chỉnh, theo mô hình của nhà nước Hoa Kỳ. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa đã thể hiện khá đầy đủ tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến.

[sửa] Lập pháp

Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội với Hạ nghị viện (thành viên được gọi là dân biểu, nhiệm kỳ 4 năm) và Thượng nghị viện (thành viên được gọi là nghị sĩ, nhiệm kỳ 6 năm). Quốc hội có những quyền hạn sau:

  • Biểu quyết các đạo luật
  • Phê chuẩn các hiệp ướchiệp định quốc tế
  • Quyết định việc tuyên chiến và nghị hoà, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh
  • Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chính sách quốc gia
  • Hợp thức hoá sự đắc cử của dân biểu hoặc nghị sĩ quốc hội
  • Quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chính phủ với đa số 2/3 tổng số dân biểu và nghị sĩ. Nếu Tổng thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực. Trong trường hợp Tổng thống khước từ, Quốc hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số 3/4 tổng số dân biểu và nghị sĩ.

Ở tỉnh có Hội đồng Lập pháp cấp tỉnh, thành viên gọi là dân biểu.

[sửa] Hành pháp

[sửa] Tổng thống

Tổng thống là người nắm quyền hành pháp, do dân bầu lên với nhiệm kỳ 4 năm và có những quyền hạn sau:

  • Ban hành các đạo luật
  • Hoạch định chính sách quốc gia
  • Bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ, cải tổ một phần hay toàn bộ Chính phủ (hoặc tự ý, hoặc sau khi có sự khuyến cáo của Quốc hội)
  • Bổ nhiệm các đại sứ, các tỉnh trưởng, thị trưởng, đô trưởng
  • Chủ tọa Hội đồng Tổng trưởng
  • Tổng tư lệnh tối cao của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
  • Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia
  • Ký kết và ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế
  • Tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm bằng sắc luật.

[sửa] Phó Tổng thống

Phó Tổng thống có những nhiệm vụ sau:

  • Chủ tịch Hội đồng Văn hoá Giáo dục
  • Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Xã hội
  • Chủ tịch Hội đồng các Sắc tộc.

Phó Tổng thống không được kiêm nhiệm một chức vụ nào trong Chính phủ.

[sửa] Chính quyền Trung ương

Thủ tướng điều khiển Chính phủ và các cơ cấu hành chính quốc gia. Thủ tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chính sách quốc gia trước Tổng thống.

Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm.

Chính quyền Trung ương được tổ chức thành 19 Bộ:

  1. Bộ Ngoại giao
  2. Bộ Quốc phòng
  3. Bộ Nội vụ
  4. Bộ Thông tin
  5. Bộ Chiêu hồi
  6. Bộ Tài chánh
  7. Bộ Kinh tế
  8. Bộ Tư pháp
  9. Bộ Phát triển Nông thôn
  10. Bộ Cải cách Điền địa và Pháp triển Nông–Ngư nghiệp
  11. Bộ Công chánh
  12. Bộ Giao thông và Bưu điện
  13. Bộ Giáo dục
  14. Bộ Y tế
  15. Bộ Xã hội
  16. Bộ Lao động
  17. Bộ Cựu chiến binh
  18. Bộ Phát triển Sắc tộc
  19. Bộ Đặc trách liên lạc Quốc hội

Ngoài ra còn có 3 Quốc vụ khanh:

  1. Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá
  2. Quốc vụ khanh đặc trách tái thiết và phát triển
  3. Văn phòng Quốc vụ khanh

Đứng đầu các Bộ là các Tổng trưởng hoặc Bộ trưởng. Các Tổng trưởng và Bộ trưởng là các thành viên của Chính phủ, thành viên của Hội đồng Nội các (Hội đồng Tổng trưởng).

Các Tổng trưởng, Bộ trưởng do Thủ tướng đề nghị lên Tổng thống, Tổng thống bổ nhiệm.

Thủ tướng và các thành viên Chính phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc hội hoặc của các Uỷ ban để trình bày và giải quyết về các vấn đề liên quan đến chính sách quốc gia và sự thi hành các chính sách quốc gia do Tổng thống hoạch định.

[sửa] Chính quyền địa phương

  • Đô thành Sài Gòn, thị xã: đứng đầu là đô trưởng, thị trưởng
  • Cấp tỉnh: đứng đầu là tỉnh trưởng
  • Cấp quận (tương đương quận hay huyện ngày nay): đứng đầu là quận trưởng
  • Cấp xã: đứng đầu là xã trưởng

[sửa] Tư pháp

[sửa] Cơ quan Tư pháp Trung ương

Tối cao Pháp viện gồm 9 thẩm phán, do Quốc hội tuyển chọn và Tổng thống bổ nhiệm trên danh sách do Tối cao Pháp viện và Bộ Tư pháp lập ra. Nhiệm kỳ của thẩm phán Tối cao Pháp viện là 6 năm. Tối cao Pháp viện có những quyền hạn sau đây:

  • Giải thích Hiến pháp, phán quyết về tính hợp hiến hay không hợp hiến của các Đạo luật, Sắc luật, Sắc lệnh, Nghị định, Quyết định hành chính
  • Phán quyết về việc giải tán một chính đảng có chủ trương và hành động chống lại chính thể cộng hoà.

Những quyết định của Tối cao Pháp viện tuyên bố một đạo luật không hợp hiến hoặc giải tán một chính đảng phải được 3/4 tổng số thẩm phán tán thành.

Ở cấp Trung ương, ngoài Tối cao Pháp viện còn có Đặc biệt Pháp việnGiám sát viện.

Đặc biệt Pháp viện gồm có Chủ tịch Tối cao Pháp viện và 10 dân biểu, nghị sĩ, có thẩm quyền truất quyền Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Tổng trưởng, Bộ trưởng, thẩm phán Tối cao Pháp viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác.

Giám sát viện gồm từ 9-18 giám sát viện, 1/3 do Quốc hội, 1/3 do Tổng thống và 1/3 do Tối cao Pháp viện chỉ định.

Giám sát viện có thẩm quyền:

  • Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân can tội tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế
  • Kiểm kê tài sản của nhân viên các cơ quan công quyền, kể cả Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, dân biểu, Nghị sĩ và Chủ tịch Tối cao Pháp viện
  • Có quyền đề nghị các biện pháp chế tài và kỷ luật hoặc yêu cầu truy tố trước toà án có thẩm quyền những đương sự phạm lỗi
  • Thẩm tra kế toán các cơ quan công quyền và hợp doanh.

[sửa] Cơ quan Tư pháp địa phương

Ở địa phương, có các toà án thường (gồm các toà Thượng thẩm, toà Đại hình, toà Sơ thẩm, toà Hoà giải, toà Vi cảnh) và các toà án đặc biệt (gồm các toà Hành chính, toà Lao động, toà án Điền địa, toà Thiếu nhi, toà án Cấp dưỡng, toà án Sắc tộc, toà án Quân sự đặc biệt - trong đó có các toà án Quân sự tại mặt trận).

[sửa] Các đơn vị hành chính cấp tỉnh

Bản đồ hành chính cho biết địa giới các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa, tháng 6 năm 1967
Bản đồ hành chính cho biết địa giới các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa, tháng 6 năm 1967

Đầu năm 1956, thành lập thêm các tỉnh Tam Cần (9/2/1956), Mộc Hóa (17/2/1956), Phong Thạnh ((17/2/1956), Cà Mau (9/3/1956).

Theo sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì Nam phần (tức Nam Bộ) gồm 22 tỉnh và Đô thành Sài Gòn. Như vậy, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa lúc này có 35 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Pleiku, Darlac, Đồng Nai Thượng, Phước Long (tên cũ: Bà Rá), Bình Long (tên cũ: Hớn Quản), Long Khánh (tên cũ: Xuân Lộc), Biên Hòa, Bình Tuy, Phước Tuy (tên cũ: Bà Rịa-Vũng Tàu), Bình Dương (tên cũ: Thủ Dầu Một), Tây Ninh, Gia Định, Long An (gộp Chợ Lớn và Tân An), Kiến Tường (tên cũ: Mộc Hóa), Kiến Phong (tên cũ: Phong Thạnh), Định Tường (gộp Mỹ Tho và Gò Công), Kiến Hòa (tên cũ: Bến Tre), Vĩnh Long, Vĩnh Bình (tên cũ: Trà Vinh), An Giang (gộp Long Xuyên và Châu Đốc), Phong Dinh (tên cũ: Cần Thơ), Kiên Giang (gộp Rạch Giá và Hà Tiên), Ba Xuyên (gộp Bạc LiêuSóc Trăng), An Xuyên (tên cũ: Cà Mau), Côn Sơn và Đô thành Sài Gòn.

Ngày 19/5/1958, lập 2 tỉnh Lâm ĐồngTuyên Đức từ tỉnh Đồng Nai Thượng.

Ngày 23/1/1959, lập 2 tỉnh Quảng ĐứcPhước Thành.

Ngày 21/1/1961, lập tỉnh Chương Thiện.

Năm 1962, lập 2 tỉnh Quảng Tín (31/7/1962) và Phú Bổn (1/9/1962).

Năm 1963, lập 2 tỉnh Hậu Nghĩa (15/10/1963) và Gò Công (20/12/1963).

Ngày 8/9/1964, lập 2 tỉnh Châu ĐốcBạc Liêu.

Năm 1965, bỏ 2 tỉnh Côn Sơn (21/4/1965) và Phước Thành (6/7/1965).

Ngày 24/9/1966, lập tỉnh Sa Đéc.

Từ đó cho đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có 44 tỉnh và Đô thành Sài Gòn:

Quảng Trị | Thừa Thiên | Quảng Nam | Quảng Tín | Quảng Ngãi | Kon Tum | Bình Định | Pleiku | Darlac | Phú Yên | Phú Bổn | Khánh Hòa | | Ninh Thuận | Tuyên Đức | Quảng Đức | Bình Thuận | Lâm Đồng | Phước Long | Bình Long | Bình Tuy | Long Khánh | Bình Dương | Tây Ninh | Phước Tuy | Biên Hòa | Hậu Nghĩa | Gia Định | Long An | Kiến Tường | Gò Công | Định Tường | Kiến Phong | Châu Đốc | Kiến Hòa | Vĩnh Long | Sa Đéc | An Giang | Kiên Giang | Vĩnh Bình | Phong Dinh | Ba Xuyên | Chương Thiện | Bạc Liêu | An Xuyên

[sửa] Các quân khu

Bác sĩ người Mỹ trong chương trình MEDCAP và 1 binh sĩ người Việt Nam - Hình chụp tại 1 ngôi làng nhỏ ở miền Nam
Bác sĩ người Mỹ trong chương trình MEDCAP và 1 binh sĩ người Việt Nam - Hình chụp tại 1 ngôi làng nhỏ ở miền Nam

Về mặt quân sự, năm 1961 thành lập các vùng chiến thuật, đến tháng 7/1970 đổi tên là Quân khu. Lúc đầu có 3 vùng chiến thuật được đánh số 1, 2, 3, đến năm 1964 lập thêm vùng chiến thuật 4. Mỗi vùng chiến thuật do 1 quân đoàn phụ trách. Dưới vùng chiến thuật là các khu chiến thuật do 1 sư đoàn phụ trách. Bộ tư lệnh quân đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh vùng chiến thuật, còn Bộ tư lệnh sư đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh khu chiến thuật. Các vùng chiến thuật có địa giới như sau:

  • Vùng 1 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Đà Nẵng, gồm 5 tỉnh:
    • Khu 11 chiến thuật, gồm 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên
    • Khu 12 chiến thuật, gồm 2 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi
    • Đặc khu Quảng Nam, gồm tỉnh Quảng Nam và thị xã Đà Nẵng
  • Vùng 2 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Pleiku, gồm 12 tỉnh:
    • Khu 22 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn
    • Khu 23 chiến thuật, gồm 7 tỉnh Darlac, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, Quảng Đức
    • Biệt khu 24, gồm 2 tỉnh Kon Tum, Pleiku
  • Vùng 3 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Biên Hòa, gồm 10 tỉnh:
    • Khu 31 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An
    • Khu 32 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Phước Long, Bình Long, Bình Dương
    • Khu 33 chiến thuật, gồm 4 tỉnh Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, Biên Hòa
  • Vùng 4 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Cần Thơ, gồm 15 tỉnh:
    • Khu chiến thuật Định Tường, gồm 4 tỉnh Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa
    • Khu 41 chiến thuật, gồm 6 tỉnh Kiến Phong, Châu Đốc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Kiên Giang; sau thêm Sa Đéc
    • Khu 42 chiến thuật, gồm 5 tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, An Xuyên

Khi 4 vùng chiến thuật chuyển thành 4 Quân khu, thì bỏ cấp khu chiến thuật. Quân khu 1 gồm ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Quân khu 2 với diện tích 78.841 km vuông, chiếm gần phân nửa lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa nhưng chỉ có gần 3 triệu dân sinh sống trong 12 tỉnh. Quân khu 3 có thêm tỉnh Gia Định và Biệt khu Thủ đô (do Quân khu Thủ đô đổi thành), tổng cộng 11 tỉnh. Quân khu 4 có 16 tỉnh.

Các thị xã về mặt quân sự là các tiểu khu, còn các quận là các chi khu.

[sửa] Quân lực

Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Thành lập từ năm 1955 với nòng cốt là lực lượng quân đội Quốc gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, chủ yếu là Bảo an đoàn, Bảo chính đoàn. Ngày truyền thống (còn gọi là ngày Quân lực) là ngày 19 tháng 6. Quân lực Việt Nam Cộng hoà được trang bị hùng hậu với sức cơ động cao và hoả lực mạnh, được sự hỗ trợ tích cực của Mỹ, và các đồng minh, để chống lại những người Cộng sản miền Nam, vốn được sự hậu thuẫn của miền Bắc. Quân lực Việt Nam Cộng hoà còn bị gọi là "quân đội Sài Gòn" hay "quân ngụy" theo cách gọi của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đương thời. Quân lực Việt Nam Cộng hoà cũng là lực lượng chính trong cuộc đảo chính 1963 lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và tham chính trong chính quyền cho đến ngày Việt Nam Cộng hoà sụp đổ.

Các sĩ quan Hải quân Việt Nam tại Quân cảng Cam Ranh ngày 1 tháng Giêng năm 1971
Các sĩ quan Hải quân Việt Nam tại Quân cảng Cam Ranh ngày 1 tháng Giêng năm 1971

Quân lực Việt Nam Cộng Hoà là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Nền kinh tế Việt Nam Cộng hoà không thể cáng đáng được kinh phí này, nên Việt Nam Cộng hoà đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ quốc gia. Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la vào năm 1974, nền kinh tế lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động. [3] Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, lực lượng quân đội này đã tan rã.

[sửa] Kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam Cộng hoà là một nền kinh tế thị trường, đang phát triển, và mở cửa. Mức độ tự do của nền kinh tế khá cao trong những năm 1963 đến 1973. Tuy nhiên, phát triển kinh tế vẫn được triển khai dựa trên các kế hoạch kinh tế 5 năm hoặc kế hoạch bốn năm. Nền kinh tế ổn định trong gần 10 năm đầu tiên, sau đó do tác động của chiến tranh leo thang trở nên mất ổn định với những đặc trưng như tốc độ tăng trưởng kinh tế không đều, tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách nhà nướcthâm hụt thương mại. Chính quyền đã phải tiến hành cải cách ruộng đất tới hai lần. Mỹ đóng vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế của Việt Nam Cộng hoà thông qua viện trợ kinh tế cũng như hỗ trợ kỹ thuật.

[sửa] Văn hoá

[sửa] Giáo dục

Trước năm 1954, miền Nam không có trường đại học nào. Tới 1973, Viện Đại học Sài Gòn đã đứng vào hàng quốc tế. Sau này các bác sĩ Việt Nam di tản sang Mỹ, chỉ cần một hai năm đào tạo lại và học thêm tiếng Anh là hành nghề được ngay.[4]

Ngoài Viện Đại học Sài Gòn, miền Nam Việt Nam còn có các viện đại học khác như: Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Vạn Hạnh, Viện Đại học Minh Đức, Viện Đại học Hoà Hảo, Viện Đại học Cao Đài. Năm 1973, tổng số sinh viên đại học lên tới 98.832 người so với chỉ 2.900 người vào năm 1955. Số học sinh trung học trong cùng năm ấy là trên một triệu so với 43.000; và học sinh tiểu học, trên ba triệu so với 401.000. Ngoài ra còn các trường cao đẳng cộng đồng, trường huấn nghiệp và các chương trình công nghệ.[4]

[sửa] Hạ tầng cơ sở

Một kết quả tốt của chiến tranh là mang tới cho Miền Nam một hạ tầng cơ sở khá tốt, giúp phát triển kinh tế lâu dài dù việc xây dựng hạ tầng là rất tốn kém và mất thời gian.

[sửa] Giao thông đường không

Ngoài những phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng, Cần Thơ có thể tiếp nhận phản lực đủ loại còn có những phi trường nhỏ ở Đà Lạt, Huế, Kontum, Phú Quốc. Pleiku, Rạch Giá, và Qui Nhơn. Cộng thêm vào là khoảng 100 sân bay tý hon, rải rác khắp nơi, rất tiện cho việc liên lạc giữa các địa phương[5].

[sửa] Giao thông đường thủy

Miền Nam có tới 4.780 cây số sông, rạch (3.000 dặm Anh). Hải cảng lớn gồm Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá. Còn đường xá có tới 21.000 km đường trong đó gần 9.500 km là đường nhựa, đi được quanh năm. Cầu các loại qua sông tới gần 4.000 cây rất nhiều cầu đã bị hư hỏng do chiến tranh, nhưng sửa chữa lại thì cũng nhanh. Có gần 170.000 xe tải và trên 51.000 xe hành khách lưu thông trên hệ thống đó.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Bernard B. Fall, The Two Vietnams: A Political and Military Analysis (New York: Praeger, 1964)
  2. ^ Dwight D. Eisenhower, Mandate for Change, 1953-56 (Garden City, NY: Doubleday & Compnay, Inc., 1963), p. 372. Trích:
    "I have never talked or corresponded with a person knowledgeable in Indochinese affairs who did not agree that had elections been held as of the time of the fighting, possibly 80 per cent of the population would have voted for the Communist Ho Chi Minh as their leader rather than Chief of State Bao Dai." (Tôi chưa bao giờ nói chuyện hoặc trao đổi thư từ với một người có hiểu biết về các vấn đề Đông Dương mà họ không đồng ý rằng nếu bầu cử được tổ chức tại thời điểm tranh chấp, có lẽ 80% dân số sẽ bầu Hồ Chí Minh làm người lãnh đạo thay vì Quốc trưởng Bảo Đại.)
  3. ^ Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing, tr.80
  4. ^ a b Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh tháo chạy, Phần 2, chương 5
  5. ^ Business International Asia/pacific Ltd., Risks and Rewards in Vietnam s Market, trang 74. Dẫn tại Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh tháo chạy, P.2, C.5

[sửa] Tham khảo

[sửa] Liên kết ngoài

Tiền nhiệm:
Quốc gia Việt Nam
Việt Nam Cộng hoà.
1955-1975
Kế nhiệm:
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam


Công cụ cá nhân