Chư Prông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chư Prông
Địa lý
Trực thuộc thành phố: {{{thành phố cấp trên quận}}}
Trụ sở Ủy ban Nhân dân: ?
Vị trí: phía nam tỉnh Gia Lai
Diện tích: 1.687,5 km² km²
Số phường: {{{Phường}}}
Dân số
Số dân: 75.363 người (năm 2003)
Mật độ: 44,66 người/km²
Thành phần dân tộc: Kinh, Gia Rai, Ba Na
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng Nhân dân: {{{HĐND}}}
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân: {{{UBND}}}
Bí thư Quận ủy: {{{QU}}}
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở: {{{Fax}}}
Website: {{{Website}}}

Chư Prông là một huyện của Việt Nam, thuộc tỉnh Gia Lai. Huyện lỵ là thị trấn Chư Prông. Tên huyện được đặt theo tên ngọn núi cao nhất vùng - núi Chư Prông. "Chưprông" theo tiếng J' rai có nghĩa là "ngọn núi lớn", "chư" là ngọn núi, "prông" là lớn[cần dẫn nguồn].

Chư Prông giáp với các huyện Đức Cơ, Ia Grai, thành phố Pleiku, Đăk Đoa ở phía Bắc, Chư Sê ở phía Đông, Ea Súp (tỉnh Đăk Lăk) ở phía Nam và Campuchia ở phía Tây.

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thị trấn Chư Prông là nơi tập trung các cơ quan hành chính của huyện,gồm ủy ban nhân dân, HDND và các cơ quan khác. Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn là trường lớn nhất tại Chư Prông nằm tại đường Nguyễn Trãi. Ngoài ra còn có trường Trung học phổ thông Trần Phú (xã Thăng Hưng),trung học phổ thông Pleime ( xã Ia Ga) trung học cơ sở Chu Văn An và các trường tiểu học.

Các xã:

  • Ia Băng
  • Ia Boòng
  • Ia Lâu
  • Ia Me
  • Ia Mơ
  • Ia O
  • Ia Pia
  • Ia Púch
  • Ia Phìn
  • Ia Tôr
  • Ia Vê
  • Bàu Cạn
  • Bình Giáo
  • Thăng Hưng
  • Ia Bang
  • Ia Kly
  • Ia Drang
  • Ia Ga
  • Ia Piơr

Các trường trung học: trường trung học cơ sở Chu Văn An trường trung học cơ sở Quang Trung trường trung học cơ sở Đinh Tiên Hoàng trường trung học cơ sở

Chư Prông là nơi đã diễn ra chiến thắng nổi tiếng diễn ra cách đây hơn 40 năm đó là chiến thắng Plei Me oanh liệt và hiện nay đã trở thành điểm tham quan, du lịch. Đến với Chư Prông bạn có thể thấy những ngọn đồi với bạt ngàn cà phê và cao su, bạn còn có thể đến thăm thác 7 bậc tại xã Ia Phìn, các điểm du lịch của huyện như nông trường Chè Bàu Cạn, chùa Bửu Sơn, chùa Đức Tôn…

Năm 2010, tổng giá trị sản xuất toàn huyện  ước đạt hơn 2.884 tỷ đồng, tăng 1.688 tỷ đồng so với năm 2005, mức tăng bình quân 28,2%/năm; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân hàng năm 124,8%; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh qua từng năm, từ 39,5% (năm 2005) xuống còn 13% (vào cuối năm 2010); thu nhập bình quân tăng từ 5,4 triệu đồng (năm 2005) lên 10,5 triệu đồng (năm 2010).

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển dịch nhanh và đúng hướng. Ước tính đến cuối năm 2010, tổng diện tích gieo trồng là 56.607 ha (tăng 16.138 ha so với năm 2005).

Huyện luôn chú trọng áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp đem lại giá trị kinh tế cao. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội liên tục tăng qua các năm với mức tăng bình quân 124,8%/năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như điện - đường - trường - trạm được quan tâm đầu tư, góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tăng năng lực sản xuất và làm thay đổi khá nhanh diện mạo nông thôn, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, 85% tuyến đường từ huyện đến xã đã được thảm nhựa, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 95% thôn, làng và 90% số hộ gia đình được sử dụng điện.

Sự nghiệp giáo dục, y tế không ngừng phát triển, chất lượng dạy và học, khám - chữa bệnh được nâng lên, đời sống của nhân dân được cải thiện, góp phần tạo động lực mới thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Đến nay, huyện đạt tỷ lệ 2 bác sĩ/vạn dân, 30% trạm y tế xã và phòng khám khu vực có bác sĩ, 173/173 thôn, làng có cộng tác viên y tế…

Trong giai đoạn 2010 - 2015 toàn huyện phấn đấu đạt các chỉ tiêu cơ bản sau: Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn đạt 4.884,216 tỷ đồng; cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp đạt 36,1%, công nghiệp - xây dựng đạt 35,5%, dịch vụ đạt 28,4%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội 2.665.116 triệu đồng; thu nhập bình quân đầu người 15 triệu đồng/năm; tổng thu ngân sách trên địa bàn 266 tỷ đồng, trong đó huyện thu 145 tỷ đồng, đáp ứng 80-85% nhu cầu chi thường xuyên, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 5%; giải quyết việc làm cho 5.000 lao động; có từ 75% đến 80% thôn, làng văn hóa; 100% thôn, làng, hộ gia đình được sử dụng điện.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]