Chắn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chắn là một trò chơi bài lá cải tiến và đơn giản hóa từ trò Tổ tôm. Đây là 2 trò chơi dân gian phổ biến của người dân Việt Nam.
Có 2 cách chơi chắn là bí tứ và bí ngũ.

Bộ bài[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ bài tổ tôm gồm 120 quân chia làm 30 loại (mỗi loại 4 quân): nhất vạn, nhất văn, nhất sách, nhị vạn,.. cửu vạn, cửu văn, cửu sách, và 3 loại đặc biệt (gọi là yêu) là lão, chi, thang.

Bí tứ[sửa | sửa mã nguồn]

Bí tứ là cách chơi phổ biến hơn bí ngũ và tổ tôm (xét theo số người chơi nói chung. Tuy nhiên các cụ già lại thường chơi tổ tôm hơn) Trong cách chơi này, bộ bài tổ tôm được bỏ đi 20 quân: lão, thang, nhất vạn, nhất văn, nhất sách (Còn lại 100 quân)

Chia bài, chọn nọc, bốc cái[sửa | sửa mã nguồn]

2 đến 4 người chơi ngồi vòng tròn trên chiếu, mỗi người được chia 19 lá bài. Những lá còn lại đặt giữa chiếu gọi là Nọc.
Cách chia: 2 người cùng chia (2 người thua ván trước nếu chơi 3 người, hoặc 2 người không chéo cánh với người ù ván trước nếu chơi 4 người). Mỗi người lấy khoảng 1 nửa bộ bài, chia rải đều, úp mặt thành 5 phần (2 người chia làm 10 phần), sẽ thừa từ 0 đến 5 quân. Khi chia xong, lấy 5 phần này bỏ vào 5 phần kia thành 5 phần chung. 5 lá thừa được đưa cho người thắng ván trước để chọn nọc
.

Chọn nọc, bốc cái: Người thắng ván trước bỏ 5 lá thừa vào 1 phần bài bất kỳ để làm nọc. Rồi rút ngẫu nhiên 1 quân trong nọc, lật ngửa vào 1 phần bài bất kỳ trong 4 phần còn lại - phần này gọi là bài cái, quân lật ngửa gọi là Cái

Việc bốc cái là để xác định ai được phần bài nào và ai là người đánh đầu tiên trong ván:
Từ quân cái, xác định được 1 số (chi là 1, nhị là 2, tam là 3,..). Đếm từ người bốc cái là 1, lần lượt theo chiều tay phải, người tiếp theo là 2, tiếp nữa là 3,.. đến số của quân cái là người được phần bài cái và được đánh đầu.

Chẳng hạn, nếu chơi 4 người (A,B,C,D) (B và D chéo cánh), B bốc cái được quân thất vạn. Đếm B là 1, C là 2,..lần lượt sẽ là: BCDABCD, tức đến 7 (thất) sẽ là D. Vậy D được phần bài cái. Những phần bài còn lại sẽ lần lượt được đưa cho từng người: Phần ngay bên phải phần bài cái được đưa cho A - là người ngay bên phải người được bài cái (D), phần tiếp nữa đưa cho B & phần bên trái bài cái đưa cho C (C bên trái D).

Để dễ nhớ: nhị (lục) tiến, tứ (bát) tụt, tam (thất) đối. Nghĩa là, như trong trường hợp trên B bốc được thất "đối" => người "đối" với B (là D) được cái. Tương tự, nếu B bốc được nhị văn chẳng hạn, thì nhị "tiến" => người "tiến" với B (là C) được cái.

Chắn, Cạ, Ba đầu, Què[sửa | sửa mã nguồn]

Chắn: Là 2 quân bài giống hệt nhau. Ví dụ: 2 quân chi chi, hoặc 2 quân nhị văn
Cạ: Là 2 quân bài giống nhau về số, khác chất. Ví dụ: 2 quân [nhị vạn, nhị văn]
Ba đầu: Là 3 quân cùng số, khác chất. Vd: Ba đầu cửu là [cửu vạn, cửu văn, cửu sách]
Què: Khi lên bài (sau khi được chia), thường sẽ phải xếp lại bài cho dễ nhìn: Chọn hết các chắn xếp trước, rồi xếp cạ, ba đầu. Những quân lẻ ra gọi là quân Què, xếp ngoài cùng (Những quân này thường được ăn vào/ đánh đi để thêm chắn/ cạ => để tròn bài => ù)

Đánh bài[sửa | sửa mã nguồn]

Theo vòng tay phải, mỗi người khi đến lượt có thể thực hiện: Đánh, Bốc Nọc, Ăn, Dưới, Chíu, Trả Cửa, Ù

Đánh: Lấy 1 quân trong bài của mình đánh ngửa xuống chiếu bên tay phải.
Chỗ ở giữa 2 người chơi cạnh nhau gọi là Cửa. Cửa bên phải của 1 người gọi là cửa chì của người đó, cửa bên trái gọi là cửa trên, bên phải là cửa dưới. (Vậy cửa trên của 1 người cũng là cửa chì của người bên trái)

Bốc Nọc: Bốc 1 lá trong Nọc đặt ngửa vào cửa chì

Ăn: Nếu quân bài dưới chiếu hợp với 1 quân nào đó trên tay thành Chắn hoặc Cạ thì có thể Ăn: Nhặt quân dưới chiếu đặt ngửa vào lòng, rồi rút quân trên tay đặt ngửa lên trên quân vừa ăn được.

Khi 1 người vừa Bốc, thì người đó được quyền ăn quân vừa bốc đó. Nếu không ăn thì hô "Dưới", khi đó, người bên phải được quyền Ăn. (Nếu người đó cũng không ăn thì họ có thể Bốc để Ăn quân chính họ vừa bốc (hoặc lại có thể Dưới).

Chíu: Là cách ăn đặc biệt: Mình có 3 quân bài giống hệt nhau, dưới chiếu lại có 1 quân nữa cũng giống như vậy thì có thể ăn quân dưới chiếu dù quân đó được bất kỳ ai Bốc, hoặc Đánh.
(Chú ý là, Ăn thì chỉ được ăn quân mình vừa Bốc hoặc quân người cửa trên vừa Dưới, và phải tới lượt mình thì mới được ăn. Nhưng Chíu thì có thể chíu quân do bất kỳ ai bốc hoặc đánh, và chưa cần tới lượt vẫn được chíu)

Trả Cửa: Khi 1 quân được bốc hoặc đánh vào Cửa của ai đó, dù chưa đến lượt mình, mình vẫn có thể Chíu trước khi người khác ăn (Chíu ưu tiên hơn Ăn). Sau đó mình phải Trả Cửa: Đánh 1 quân thế vào chỗ quân mình vừa Chíu để ván chơi được tiếp tục bình thường.

Ù: Mục tiêu của trò chơi là Ù - đó là khi 19 quân của mình (gồm cả những quân Ăn được) hợp với 1 quân vừa bốc từ nọc (bất kỳ ai bốc) thành 10 bộ (Chắn hoặc Cạ), trong đó có ít nhất 6 Chắn (Chíu được tính là 2 chắn)
Chú ý mục chíu ù, bạch thủ chi bên dưới.

Luật đánh bài[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chơi, không được vi phạm các luật sau (nếu vi phạm sẽ bị phạt như trong mục tính điểm):
0. Trái vỉ: Khi ăn cạ, phải lấy quân ăn được dưới chiếu bỏ vào lòng, rồi lấy quân ăn trên tay đặt lên trên quân ăn được. Nếu lại làm ngược lại: Đặt quân ăn được lên trên quân ăn thì là trái vỉ

(A. Ràng buộc với bài trên tay)[sửa | sửa mã nguồn]

1. Ăn treo tranh: Ăn được thành chắn nhưng lại ăn cạ
Vd: Trên tay có cửu vạn, cửu văn, ăn cửu vạn nhưng lại hạ cửu văn xuống chiếu thành cạ [cửu văn, cửu vạn] (đáng nhẽ phải hạ chắn cửu vạn)
2. Chíu được nhưng lại ăn thường
Vd: Có 3 quân cửu vạn, bốc được cửu vạn, đáng nhẽ phải chíu thì lại chỉ hạ 1 quân cửu vạn xuống để ăn thường
3. Ăn chọn cạ: Lấy 1 quân trong cạ sẵn có để ăn cạ
Vd: Có cạ [cửu vạn, cửu văn], lấy cửu vạn ăn cửu sách
Chú ý: Trường hợp có 1 cửu vạn và 2, hoặc 4 cửu văn không gọi là "có cạ" cửa vạn, văn (Vì cửu văn nằm trong chắn rồi, cửu vạn là quân lẻ). Khi đó vẫn được lấy cửu vạn ăn cửu sách
4. Ăn cạ chuyển chờ: Lấy 1 quân chờ ù để ăn cạ
Vd: Đã có >= 5 chắn, chỉ què cửu vạn, không có ba đầu. Lấy cửu vạn ăn cửu văn
Chú ý: Nếu đang chờ ù ba đầu cửu, lại lấy cửu vạn ăn cửu văn thì là phạm lỗi treo tranh (hoặc nếu cửu văn là quân bốc từ nọc ra thì là phạm lỗi bỏ ù)
5. Có chắn cấu cạ: Lấy 1 quân trong chắn sẵn có để ăn cạ
Vd: Có chắn cửu vạn, không có cửu văn, lấy cửu vạn ăn cửu văn

(B. Ràng buộc với những quân đã bỏ không ăn)[sửa | sửa mã nguồn]

6. Bỏ chắn ăn chắn: Trước đã bỏ không ăn chắn này, giờ lại đòi ăn
7. Bỏ chắn ăn cạ: Lấy 1 quân - mà trước đó đã bỏ ăn chắn - để ăn cạ
8. Bỏ cạ ăn cạ: Lấy 1 quân - mà trước đó đã bỏ ăn cạ - để ăn cạ.
9. Bỏ chắn đánh chắn: Bỏ không ăn 1 con sau lại đánh đúng con đó
Vd: Trước đã bỏ không ăn cửu vạn, nếu sau đó lại:
Lấy cửu vạn ăn cửu vạn => lỗi 6
Lấy cửu vạn ăn cửu văn => lỗi 7
Lấy cửu văn ăn cửu sách => lỗi 8
Đánh cửu vạn đi => lỗi 9
(Chú ý: Được lấy cửu văn/ sách để ăn chắn - tức được bỏ cạ ăn chắn)

(C. Ràng buộc với những quân đã đánh)[sửa | sửa mã nguồn]

10. Đánh cạ ăn cạ: Đã đánh cả 1 cạ (2 quân) đi thì không được ăn bất kỳ cạ nào nữa
Vd: Nếu đã đánh cạ [cửu vạn, văn], sau lại ăn cạ [tam văn, tam sách]
11. Xé cạ ăn cạ: Đã đánh 1 quân, sau không được dùng quân hàng đó để ăn cạ
Vd: Đã đánh cửu vạn, sau lại lấy cửu văn ăn cửu sách
12. Đánh 1 quân rồi sau lại ăn đúng quân đó
13. Đánh đôi chắn đi
Vd: Đánh cửu vạn, sau lại đánh tiếp 1 quân cửu vạn nữa

(D. Ràng buộc với những quân đã ăn)[sửa | sửa mã nguồn]

14. Ăn 1 con rồi sau lại đánh đúng con đó
15. Ăn cạ rồi lại ăn chắn cùng hàng
Vd: Đã lấy cửu văn ăn cửu vạn, sau lại ăn chắn cửu (bất kỳ cửu gì)
16. Đánh cạ khi đẵ ăn cạ
Vd: Đã đánh cả tam văn, tam sách đi (đánh cạ), sau đó lại lấy cửu vạn ăn cửu sách (ăn cạ)
17. Ăn cạ đánh con cùng hàng
Vd: Đã lấy cửu vạn, ăn cửu văn, sau lại đánh cửu sách đi

Cước, Xướng[sửa | sửa mã nguồn]

Cước[sửa | sửa mã nguồn]

== Khi Ù, nếu bài ù có những điểm đặc biệt thì sẽ được ăn thêm tiền. Điểm đặc biệt ấy gọi là Cước, chẳng hạn bài toàn quân đen thì gọi là cước Bạch Định.
Chắn (bí tứ) có những cước sau:
1. Xuông: Bài ù không có gì đặc biệt (không có cước nào) thì gọi là ù xuông. Tùy theo quy định của làng (tập thể những người chơi gọi là làng), có thể cho phép ù xuông hay không (Thậm chí có làng còn quy định chỉ được ù cước từ 4,5,.. điểm trở lên)
2. Thông: Nếu ván trước ù và xướng đúng, hoặc ván trước treo tranh, ván sau cũng ù thì ván sau được hô cước thông (nếu hòa, xướng sai, bỏ ù, ù báo hoặc ù láo thì ván sau không được hô thông)
3. Chì: Nếu ù quân ở cửa chì (do mình bốc, hoặc do người khác chíu rồi trả cửa, rồi mình chíu ù)
4. Thiên ù: Người có cái (được chia 20 quân) tròn bài, ù luôn thì gọi là thiên ù
5. Địa ù: Ù khi chưa qua cửa chì.
Giải thích: + Có thể ù quân bốc nọc đầu tiên, cũng có thể ù khi nọc chưa được bốc phát nào (địa chíu ù)
+ Nếu đã qua lượt mình (qua cửa chì) mới ù thì không phải địa ù. Tuy nhiên có thể lên bài mình chưa chờ ù, nhưng khi chưa đến lượt mình, mình lại chíu được 1 phát rồi chờ ù. Sau đó mình ù khi vẫn chưa qua cửa chì thì vẫn là địa ù
6. Có chíu, 2 chíu,..: Nếu trong ván mình đã chíu 2 phát thì khi ù được hô "2 chíu"
7. Chíu ù: Chíu mà tròn bài, ù luôn thì là chíu ù. Bình thường chỉ được phép ù quân bốc từ nọc lên. Riêng chíu ù thì có thể ù quân người khác đánh/ hoặc trả cửa
Chú ý: Nếu chíu ù luôn thì là chíu ù, không được tính con chíu đó vào để hô "có chíu"
8. Có ăn bòn, 2 bòn,..: Đã có sẵn chắn (cửu vạn chẳng hạn), tách 1 quân ra để ăn chắn, sau lại lấy quân còn lại ăn chắn tiếp (=> ăn được 2 chắn cửu vạn). Cách ăn đó gọi là ăn bòn.
Nếu trong ván mình ăn bòn 2 phát thì hô "2 bòn"
9. Ù bòn: Khi bốc được 1 quân mà mình có thể ăn bòn, nhưng lại tròn bài, ù luôn thì là ù bòn (và không được đếm vào số bòn mình ăn)
10. Thiên khai: Trên tay có 4 quân giống nhau gọi là có thiên khai (Có thể có 0,1,2,3,4, thậm chí 5 thiên khai khi ù.:D Có bác nào được cước "Thông thiên ù thập thành 5 thiên khai 4 lèo" chưa nhỉ)
11. Bạch thủ: Nếu thiên ù bạch thủ thì là có 6 chắn, 4 cạ
Còn nếu không phải thiên ù thì phải có 5 chắn, 4 cạ, không có ba đầu (què 1 quân), và thêm cả quân ù vào là vừa tròn 6 chắn
12. Bạch thủ chi: Điều kiện như trường hợp Bạch thủ, với quân ù là chi chi
Chú ý: + Nếu là bạch thủ chi mà hô "bạch thủ" thì vẫn là hô sai
+ Ù chi chỉ được phép ù bạch thủ chi (nếu đang có > 5 chắn, lẻ quân chi mà làng bốc lên chi thì cũng không được ù)
13. Thập thành: Bài ù có 10 chắn
14. Bạch định: Bài ù toàn quân đen
(Trong bí tứ có 20 quân đỏ: bát vạn, bát sách, cửu vạn, cửu sách, chi chi. 80 quân còn lại là đen)
15. Tám đỏ: Bài ù có đúng 8 quân đỏ
16. Kính tứ chi: Bài ù có đúng 4 quân chi là đỏ
17. Lèo: Có cả cửu vạn, bát sách, chi chi thì gọi là có lèo. (Có thể có tối đa 4 lèo)
18. Tôm: Có cả tam vạn, tam sách, thất văn thì là có tôm.
19. Hoa rơi cửa phật: Bài của mình dưới chiếu có >=1 quân ngũ vạn (hình ngôi chùa), chì bạch thủ nhị vạn (hình hoa đào)
Giải thích: "Bài của mình dưới chiếu có >=1 quân ngũ vạn" nghĩa là mình đã ăn chắn ngũ vạn, hoặc chíu ngũ vạn
20. Nhà lầu xe hơi hoa rơi cửa phật: Có sẵn chắn ngũ vạn (nhà lầu), chắn tứ vạn (hình cái xe), chì bạch thủ nhị vạn (hoa đào)
Giải thích: "Có sẵn" nghĩa là không phải do ăn được mà có (chia bài đã có sẵn trên tay chắn ngũ vạn, chắn tứ vạn)
21. Cá lội sân đình: Giống hoa rơi cửa phật, thay nhị vạn bằng bát vạn. Nghĩa là, bài của mình dưới chiếu có >=1 quân ngũ vạn (đình), chì bạch thủ bát vạn (hình con cá)
Chú ý:
22. Ngư ông bắt cá: Trên tay có chi chi (2 chi) và 2 ngũ thuyền, chì bạch thủ bát vạn (hình con cá)
Chú ý:
+ Nếu xướng cước hoa/ hoặc nhà/ cá lại xướng cả chì và/ hoặc bạch thủ thì là xướng sai. Tuy nhiên, nếu xướng chì và/ hoặc bạch thủ mà không xướng hoa/nhà/cá thì vẫn coi là xướng đúng (nhưng tất nhiên không được tính tiền cước hoa/nhà/cá)
+ Có nơi chơi thêm luật: Khi chia bài không có chắn nào thì có thể hạ xuống tính là ù xuông hoặc tiếp tục chơi, nhưng nếu ù được (ăn được 6 chắn và ù) thì được tính bằng tám đỏ lèo hoặc thập thành ==

Xướng[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ù, mình phải đọc tên các Cước mình có. Việc đọc này gọi là Xướng. Nếu xướng thừa (sai) Cước mình không có thì sẽ bị đền tiền, xướng thiếu thì chỉ được ăn phần tiền tương ứng với những cước mình xướng.
Các cước xướng cũng cần theo 1 thứ tự logic:
+ Thông, chì hô trước,
+ Ù "kiểu gì": Thiên ù, địa ù, chíu ù, ù bòn hô tiếp theo. Chỉ hô 1 từ "ù", chẳng hạn nếu vừa địa ù, vùa chíu ù thì hô "địa chíu ù",
+ Ù "có gì": Có tôm, có lèo, có chíu, có thiên khai, có ăn bòn hô sau cùng
Tuy nhiên, thường làng không bắt lỗi hô không đúng thứ tự (khác với trong trò tổ tôm, các cụ bắt hô phải đúng thứ tự, có vần, có điệu! (có) Kinh!)

Tính điểm, ăn tiền[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm, Dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi cước được quy định tương ứng với số Điểm và số Dịch
Khi ù (xướng đúng), dựa vào các cước xướng sẽ tính ra số điểm tổng, nhân tổng này với số tiền cho mỗi điểm sẽ ra số tiền mỗi người thua phải mất cho người ù
Điểm tổng được tính như sau:
+ Nếu chỉ xướng 1 cước thì điểm tổng = Điểm của cước đó
+ Nếu xướng nhiều cước thì điểm tổng = Điểm của cước có điểm lớn nhất + tổng số Dịch của các cước còn lại

Cước Điểm Dịch Ghi chú
Xuông 2 n/a
Thông 3 1
Chì 3 1
Thiên ù 3 1
Địa ù 3 1
Chíu 3 1
Chíu ù 3 1 có nơi chơi 4 điểm, 1 dịch
Bòn 3 1
Ù bòn 3 1 có nơi chơi 4 điểm, 1 dịch
Thiên khai 3 1
Bạch thủ 4 1
Bạch thủ chi 6 3
Thập thành 12 9 tính bằng 8 đỏ 2 lèo
Bạch định 7 4 có nơi chơi 6 điểm, 3 dịch
Tám đỏ 8 5 có nơi: 7 điểm 4 dịch
Kính tứ chi 12 9 tính bằng 8 đỏ 2 lèo
Lèo 5 2
Tôm 4 1
Hoa rơi cửa phật 20 17 = 10 xuông
Nhà lầu xe hơi hoa rơi cửa phật 30 n/a = 15 xuông
Cá lội sân đình 20 17 = 10 xuông, như cước hoa

[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu chơi gà thì điểm tổng được cộng thêm với số gà * số điểm cho mỗi gà (thường là 5 điểm)
Những (tổ hợp) cước sau được tính gà:

  1. "Ù bòn bạch thủ" hoặc "ù bòn bạch thủ chi"
  2. thập thành, (hoặc) kính tứ chi (tính = 8 đỏ 2 lèo)
  3. Bạch định (nếu chơi gà rộng) hoặc "bạch định tôm" (nếu chơi gà hẹp)
  4. Tám đỏ (gà rộng) hoặc "tám đỏ lèo" (hẹp)
  5. Bạch thủ chi (có nơi không chơi cước này có gà)
  6. "Chì bạch thủ" (2 gà, hoặc 1 gà, tùy làng)
  7. "Chì bạch thủ chi" tính gà như "chì bạch thủ" VÀ "bạch thủ chi"

=> Nếu hô "ù bòn chì bạch thủ bạch thủ chi" thì bị trừ: 1 (ù bòn bạch thủ) + 1 (ù bòn bạch thủ chi) + 2 (chì bạch thủ) + 2 (chì bạch thủ chi) + 1 (bạch thủ chi) = 7 gà! (vỡ mồm:D)

Ăn tiền, báo[sửa | sửa mã nguồn]

Nghỉ ăn tiền[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ù, người ù phải hạ bài cho làng kiểm tra.
Nếu làng phát hiện ra người ù đã phạm lỗi một trong những lỗi sau thì người ù không được ăn tiền:
"ăn treo tranh", "trái vỉ", "chíu được nhưng lại ăn thường", "bỏ ù" (trước đó có thể ù 1 quân nào đó nhưng lại không ù, sau mới ù quân khác).
(Các cụ chúng nó có câu: "Treo tranh, trái vỉ nghỉ ăn tiền")
(Chú ý là những lỗi này, trừ lỗi trái vỉ, cũng như tất cả những lỗi loại A như ở phần Luật đánh bài chỉ bị phát hiện khi làng xem bài).bài ù chinh cửa nhung không hô chính cửa cũng không được ăn tiền

Ù láo, ù báo[sửa | sửa mã nguồn]

Chưa ù mà đã hô ù thì là ù láo
Ù, nhưng trước đó đã phạm lỗi mà không phải là lỗi nghỉ ăn tiền ở trên thì là ù báo
ù láo hoặc ù báo bị phạt = 8 đỏ 2 lèo. ù bạch thủ mà không hô bị đền làng

Báo[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu người chơi phạm một trong các lỗi loại B,C,D ở trên thì làng phát hiện ra ngay. Người đó gọi là bị báo. Khi bị báo, người này không được đánh hay ù nữa (chỉ bốc/ rồi dưới), và chờ đến khi ván kết thúc sẽ phải thay làng trả tiền cho người ù
Hy hữu:
+ người ù lại xướng sai thì (những) người báo không phải trả tiền, nhưng tiền người ù xướng sai chỉ được chia cho những người không báo
+ Có nhiều người báo trong 1 ván: Mỗi người đều mất tiền như là khi chỉ có mình nó báo. Người ù ăn cả

Xướng sai, xướng thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Xướng sai (hoặc thừa) sẽ phải đền tiền cho làng: Đền cho mỗi người bằng số tiền tương ứng với cước mình xướng sai.
Xướng thiếu sẽ chỉ được ăn tiền những cước mà mình đã xướng.

Thứ tự xướng[sửa | sửa mã nguồn]

+ Thông, chì hô trước.
+ Ù “kiểu gì”: Thiên ù, địa ù, chíu ù, ù bòn hô tiếp theo. Chỉ hô 1 từ “ù”, chẳng hạn nếu vừa địa ù, vùa chíu ù thì hô “địa chíu ù”.
+ Ù “có gì”: Có tôm, có lèo, có chíu, có thiên khai, có ăn bòn hô sau cùng.

Tuy nhiên, thường làng không bắt lỗi hô không đúng thứ tự (Khác với trong trò tổ tôm, các cụ bắt hô phải đúng thứ tự, có vần, có điệu! (Có) Kinh!).

Bí ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]