Chủ nghĩa bài Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kết quả từ cuộc thăm dò năm 2013 của BBC Thế giới vụ.
Quan điểm về ảnh hưởng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo quốc gia[1]
Sắp xếp theo tích cực-tiêu cực
Quốc gia được thăm dò Tích cực Tiêu cực Trung lập Tích cực-Tiêu cực
 Nhật Bản 5% 64% 29% -59%
 Đức 13% 67% 20% -54%
 Tây Ban Nha 13% 67% 20% -54%
 Hoa Kỳ 23% 67% 10% -43%
 Pháp 25% 68% 7% -43%
 Hàn Quốc 23% 61% 16% -38%
 Canada 29% 59% 12% -30%
 Thổ Nhĩ Kỳ 32% 53% 15% -21%
 Úc 36% 55% 9% -19%
 México 31% 47% 22% -16%
 Anh Quốc 37% 50% 13% -13%
 Ba Lan 28% 38% 34% -10%
 Hy Lạp 34% 41% 22% -7%
 Ấn Độ 36% 27% 37% 9%
 Nga 42% 24% 34% 18%
 Indonesia 55% 27% 18% 28%
 Peru 53% 24% 23% 29%
 Brasil 54% 24% 22% 30%
 Chile 57% 25% 18% 32%
 Kenya 58% 22% 20% 36%
 Ai Cập 57% 11% 32% 46%
 Ghana 68% 21% 11% 47%
 CHND Trung Hoa 77% 16% 7% 59%
 Nigeria 78% 10% 12% 68%
 Pakistan 81% 6% 13% 75%

Chủ nghĩa bài Trung Quốc hay còn gọi là Mối lo Hán bành trướng (tiếng Anh: Sinophobia, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ: Sinae nghĩa là 'người Trung Quốc' và φόβος, phobos có nghĩa là 'sợ hãi') là một sự sợ hãi hoặc sự ác cảm đối với nước Trung Quốc, người Trung Quốc hoặc văn hóa Trung Quốc.[2] Sự kì thị này thường nhắm vào những người Trung Quốc chiếm thiểu số sống ở các nước ngoài Trung Quốc và càng bị phức tạp hóa lên bởi các tác động của vấn đề nhập cư, vấn đề phát triển bản sắc dân tộc ở các nước láng giềng, sự chênh lệch giàu nghèo, sự sụp đổ hệ thống triều cống trong quá khứ cũng như mối quan hệ giữa dân tộc thiểu số với dân tộc chiếm đa số.

Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Mối lo Hán bành trướng bắt đầu ở Ấn Độ ngay sau chiến tranh giữa 2 nước này vào năm 1962. Gần đây sự cạnh tranh giữa Ấn Độ và Trung Quốc về mặt kinh tế và quân sự cũng như sự tranh chấp lãnh thổ giữa 2 nước, thêm vào đó là việc Trung Quốc ủng hộ Pakistan tại Kasmir đã làm gia tăng sự chống lại Trung Quốc.

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ác cảm với Trung Quốc ở các nước Đông Nam Á bắt nguồn từ vấn đề về kinh tế xã hội. Thương nhân Trung Quốc từ bờ biển của Trung Hoa đại lục và người tị nạn cuộc chiến giữa 2 thị tộc HánHẹ năm 1855 đến 1867 đã di cư khắp các quốc gia Đông Nam Á [cần dẫn nguồn] và cuối cùng chiếm đa số dân số của Singapore, một thiểu số lớn ở Malaysia, Thái Lan, và một số ít (ít hơn 5% tổng dân số) nhóm dân tộc thiểu số ở IndonesiaPhilippines. Với một truyền thống kinh doanh và sự tự lực, đã giúp cho người Trung Quốc phát triển thịnh vượng ở các nước này mặc dù có sự phân biệt đối xử. Điều này cho thấy thái độ trung thành của những người di dân và con cháu của họ, thêm vào đó là mối quan hệ trong các cộng đồng người Trung Quốc rất khắng khít là chất xúc tác gây nên thái độ thù ghét Trung Quốc của người dân bản địa.

Malaysia, Indonesia và Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các quốc gia mà người Trung Quốc chỉ chiếm một số ít nhưng lại gây nên một sự chênh lệch về kinh tế rất đáng kể. Ví dụ, trong năm 1998, người Trung Quốc chỉ làm tăng thêm 1% dân số của Philippines và 3% dân số của Indonesia, nhưng lại kiểm soát đến 40% nền kinh tế tư nhân của Philippines và 70% của nền kinh tế tư nhân Indonesia (các nhà phân tích người Indonesia tin rằng thông cáo này là sai vì hầu hết của cải của Indonesia đã được kiểm soát bởi quân đội)[3]. Tại Malaysia, tỷ lệ sinh thấp ở người Trung Quốc đã làm giảm dân số tương đối của họ từ một nửa xuống còn một phần ba. Một nghiên cứu về Trung Quốc với tên gọi "thiểu số thống trị thị trường" nhấn mạnh rằng "sự thống trị thị trường của người Trung Quốc và sự phẫn uất mãnh liệt của đa số người dân bản địa là đặc trưng của hầu hết các quốc gia hầu ở Đông Nam Á".[4]

Nền kinh tế bất đối xứng này đã kích động cảm tính chống Trung Quốc trong những người nghèo chiếm số đông. Đôi khi thái độ chống Trung Quốc đã chuyển sang hình thức bạo động, chẳng hạn như sự cố ngày 13 tháng 5 năm 1969 tại Malaysia và cuộc bạo loạn Jakarta vào tháng 5 năm 1998 tại Indonesia, làm hơn 2.000 người chết chủ yếu là bị những người nổi loạn đốt cháy đến chết trong một trung tâm mua sắm.[5] Trong thời kỳ thuộc địa, một số nạn diệt chủng đã giết chết hàng chục ngàn người Trung Quốc.[6][7][8][9][10] Trong suốt cuộc tàn sát của người Indonesia vào những năm 1965-66 làm hơn 500.000 người thiệt mạng,[11] những người Trung Quốc bị giết còn tài sản của họ thì bị cướp bóc và đốt cháy, đó là kết quả của tư tưởng phân biệt chủng tộc chống lại người Trung Quốc viện cớ là bởi vì Dipa "Amat" Aidit đã đưa đảng Cộng sản Indonesia (PKI) thân với Trung Quốc.[12][13] Tại Philippines, hàng chục người Trung Quốc bị bắt cóc mỗi năm và có thể bị giết chết mà không cần tiền chuộc - cảnh sát Philippines thường thờ ơ đối với các vấn đề về sắc tộc.[14]

Việc chống Trung Quốc cũng đã được hợp pháp hóa tại một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Luật về chống người Trung Quốc đã có trong hiến pháp của Indonesia cho đến năm 1998.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Do có một lịch sử chiến tranh lâu dài với nước láng giềng phía Bắc này, và trong việc tranh chấp lãnh thổ gần đây ở Hoàng SaTrường Sa, dẫn đến những phản ứng chống lại Trung Quốc của người Việt Nam.[15] Trong khi chính phủ cố gắng để duy trì quan hệ thân thiện với chính phủ Trung Quốc bằng cách kêu gọi giải tán các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và kiềm chế những lời chỉ trích liên quan đến Trung Quốc,[16][17] làn sóng chống Trung Quốc đã tăng vọt vào năm 2007 sau khi Trung Quốc thành lập một chính quyền tại các quần đảo đang tranh chấp,[16][17] và vào năm 2009 khi chính phủ Việt Nam cho phép nhà máy sản xuất nhôm Chinalco của Trung Quốc được quyền khai thác mỏ bauxiteTây Nguyên,[18][19][20] và khi ngư dân Việt Nam đã bị bắt giữ bởi lực lượng an ninh Trung Quốc trong khi tìm kiếm nơi trú ẩn trong các vùng lãnh thổ tranh chấp.[21] Thêm vào đó, ngày 26 tháng 5 năm 2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc cắt đứt dây cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) gần bờ biển Việt Nam đã gây phản ứng bất bình trong cộng đồng người Việt.[22][23][24]

Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 đã dẫn dến vụ nạn kiều trong nhóm người Hoa tại Việt Nam và nhiều người Hoa đã trở thành thuyền nhân phải rời khỏi Việt Nam bằng đường biển. Từ 1978 đến 1979, khoảng 450.000 người Hoa đã trở thành thuyền nhân tị nạn hay bị trục xuất qua Trung Quốc bằng đường bộ.[25]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BBC World Service poll”. BBC. 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ Sinophobic. The American Heritage Dictionary of the English Language, Fourth Edition. Retrieved 2008-08-23.
  3. ^ Chua. pg. 3 & 43.
  4. ^ Chua. (2003). pg. 61.
  5. ^ Malaysia's race rules. The Economist Newspaper Limited (2005-08-25). Requires login.
  6. ^ 明清对待海外华人的不同态度
  7. ^ 海外汉人被屠杀的血泪史大全
  8. ^ 十七﹒八世紀海外華人慘案初探
  9. ^ 东南亚华人遭受的几次屠杀
  10. ^ 南洋华人被大规模屠杀不完全记录
  11. ^ Indonesian academics fight burning of books on 1965 coup, smh.com.au
  12. ^ Vickers (2005), p. 158
  13. ^ BBC News | Analysis|Indonesia: Why ethnic Chinese are afraid
  14. ^ Chua. pg. 1-5.
  15. ^ Martha Ann Overland (16 tháng 4 năm 2009). “In Vietnam, New Fears of a Chinese 'Invasion'”. Time Magazine. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  16. ^ a ă “Biểu tình phản đối Trung Quốc”. 09 Tháng 12 2007. 
  17. ^ a ă “Biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam”. Chủ nhật, 5 tháng 6, 2011. “...Dư luận bức xúc: Năm 2007-2008 đã có một số cuộc biểu tình chống Trung Quốc cũng tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Sau đó hoạt động này bị chính quyền ngăn cản, vì không muốn quan hệ với nước lớn láng giềng bị ảnh hưởng...” 
  18. ^ Agence France Presse (20 tháng 4 năm 2009). “Vietnam's China mining plans spark rare criticism”. AsianOne News. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  19. ^ “Vietnam's nationalist bloggers: Getting if off your chest”. The Economist. 10 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  20. ^ Martha Ann Overland (5 tháng 9 năm 2009). “Vietnam to Its Journalists: Don't Tread on China”. Time Magazine. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  21. ^ Nga Pham (12 tháng 8 năm 2009). “China releases Vietnam fishermen”. BBC News. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  22. ^ “Tàu Trung Quốc ngang ngược xâm phạm lãnh hải Việt Nam”. Thứ sáu, 27/5/2011, 18:30 GMT+7. 
  23. ^ “Việt Nam phản đối TQ vi phạm lãnh hải”. 11:10 GMT - thứ bảy, 28 tháng 5, 2011. 
  24. ^ “Tàu Trung Quốc phá hoại thiết bị PetroVietnam”. 28 tháng 5 năm 2011. 
  25. ^ Griffin, Kevin. Vietnamese. Discover Vancouver.