Cha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong tiếng Việt, cha còn gọi là ba, tía, bố, ba, thầy, thân phụ, phụ thân,... là một danh từ chung chỉ người, cùng cặp phạm trù với mẹ.

Cha và con

Từ nguyên trong tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Đại bộ phận các tên gọi dùng để gọi cha trong tiếng Việt đều bắt nguồn từ tiếng Hán.

Trong các danh xưng, danh xưng "cha" được xem là chuẩn mực trong ngôn ngữ văn chương tiếng Việt, đồng thời cũng là danh xưng được sử dụng cho các loại giấy tờ pháp lý hiện nay. Danh xưng này được xem là bắt nguồn từ âm Hán-Việt cổ của chữ "gia" (耶) hoặc "da" (爺) trong chữ Hán.

Danh xưng "bố" được cho là âm Hán-Việt cổ của chữ "Phụ" (父, bính âm: ). Danh xưng này được dùng phổ biến ở miền Bắc.

Danh xưng "ba" được cho là âm Hán-Việt biến dị của chữ "bả" (爸, bính âm: ). Danh xưng này được dùng phổ biến ở miền Đông Nam Bộ, ít phổ biến hơn ở một số vùng Nam Trung Bộ như Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đà Nẵng, và miền Tây Nam Bộ.

Danh xưng "tía" bắt nguồn từ âm đọc của chữ "đa" (爹, bính âm: diē), ảnh hưởng từ cách gọi của những người Minh Hương miền Nam Trung Quốc, dần dà trở thành danh xưng khá phổ biến tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ Việt Nam. Cách gọi này được xem là thân cận gần gũi nhưng đặc trưng tính thôn quê miền Nam.

Ngoài ra, các danh xưng phiên âm Hán-Việt hiện đại được phụng chiếu theo tư tưởng Nho Học Khổng giáo như "phụ" (父), có ý nghĩa thiêng liêng và đáng kính trọng nhất, hầu hết được dùng với dạng từ ghép như "Thân Phụ" (Người cha thân yêu); "Gia Phụ" (Người cha đáng kính); "Tiên Phụ" (Người cha đã quá cố)... Ngoài ra, còn có một số danh xưng mang tính xã giao trịnh trọng như "Lệnh Tôn" (令尊), thường dùng khi hỏi thăm sức khỏe hay thông tin về người cha của người đối thoại.

Ngoài ra còn có một số biến dị của danh xưng "cha" như "thầy", "cậu"... xuất hiện khá nhiều ở các vùng nông thôn miền Bắc.

Định nghĩa và phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Theo y học, cha là con người trực tiếp cung cấp tinh trùng trong quá trình thụ tinh nhằm tạo ra một cơ thể mới qua quá trình mang thai và sanh nở của người mẹ.

Về xã hội học, một người được gọi là cha của một đứa trẻ khi đứa trẻ đó do vợ của ông ta sinh ra. Người cha có bổn phận bảo vệ và chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục,... con mình theo các quy định pháp luật cũng như bản năng làm cha.

Ngoài ra có nhiều trường hợp xã hội khác mà một người cũng được gọi là cha như:

  • Cha nuôi: chỉ người nuôi nấng, bảo vệ và chăm sóc một đứa trẻ mà không phải là con ruột mình và trong hình thức tự nguyện
  • Cha ghẻ/cha kế: của đứa con dùng chỉ người chồng thứ hai trở đi của người mẹ của đứa con đó
  • Cha đỡ đầu (Thiên Chúa giáo): người đỡ đầu về vấn đề tâm linh và tôn giáo trong cả đời một tín hữu Thiên Chúa giáo.
  • Cha cố (Thiên Chúa giáo): Thường là linh mục
  • Cha chồng, cha vợ: người con dâu/con rể gọi cha của chồng/vợ mình

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn học dân gian Việt Nam, hình ảnh người cha xuất hiện ít hơn người mẹ. Tiêu biểu ta có:

Ca dao[sửa | sửa mã nguồn]

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha thác, gót con lấm bùn ("thác" đồng nghĩa với "qua đời" vì thơ văn nên tránh dùng chữ "chết".)
Đêm đêm thắp ngọn đèn trời
Cầu cho cha Mẹ sống đời với con

...

Tục ngữ, thành ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con hơn cha là nhà có phước
  • Muốn nói ngoa làm cha hãy nói

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]